Đức tin trong dân Israel và trong cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi

0

ĐỨC TIN TRONG DÂN ISRAEL

VÀ TRONG CỘNG ĐOÀN KITÔ HỮU TIÊN KHỞI

Công đồng Vatican II với Hiến chế Dei Verbum chống lại một quan niệm lệch lạc về đức tin khi cho rằng đức tin chỉ đơn thuần là sự chấp thuận mặc khải của Thiên Chúa bằng khối óc. Công đồng đã trình bày lập trường của mình như sau:

“{Con người} phải bày tỏ sự vâng phục của đức tin đối với Thiên Chúa mặc khải. Nhờ sự vâng phục đó con người phó thác toàn thân cho Thiên Chúa một cách tự do, dâng lên Thiên Chúa mặc khải sự  quy phục hoàn toàn của lý trí và ý chí, đồng thời sẵn lòng chấp nhận mặc khải Ngài ban cho” (Dei Verbum 5).

Đức tin, theo Công đồng, như là sự gắn bó đích thân, đầy tự do, có tính hiện sinh của toàn thể năng lực con người vào Thiên Chúa mặc khải. Theo cùng đường hướng của Công đồng là khôi phục lại quan niệm đích thực về đức tin, chúng ta sẽ thấy đức tin được quan niệm và sống trong các giai đoạn của lịch sử cứu độ cứu độ.

Lần theo dấu chân của những người có đức tin trổi vượt trong Kinh Thánh, trong bài viết này, chúng ta sẽ nói về đức tin chủ thể, từ ngữ mà các nhà thần học gọi như thế để chỉ đến thái độ của người tín hữu, phân biệt với đối tượng của đức tin, nghĩa là những sự kiện và chân lý được Chúa mặc khải. Đức tin chủ thể sẽ được nhìn dưới nhiều nhãn quan của các tác giả Kinh Thánh, từ Cựu ước sang Tân ước. Đặc biệt là trong Tân ước, khởi đi từ mầu nhiệm Vượt Qua, đức tin mang tính Kitô học tập trung nơi con người của Đức Kitô, Người dần dần hiện thực những lời loan báo của các ngôn sứ và trở thành đối tượng của đức tin, mà người Kitô hữu phải dành cho Người lòng tin tưởng, vâng phục, gắn bó và tuyên tín. Tuy nhiên, đức tin luôn là một ơn ban đến từ Thiên Chúa dành cho những ai khao khát kiếm tìm.

I. Hạn từ “đức tin” theo Thánh Kinh

Việc nghiên cứu các từ ngữ trong Thánh Kinh nói về đức tin sẽ cống hiến cho ta một cái nhìn bao quát về bản chất của đức tin cùng với những đoạn Kinh Thánh khác nhau, đồng thời cho thấy đức tin trong chiều kích nguyên nghĩa của nó là tin tưởng, nhận biết và vâng phục.

Khi nói về đức tin, Cựu ước tiếng Hipri không dùng một từ duy nhất nhưng dùng nhóm từ và nhiều lối diễn tả khác: batah (tin cậy) tiêu biểu trong các lời cầu nguyện và thánh thi (Tv 13, 6; 25, 2; 26,1), hasah (trú ẩn) như việc tìm kiếm sự che chở và bảo vệ của một cá nhân (Tv 64, 11; Is 57, 13) hoặc là của cộng đoàn (Tv 2, 12; 5, 12; 17, 7; 18, 31), hakah (chờ đợi), jahal (trông chờ) với qawah (hi vọng). Trong số đó, từ được Kinh thánh quan tâm hơn là aman (có nghĩa là vững vàng), trong dạng hifil chỉ đến nguyên nhân là he’emin (có nghĩa là tin, tin tưởng, làm cho cứng rắn), chỉ đến một ai đó gắn bó cách mạnh mẽ vào một cái gì và chỗ dựa thật cứng cáp, chắc chắn và an toàn. Từ này xuất hiện 52 lần trong Cựu ước.

