Kinh Mân Côi – Lời Kinh Truyền Giáo

0

KINH MÂN CÔI – LỜI KINH TRUYỀN GIÁO

Bài  thuyết trình của Anna Lê Phượng, Anna Mỹ Tịnh, Têrêsa Kim Uyên (Thỉnh sinh)

Kính thưa gia đình,

Chắc hẳn trong chúng ta ai cũng đã hơn một lần được chứng kiến cảnh tấp nập của tàu bè cặp bến rồi rời bến ở các vùng biển. Ấn tượng nhất là khi chúng ta được ở trên một con tàu lướt sóng ra khơi.

Cuộc sống của chúng ta cũng thế, trên con thuyền trần gian, ta đang bước lời mời ra khơi luôn đòi hỏi ta phải chấp nhận một cuộc bấp bênh, sóng gió. Chính Đức Maria đã ra khơi khi Sứ Thần xuất hiện, bước chân Mẹ đon đả đi đến với bà Elisabeth, sang Ai cập và đặc biệt là cùng con Mẹ lên đỉnh đồi Canvê. Hành trang của Mẹ là thánh ý Thiên Chúa. Hai tiếng “Xin vâng” giúp Mẹ vượt qua bao giông tố, thử thách. Cũng vậy hành trang của chúng ta không gì khác là Thánh Thể và Kinh Mân Côi. Kinh Mân Côi đã cùng người lữ hành bước đi. Đường đi của người lữ khách không được nghỉ ngơi mà phải tiến bước. Người lữ khách ra đi với lời Kinh Mân Côi thì an tâm vững bước không sợ sóng dập vùi. Người đi truyền giáo muốn trên môi nở nụ hồng dâng Mẹ và tôn vinh Thiên Chúa không điều gì khác ngoài Kinh Mân Côi – lời kinh giúp chúng ta duy trì lòng tôn thờ Thiên Chúa và kính yêu Mẹ.

LỜI KINH GIẢN DỊ

Kinh Mân Côi là lời kinh rất đơn giản, đơn giản nhưng rất sâu xa để chúng ta khao khát và tìm được sự bình an ở đó. Lời kinh Mân Côi âm vang và dễ dàng đi vào lòng người. Lời kinh Mân Côi làm cho bao người gặp  được Chúa hoặc tìm lại niềm tin đã mất. Và việc truyền bá kinh Mân Côi thật dễ. Một em bé còn ngồi trên gối mẹ đã được mẹ dạy cho bập bẹ Kinh Kính Mừng, lớn lên một chút, em bé sẽ  cùng ông bà ngâm nga Kính Mừng Maria.

LỜI KINH DỄ THUỘC

Chuỗi Kinh Mân Côi là Kinh ngắn gọn và dễ thuộc, là một cuốn Thánh Kinh thu gọn. Lời Kinh đọc trong các cộng đoàn nhiều nhất cũng là Kinh Mân Côi. Mỗi lời kinh đọc lên là một âm điệu làm cho cộng đoàn thêm sức sống, càng suy nghĩ lòng càng yêu mến Chúa và Đức Mẹ càng tăng. Khi chúng ta đến với Chúa một cách dễ dàng không phương thế hữu hiệu nào cho bằng đến với Mẹ. Khi đọc Kinh Mân Côi với lòng thiết tha và yêu mến thì có Mẹ hiện diện bên cạnh. Việc đọc Kinh Mân Côi còn là sự chia sẻ với nhau trong tình huynh đệ, yêu thương.

Như chúng ta đã biết, Kinh Mân Côi có hiệu lực rất cao, trong việc truyền giáo cuơng như giữ vững đức tin. Biết bao nhiêu người nhờ Kinh Mân Côi mà được ơn trở lại, ơn chết lành. Mỗi khi ta đọc lên lời kinh Kính Mừng là ta đang được cùng Mẹ đi truyền giáo. Cuộc hành trình truyền giáo ấy được duy trì bền bỉ cũng nhờ lời Kinh Mân Côi. Như một nghệ thuật sống của những người kghôn ngoan, lời Kinh Mân Côi còn làm cho ta đôi cánh bay lên trời dễ dàng.