Nếu từ này đi kèm theo những thành ngữ khác, xét về mặt hình thức, thì nó có nghĩa là tin tưởng, hy vọng, kính sợ, vâng phục. Nhưng nếu nói chung thì chỉ tới tương quan của con người với Thiên Chúa. Trong tương quan này, về phía Thiên Chúa nó nhấn mạnh đến ý muốn của Ngài là đòi hỏi nơi con người những thực hành luân lý; và về phía con người, họ bị Thiên Chúa nắm bắt và ban cho họ tự do để quyết định cuộc đời mình cho Người. Theo Kinh Thánh, khi Thiên Chúa can thiệp vào cuộc sống của nhân vật nào đó hay là đi vào lịch sử của cộng đoàn dân được tuyển chọn, Ngài luôn đòi hỏi lời đáp trả đích thân của mỗi người.

Tính cách cá nhân của lời đáp trả này còn được diễn tả trong Kinh Thánh bằng một từ khác là batah (=chắc chắn, tín tưởng) nhấn mạnh đến sự chắc chắn và sự tin tưởng tín nhiệm.

Trong Tân ước, khái niệm “đức tin” xuất hiện rất thường xuyên và rõ ràng hơn so với Cựu ước, tập trung vào một từ duy nhất, được diễn tả trong từ pistis (danh từ), pisteuein (động từ), có thể nói bắt đầu từ truyền thống của bản LXX. Từ ngữ này trong thế giới Hy Lạp có nguyên nghĩa là “tin tưởng”, rồi về sau nhạt dần và chuyển sang nghĩa “vâng phục”, nhưng nó không nhất thiết hay ưu tiên cho tính tôn giáo.

Theo hạn từ này thì đức tin, trong ý nghĩa toàn bộ của nó, chỉ đến thái độ của con người buông mình vào Đấng Duy nhất mà nó không thể thất vọng, dựa trên cái mà nó thấy an toàn chắc chắn nhất, bởi vì Người ở trung tâm của lịch sử nhân loại, là nguồn gốc phát sinh mọi loài, là đích điểm mà mọi biến cố phải quy hướng về Người. Hơn nữa, đó là thái độ phó thác hoàn toàn ở nơi Thiên Chúa duy nhất, đáng được con người dâng hiến vô hạn. Tuy nhiên thái độ này không thụ động nhưng lăn xả, hy vọng và chờ đợi: nó được nhắc đi nhắc lại cả trăm lần trong Thánh vịnh: “Các bạn hãy hi vọng vào Chúa” (Tv 4, 6); “Con đã tin tưởng nơi Ngài” (Tv 25, 2); “Con tin tưởng nơi Ngài, lạy Chúa” (Tv 55, 23).

Đức tin đã biểu trưng một cái gì đó khác với khoa học: không phải tin vào cái gì nhưng là tin vào Ai Đó. Thật vậy đức tin thuộc về lãnh vực của cuộc sống hiện tại, là hướng về tương lai mà Thiên Chúa hứa ban và chuẩn bị, thậm chí vượt cả bên kia của cái chết, mỗi người đều hy vọng và chờ đợi tương lai muôn thuở.

II. Những khuôn mẫu của đức tin trong Kinh Thánh

Khi kết cấu những giai đoạn của lịch sử cứu độ giữa Thiên Chúa và các thành viên trong dân Chúa được tuyển chọn, Kinh thánh yêu thích mô tả đức tin nhập thể trong một số nhân vật tiêu biểu để họ trở thành mẫu mực cho các thế hệ hiện tại và tương lai.

1. Một số nhân vật quan trọng trong lịch sử Israel

   Đức Kitô: “Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin” (Dt 12, 2)

Thư Do Thái là những bài giảng và suy tư dành cho cộng đoàn Kitô hữu gốc Do thái đang bị thử thách phải từ bỏ niềm tin nơi Đức Kitô. Trong thư này, nhà giảng thuyết khuyến dụ mạnh mẽ anh em Kitô hữu hãy sống đức tin mà họ đã lãnh nhận trong ngày chịu phép Thanh tẩy cách triển nở, hãy trung thành với Thiên Chúa của lời hứa và thúc đẩy họ thực thi bác ái bằng các việc từ thiện và những buổi họp cộng đoàn (10,22-25). Thật vậy, để đạt được lời Chúa hứa Đức Kitô sẽ đến trong tương lai, các tín hữu cần phải có đức tin và bền đỗ đến cùng (10, 36-37), tác giả thư Do Thái triển khai đề tài đức tin và tiếp tục lặp lại trong chương 11.

Trước hết, tác gỉa định nghĩa đức tin và khơi dậy lại tất cả kinh nghiệm đức tin trong lịch sử cứu độ của Israel.

“Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy” (Dt 11, 1)

Sau nhà giảng thuyết hùng hồn ca ngợi đức tin của các bậc tiền nhân nhằm mục đích đề ra những mẫu gương sống động cho các thính giả. Tác giả biểu dương đức tin của Aben, Khanốc, Nôê và Ápraham (tác giả dừng lâu hơn trên điểm này), đức tin của Sara, Isaác, Esau, Giacóp, Môsê (từ lúc ông chào đời, lớn lên, bỏ Ai Cập, cho đến khi dẫn dân Chúa vượt Biển Đỏ), đức tin của Giosuê và Rakháp. Trong chương này, tác giả đặc biệt thấy chân dung và bức tranh của các nhân vật, tất cả đều hướng về Thiên Chúa và về lời hứa của Ngài: xét ở bề mặt của bức phông, họ đã sở hữu được Đất hứa, nhưng nền của bức phông đó chính là Nước Trời. Họ đã tin vào lời Chúa hứa và coi những lời hứa này là điều tuyệt hảo, và vì thế họ chờ đợi với đầy lòng tín thác, trước khi thấy những lời hứa ấy được thực hiện. Họ đã từ bỏ mọi điều tốt đẹp khác và đón nhận tất cả liều lĩnh, hiểm nguy để chiếm cho được niềm hy vọng.

Kế đến, tác giả kể tên Ghít ôn, Barắc, Samsôn, Gíptác, Đavít, Samuen, dừng lại lâu hơn trên những đau khổ truân chuyên của các ngôn sứ, và nhìn những đau khổ ấy dưới ánh sáng của đức tin (Dt 11, 32-40). Nơi họ, xem ra tác giả phác hoạ những điều đã và đang diễn ra, hoặc sẽ có thể xảy đến cho cộng đoàn tín hữu của ông.

Trên dấu vết của “ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh” (Dt 12, 1), vị giảng thuyết chuyển sang đề tài kiên trì là hoa trái của đức tin-hi vọng: trong đó thính giả phải hướng mắt về Đức Giêsu là “Đấng khai mở và kiện toàn lòng tin” (12, 2), nghĩa là hướng về Đấng hướng dẫn và đi đầu trong đức tin của chúng ta cho tới lúc đạt được đức tin hoàn hảo ở trên trời. Đức Giêsu đã đạt tới điều đó bởi vì Người đã kiên trì cam chịu đến độ trao hiến toàn thân mình trên thập giá; dựa vào mẫu gương của Người, các tín hữu phải kiên tâm trong cơn quẫn bách buồn phiền. Thiên Chúa đã sai Đức Kitô đến là để giáo dục và sửa dạy họ vì lợi ích của họ.

Tóm lại, theo tác giả thư Do Thái, đức tin là thái độ định hướng mạnh mẽ và chắc chắn của người Kitô hữu về tương lai mà Chúa đã hứa. Chính các bậc tổ tiên và các ngôn sứ trong dân Israel đã sống, và chính Đức Kitô là khuôn mẫu đức tin tuyệt hảo cho họ.

2. Ápraham: Tổ phụ của những người tin

Tác giả thư Do Thái và hơn nữa cả thánh Phaolô (Gl 3, 6-14; Rm 4, 1-25), chính Đức Giêsu (Gv 8, 56) và truyền thống Do thái (Hc 44, 19-21) đã thấy nơi Ápraham là người Cha và gương mẫu đầu tiên của đức tin trong Do Thái giáo. Thật vậy, trong truyền thống cổ của Israel biên soạn và hình thành nên sách Sáng Thế như ngày nay (chương 12-25), hình ảnh của Ápraham, tổ phụ dân tộc Do Thái được trình bày là con người khuôn thước nhất, mẫu mực nhất, dưới khía cạnh đức tin.

Ápraham là người du mục của miền núi Arập đã đáp trả lời mời gọi của Chúa và vào cuộc đối thoại được khởi xướng từ lòng nhân lành thuần túy của Thiên Chúa đối với ông. Thiên Chúa đích thực đã tỏ mình ra cho ông, đã nói với ông và đã đề nghị ông thay đổi cuộc sống và não trạng. Người đặt ông vào chương trình cứu độ cách bất ngờ, không mong đợi: Người mời gọi ông từ bỏ đất đai, họ hàng và lên đường mà không biết hướng đi tới một miền đất mới; Người mời gọi ông tin vào lời hứa của Người cho dù lời hứa đó, theo cái nhìn của con người, hoàn toàn trái ngược với niềm tin và hy vọng sẽ thành tựu:

1) Ông sẽ sở hữu miền đất Canaan mà ở đó có một dân tộc đông đúc, hùng mạnh đang cư ngụ;

2) cụ thể hơn, ông sẽ có một người con trong khi ông đã cao niên và vợ ông, bà Sara vừa son sẻ và cũng cao niên;

3) và qua người con này, hậu duệ của ông sẽ nên vĩ đại và trở nên nguồn chúc phúc cho các dân tộc trên mặt đất (St 12, 1-3).

Ápraham đã quảng đại và chấp nhận lên đường. Ông sẵn sàng đón lấy những đòi hỏi phải hy sinh, và sống trong niềm hy vọng chắc chắn vào lời Chúa hứa sẽ được thực hiện, cho dù hứa hẹn ấy nghịch lại với mọi niềm hi vọng phàm nhân (St 13, 14-18; 15, 1-20). Ápraham đã “tin vào Chúa và Người đã kể ông là người công chính” (St 15, 6). Để thưởng cho sự trung thành đức tin, Người làm cho ông nên công chính, hài lòng về ông, gọi ông là bạn của Người, thiết lập giao ước với ông, biểu hiện bằng phép cắt bì. Với giao ước này, Thiên Chúa luôn ghi nhớ thực hiện lời hứa với Ápraham và con cháu ông đến ngàn thu. Ngược lại, Người đòi hỏi nơi ông lòng phụng sự trung thành trọn vẹn (St 15, 8-19).

Tuy nhiên Ápraham cũng có những giây phút yếu đuối, mệt mỏi, bị cám dỗ và chao đảo. Vì lời hứa được sở hữu đất đai và có con nơi người vợ Sara hiện thực chậm trễ, ông đã tìm nơi trú ẩn tại nước Aicập (St 12, 10-20), định đoạt quyền thừa hưởng gia tài cho người tôi tớ Êliede (St 15, 1-3) và tìm kiếm kẻ thừa kế nơi người con của nữ tì Haga (chương 16).

Cuối cùng Ápraham cũng có một người con của lời hứa với bà Sara sau 25 năm trung kiên chờ đợi, đó là Isaác (chương 21). Tuy nhiên vừa lớn lên, ông thâm tín rằng Thiên Chúa muốn ông sát tế người con duy nhất này dâng lên Người theo phong tục của các dân tộc láng giềng (chương 22): đây là thử thách tột đỉnh của đức tin và lòng vâng phục củaÁpraham. Ápraham là người kính sợ Chúa (St 22, 12: động từ sợ theo ngôn ngữ Do thái đồng nghĩa với từ tin). Ông sẵn sàng vâng lệnh Thiên Chúa, mà đối với con người, nó hoàn toàn phi lý: ông có niềm tin vững mạnh rằng Thiên Chúa sẽ tiếp tục giữ lời hứa, dù người con duy nhất của ông, đứa con của lời hứa sẽ bị giết, Thiên Chúa có thể làm cho nó sống lại từ cõi chết (Dt 11,17-19). Để đánh đổi lòng trung thành tuyệt đối của Ápraham, Thiên Chúa sẵn sàng dấn thân cho một lời thề nguyền là Người luôn trung thành với giao ước mà Người đã kí kết. Đồng thời Người cũng làm cho đức tin của Ápraham trở nên trưởng thành: Người thay thế Isaác bằng một con cừu đực và làm cho ông hiểu rằng Người không ưa thích hy lễ con người đang thịnh hành lúc bấy giờ mà các dân tộc láng giềng dâng hiến cho thần linh của họ. Tin vào Thiên Chúa không phải là một sự huỷ hoại nhưng là để nâng cao giá trị của con người.