LỜI KINH GẪN GŨI, BÌNH DÂN

Kinh Mân Côi thật gần gũi với lòng người, dù dân nghèo thất học, đến người tri thức uyên bác cũng thuộc nằm lòng. Và chính vì vậy, một ngày trên thế giới này có đến hàng ngàn phép lạ do Kinh Mân Côi đem lại. Lời kinh thật ý và sâu sắc, mang âm hưởng của lòng yêu thương và sự cảm thông, kết nối tình người trên thế giới. Khi đọc một cách cẩn thận có suy gẫm, lời kinh đem lại nỗi vui mừng và tăng niềm tôn vinh Thiên Chúa, ca ngợi công trình vĩ đại mà Người đã thực hiện nơi Mẹ Maria.

 Đối với chúng ta hôm nay và mọi thời đại, trước cũng như sau, hiệu lực kinh Mân Côi vẫn còn tồn tại và gia tăng ân sủng. Mẹ chúng ta đã đến và kêu mời chúng ta siêng năng lần hạt Mân Côi. Chớ gì trên con tàu ra khơi của các nhà truyền giáo, đặc biệt là các nhà truyền giáo Đaminh  luôn trang bị những chiếc lưới chắc chắn đó là kinh Mân Côi. Và tuyệt vời hơn nữa là: Nếu đã cùng  ra khơi với Mẹ, thì chắc chắn chúng ta sẽ có được nhiều mẻ cá lạ lùng.

Kính thưa gia đình.

Truyền giáo thuộc về bản chất của Giáo Hội. Nếu lúc nào Giáo Hội không còn truyền giáo nữa, Giáo Hội sẽ mất đi căn tính của mình. Chính vì thế, khi bước vào ngàn năm mới của thiên niên kỷ thứ III – thiên niên kỷ của quá nhiều những chênh chao, thách đố ích kỷ và hưởng thụ, Giáo Hội không ngừng kêu gọi con cái mình hãy truyền giáo- hãy ra xa bờ của những an nhàn hưởng thụ để thả lưới bắt cá.

Ý NGHĨA CỦA VIỆC RA KHƠI

Ra khơi là dứt bỏ lại nơi đất liền tất cả những gì an toàn, bảo đảm nhất, chấp nhận sự bấp bênh của sóng gió, bão tố, bao nguy hiểm đang rình rập nơi biển cả.

Ra khơi với mục đích là để bắt cá, làm sao là để bắt được thật nhiều cá? Như vậy đòi hỏi kỹ thuật bắt cá của người ngư phủ phải thật điêu luyện.

Kinh nghiệm này chúng ta không thể quên người ngư phủ lành nghề, đó là Phêrô. Một người luôn gắn liền với biển cả. Theo Tin mừng Lc 5,1-5 có viết:

Bên bờ hồ Ghen-nê-xa-rét. Đức Giêsu thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã đi ra khỏi thuyền và đang giặt lưới. Đức Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simon, và Người xin ông chèo ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông. Giảng xong, Người bảo ông Simon “chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”

Phêrô vâng lời chèo thuyền ra khơi, mặc dù với kinh nghiệm của mình, ông biết lúc nào có cá, lúc nào thì không; với lại trong suốt đêm qua ông có bắt được con nào đâu. Điều này chứng tỏ rằng: ra khơi lần này Phêrô phó thác tất cả cho Chúa và ông chỉ biết thực hiện theo lời  Ngài mà thôi.

RA KHƠI LÀ CHẤP NHẬN MẠO HIỂM

“Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút”. Tiếng mời gọi thiết tha của Đức Giêsu đòi hỏi chúng ta niềm tin tưởng, phó thác vào Thiên Chúa, rời bỏ nơi cũ, nơi mà ta đang sống với nề nếp, tiện nghi… để tiếp nhận một lối sống mới, môi trường mới, con người mà chẳng mấy ai ưa.

Trước lời mời gọi của Đức Giêsu “chèo  chỗ nước sâu mà thả lưới”, Chúa muốn chúng ta chấp nhận từ bỏ tất cả để tiếp nhận cái phiêu lưu, mạo hiểm của sóng gió nơi biển cả phó thác cho Ngài cách thiệt để hơn “chèo ra nơi nước sâu” càng đòi hòi hỏi chúng ta chọn Chúa làm điểm an toàn nhất, Ngài lèo lái con thuyền, còn chúng ta thì cắm neo đời ta vào Ngài để “mạnh dạn vung tay quăng chài bắt cá, dù biển mênh mông và có nhương cơn giông bất ngờ ập đến”.

Thánh Phaolô đã nhận ra điều ấy và sớm trở thành “ ngư phủ” giữa biển đời, Ngài không ngừng mạnh dạn quảng báo Tin Mừng mà còn rất mạo hiểm. Ngài thấy được sự cấp thiết của việc đem Lời Chúa đến cho mọi người, nhất là dân ngoại.