Như vậy Ápraham đã vượt qua thử thách. Ông yêu quý Thiên Chúa hơn là chính người con của mình. “Thiên Chúa đã tìm thấy con người có khả năng tin vào lời Người không phải vì những lợi nhuận đến từ Người, nhưng chỉ vì Người có giá trị tuyệt hảo. Ápraham đã tin và yêu Người không phải vì ích lợi riêng tư, nhưng bởi vì ông nhận biết quyền tối thượng, quyền Chúa tể tuyệt đối và lòng nhân hậu của Người. Ápraham đã đi vào con đường thần bí viên mãn của đức tin, của lòng từ bi vô vị lợi và của lòng vâng phục anh hùng đối với Thiên Chúa” (S. Virgulin)

3. Maria: “Người đã tin” (Lc 1, 45)

Theo tác giả Tin Mừng Luca, Tân ước bắt đầu với hành vi đức tin của một người nữ mở ra với Thiên Chúa và với tương lai của Người, lớn hơn hành vi đức tin của Ápraham: đó là tiếng “xin vâng” đầy quảng đại và tin tưởng của Đức Maria đối với sứ thần của Thiên Chúa. Ông Dacaria, cha của vị Tiền hô, ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước đã tỏ ra là người không tin vào lời loan báo của Thiên Chúa đến với ông, là ông sẽ có một người con với bà vợ Êlisabet, cả hai đều đã thâm niên. Ông đã bị câm và không thể công bố cho dân chúng đang tụ họp trước cửa đền thờ về điều kỳ diệu của Chúa xảy ra cho ông (Lc 1, 18-22). Trái lại, Đức Maria, đứng trước lời loan báo càng không thể tin hơn, là Mẹ sẽ làm mẹ của Đấng Cứu thế thuộc dòng dõi vua Đavít và là Con của Thiên Chúa tối cao, nhờ bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần, Mẹ đã nói lời vâng và quảng đại mở ra với Thánh ý (Lc 1, 31-38). Vì vậy Mẹ có thể cất tiếng hát lên bài ca Magnificat, kể ra những việc diệu kỳ của Thiên Chúa đã làm cho Mẹ và cho những kẻ bé mọn, khi đứng trước bà Êlisabet. Bà liền đáp lời chào của Mẹ với lời ca ngợi Mẹ là

“Người đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện Lời Người” (Lc 1, 45).

Sự ưng thuận của Đức Maria đối với sứ điệp của thiên thần Gabriel không phải là một hành vi đơn thuần giản dị, nhưng nó diễn tả thái độ Mẹ liên lỉ làm cho đức tin ấy lớn lên, tăng trưởng suốt cả cuộc đời. Thật vậy, theo Luca, Đức Maria không biết rõ định mệnh của mình và của Con mình; chỉ sau những mặc khải liên tiếp và khi những sự kiện cứu độ diễn ra thì Mẹ mới dần dần hiểu ra. Khi sứ thần Gabriel cất tiếng chào, Mẹ bối rối trước một điều không trông chờ đã xảy ra; khi Gabriel công bố chức vị làm Mẹ Đấng thiên sai và Mẹ Thiên Chúa, Mẹ xin được giải thích điều chưa tỏ tường (Lc 1, 34). Sau lời giải thích đó, Mẹ hiểu rằng Mẹ sẽ làm mẹ đồng trinh của Đấng thiên sai nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần (Lc 1, 35); Mẹ “lưu giữ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2, 19), nghiền ngẫm những sự kiện lạ lùng đã xảy ra trong ngày Đức Giêsu sinh ra và những lời của các mục đồng. Mẹ cũng lập lại thái độ này sau khi cùng Giuse tìm thấy trẻ Giêsu tại đền thờ Giêrusalem khi Mẹ không hiểu sự kiện và lời Đức Giêsu đã nói với các Ngài (Lc 2, 51). Maria đã lưu giữ trong lòng tất cả sự kiện và sứ điệp ấy để dần dần hiểu ra, để đào sâu ý nghĩa, để chuyển thành cuộc sống và để truyền lại những điều ấy cho các môn đệ đầu tiên trong phòng tiệc ly (Cv 1, 14): Người được chúc phúc vì làm mẹ thể lý của Đức Giêsu, nhưng Người diễm phúc hơn vì là người đầu tiên trong số những người đã sống kề cận với Đức Giêsu “lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8, 21). Tuy nhiên, Chúa không đòi hỏi đức Maria tin cách mù quáng vào những thực tại mà Chúa can thiệp trong cuộc đời của Mẹ: thiên sứ Gabriel đã ban cho Mẹ một dấu chỉ bên ngoài để minh xác cho cuộc hiện ra và sứ mạng của mình (Lc 1, 36). Rồi sau đó Maria vội vã lên đường để nắm bắt và tiếp nhận dấu chỉ đó với một ánh sáng mới, để Mẹ có thể tín thác và dâng lên Thiên Chúa khúc ca cảm tạ trước mặt họ hàng và những người quen biết (1, 39-56).