Trong thời đại ngày nay, Đức Thánh Cha Gioan Phao Lô II, lúc khởi đầu thiên niên kỷ đã kêu gọi “ chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới”. Với cương vị chủ chiên. thấy được sự cấp thiết rõ ràng nên Ngài mời gọi ta theo gương Chúa Giêsu. Thách thức và mở rộng cõi lòng, chữa lành vết thương của tội lỗi và tạo nên sự hiệp thông đích thực trong đời sống (Thông điệp Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II) .

Vâng! thưa gia đình.

Có lẽ ngày hôm nay, hơn bao giờ hết, chúng ta phải nghe theo lời đề nghị của Chúa Giêsu là  “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới”. Bởi chỉ nơi nước sâu mới tách chúng ta ra khỏi nhương bám víu, cậy dựa, để Chúa hoàn toàn điều khiển công việc chài lưới của chúng ta, và nếu có bàn tay Chúa ở đó, chúng ta còn sợ gì thất bại. Đức Cố Tổng Giám Mục Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi – Đấng cải tổ Dòng chúng ta đã xác tín điều này hơn ai hết khi chọn cho mình khẩu hiệu “Vâng lời Thầy, con xin thả lưới” và quả thật sự vâng lời này của Ngài đã đem đến cho Giáo Hội Việt Nam biết bao thành quả. Còn chúng ta th́ sao? Thưa gia đình: con hy vọng mỗi chúng ta sẽ thực thi sứ mạng thuyền giáo của Dòng theo lời đề nghị của Chúa.

THỰC TẾ CỦA VIỆC TRUYỀN GIÁO

Thưa gia  đình!

Gia đình vừa nghe chia sẻ về đề tài ra khơi. Vâng, nhờ các cuộc ra khơi đến tận chỗ sâu và không quản ngại phong ba bão táp, mà các tay chài lưới chuyên nghiệp của Giáo Hội đã thu được những mẻ cá tuyệt vời. Cho đến ngày nay số người theo đạo Thiên Chúa trên thế giới khoảng 1.000.050.000 người riêng Việt Nam có khoảng 5.250.000 người. Để có được con số như vậy không phải là đơn giản, các vị thừa sai của chúng ta đã đổ không biết bao nhiêu máu  đào, đổi mất bao nhiêu mạng sống. Các Ngài đã trải qua biết bao khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua được. Nếu gia đình đọc quyển hồi ký của Linh Mục Douria trong quyển “Dân  Làng Hồ”, mới cảm thấy được thế nào là sự gan dạ của những tay ngư phủ “lưới  người” này.

Linh mục thừa sai P.Douria Bore sinh Bricos miền tây nam nước Pháp, Ngài được phái sang địa phận Đàng Trong (Trung Bộ Việt Nam) để truyền giáo cho các đồng bào thượng, lưu trú tại đây. Vì việc đem Lời Chúa đến cho mọi người còn gặp khó khăn do sự bắt bớ dữ dội của Triều đình nhà Nguyễn thời bấy giờ nên Ngài cùng các vị thừa sai phải sống giữa rừng thiêng nước độc, chịu mọi hiểm nguy, thú dữ, bệnh tật với cảnh cô đơn, thiếu thốn cùng cực. Ngài đã đứng vững 30 năm trên miền thượng du này trong khi các vị thừa sai đồng lưu với Ngài không ai sống nổi 10 năm, có vị chỉ sau vài tuần đặt chân lên đất Cao Nguyên đã lìa trần vì không cḥu nổi hung thần sốt rét rừng. Có một lần được sai đi truyền giáo ở An Sơn. Ngài cùng cha Combes đang lênh đênh trên một chiếc ghe thì bị cướp biển Trung Hoa chận lại, Ngài cầu xin Đức Mẹ cứu giúp nên đã không mất mạng, nhưng bọn cướp lấy hết đồ đạc rồi chém Ngài một nhát ở vai.

Khó khăn hiểm nguy không làm các Ngài nhụt chí. Khi đến truyền giáo ở một làng thượng, nhờ may mắn quen được ông trưởng làng, các Ngài trú ngụ ở đó nhưng gian khổ luôn rình rập các Ngài. Số là có một anh chàng ở đấy, anh này rất lười biếng, hay đến với các Ngài và mua giùm gạo  nên anh ta có một ít lợi lộc vào đó. Biết các Ngài sẽ đến các làng khác, sợ không được sống nhờ nữa nên anh ta đến các làng khác trước và vu rằng “Những ông này là kẻ sa đoạ, chuyên bắt cóc phụ nữ, có phép thuật, nếu ai chống đối thì sẽ chết”. Từ đó, các Ngài bị người ta ghê tởm, chống đối, sợ sệt rồi xua đuổi nên phải sống trong rừng. Nhưng rồi với chính tình thương và thái độ sống của các Ngài làm họ dần thay đổi, mối tương giao ngày càng tốt hơn, một số người xin rửa tội. Sau này anh chàng kia cũng đến nhận lỗi và xin theo đạo. Đó là ngôi làng đầu tiên của miền cao nguyên được truyền giáo, các Ngài đã lấy tên là “Xứ truyền giáo Đức Bà cứu giải”. Niềm hạnh phúc lớn nhất của các vị truyền giáo là đem nhiều đến với Chúa.

Thưa gia đình, nói đến truyền giáo thì không thể không nhắc đến các vị thuyết giáo Dòng Đa Minh. Con được xin kể lại tấm gương truyền giáo mà con lấy ra trong quyển “Gương Các Thánh”. Đó là Đức Cha Giuse An, sinh năm 1818 Tây Ban Nha, vì mến mộ cuộc truyền giáo ở xa nên đã xin vào Dòng Thuyết Giáo Đaminh. Sau khi được thụ phong Linh Mục, Ngài đến Việt Nam giảng đạo ở địa phận đông Đàng Ngoài, lấy tên là An. Năm 1850 được bổ nhiệm làm Giám Mục địa phận, một mình gánh lấy trách nhiệm truyền giáo. Thời đó, vua Tự Đức ra chiếu chỉ cấm đạo gắt gao nhưng nhờ tài đức của Ngài, việc giảng dạy ngày càng kết quả. Số người theo đạo ngày càng đông. Chỉ trong năm 1852 số người rửa tội lên đến 28.000 người. Năm 1854 Ngài bị bắt, bị tra tấn và tống ngục. Nhiều lần bị bắt ép bước qua Thánh Giá nhưng Ngài luôn can đảm chống đối và bị kết án tử hình. Trước khi ra pháp trường, Ngài đưa cho tên chỉ huy 30 quan tiền và nói “Xin ông nhận lấy số tiền này và ra lệnh cho lý hình chém tôi ba nhát chứ đừng chém một nhát. Nhát thứ nhất để tôi tạ ơn Chúa, nhát thứ hai để tôi đền ơn cha mẹ, nhát thứ ba để nêu gương cho bổn đạo tôi trung thành sống chết theo Chúa”.

Thưa gia đình! Công cuộc truyền giáo không chỉ dừng lại ở thế kỷ 18 mà cho đến ngày nay việc truyền giáo vẫn đang được phát triển. Nhiều vị truyền giáo vẫn tiếp tục tung lưới, đặc biệt là các tu sĩ. Riêng chị em chúng con chưa một lần ra khơi, chưa một lần truyền giáo. Đó là việc không mấy đơn giản nên  chúng con càng thấy cảm phục các Dì qua những kinh nghiệm và những buồn vui mà các Dì viết lại qua các câu chuyện về truyền giáo . Chẳng hạn như câu chuyện của ông Tư Sâm ở Long Thạnh, một người lương dân dữ dằn và khó tính, ông đuổi tất cả những ai có ý đ̣nh truyền giáo cho ông, vậy mà các Dì vẫn không quản ngại, dù ngày đầu tiên đến thăm bị ông la cho một trận nhưng các Dì vẫn nhẫn nại. Vợ ông kể lại, bà đã nhờ người canh  chừng  vì ông tuyên bố là sẽ đánh luôn cả Dì, nếu Dì đến nhà ông truyền giáo. Nhưng với thái độ ôn hoà, kiên nhẫn và ơn Chúa nên dần dần các Dì đã làm cho ông được cảm hoá và xin rửa tội.

Vâng, thưa gia đình, đây chỉ là một trong những  câu chuỵên truyền giáo của các Dì. Qua những kinh nghiệm đó chúng con tự ý thức rằng khả năng của mình còn hạn hẹp nhưng cũng có thể truyền giáo ngay trong môi trường sống của mình bằng cách sống kỷ luật, yêu thương cùng với sự chăm chỉ học tập, đặc biệt là kết hợp với Chúa để chúng con có thể tiếp bước các Dì trên con đường truyền giáo sau này.

 

Comments are closed.