III.  Đức tin trong những giai đoạn của lịch sử cứu độ

Khái niệm về đức tin được sống và áp dụng cụ thể trong từng biến cố lịch sử cứu độ. Đức tin trong dân Israel và trong cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi mang những sắc thái khác nhau, tuỳ theo hoàn cảnh văn hóa và những biến chuyển của lịch sử. Vì thế khi trình bày về đức tin chủ thể trong những chặng của cả dòng lịch sử, chúng ta sẽ dừng lại những điểm mốc quan trọng dựa vào Kinh Thánh: trong thời Cựu ước, nổi bật nhất là biến cố thiết lập dân riêng của Chúa qua giao ước trên núi Sinai và trải qua những sứ điệp của các ngôn sứ, đặc biệt là của ngôn sứ Isaia. Tiến vào thời Tân ước, biến cố Đức Giêsu Kitô đánh dấu một bước chuyển quan trọng và dứt khoát đòi hỏi con người phải có thái độ mới để tin vào Ngài, chúng ta sẽ dựa vào các Tin mừng và những bài bút chiến của các tông đồ, Phaolô và Giacôbê, các bản văn sẽ nhấn mạnh đến đức tin dưới khía cạnh là quà tặng nhưng không từ phía Thiên Chúa qua Đức Kitô, và dưới tính đáp trả và thực hành từ phía con người.

1. Đức tin của dân Israel tại núi Sinai

Nếu đức tin là sự tin cậy vào Thiên Chúa trong trường hợp của Ápraham (St 15, 6), là chấp nhận lời của Chúa dựa vào kinh nghiệm cá nhân với Giavê như trường hợp của Môsê (Xh 4, 31; 4, 1), thì đức tin của dân Chúa tại núi Sinai là thái độ phức tạp bao gồm lòng kính sợ, tôn trọng, ngạc nhiên, tin cậy, vâng phục của dân Chúa trước những dấu chỉ ơn cứu độ.

Thật vậy, sau những kỳ công và quyền năng mà Thiên Chúa đã thực hiện cho dân Israel, từ ách nô lệ Ai cập chuyển sang tình trạng tự do, dân Israel đã “tin vào Thiên Chúa và vào Môsê tôi tớ của Người” (Xh 14, 31). Sau đó ít lâu, dưới chân núi Sinai, Thiên Chúa đã đề xướng với dân Người một giao ước phát sinh từ lòng thương xót và quảng đại cho đi nhưng không của Người. Israel đã hứa “lắng nghe tiếng Chúa” (Xh 19, 5; 19,8). Ở đây lắng nghe Chúa thì đồng nghĩa với tin vào Chúa (Đnl 9, 23; Tv 106, 24tt). Vì thế lời cam kết đáp trả giao ước sẽ thực hiện mọi điều Thiên Chúa dạy đã là hành vi và thái độ đích thực của đức tin rồi. Từ đây thân phận của Israel gắn với lời “Amen” của đức tin để đáp lại sự ưu ái mà Thiên Chúa đã làm cho họ trở thành dân được tuyển chọn, nhờ giao ước Sinai.

2. Đức tin trong lời mời gọi của các ngôn sứ

Đức tin của Israel luôn bị rơi vào cơn khủng hoảng trong suốt dòng lịch sử. Các ngôn sứ đã tố cáo ba phản bội của dân đối với giao ước thánh:

1) Việc thờ ngẫu tượng (Hs 2, 4-15; Gr 2, 5-13) làm cho đức tin của họ vào Giavê hoá ra không; sự phản bội này tương tự như tội ngoại tình;

2) Việc phụng tự vụ hình thức (Am 5, 21-24; Gr 7, 21-28) làm cho lòng trung thành của họ chỉ là thuần tuý bên ngoài và không nhập thế;

3) Việc tìm kiếm ơn giải thoát bằng vũ trang (Hs 1, 7; Is 31, 1-3) làm triệt tiêu lòng tín thác của họ vào một Thiên Chúa là Đấng cứu độ duy nhất.

Trong số các ngôn sứ, Isaia là ngôn sứ đi đầu của đức tin.

Vào thời chiến tranh của vua Đamát và vua Samaria chống lại vua Akhát của Giuđa, triều đại quân chủ Đavít ở trong tình thế vô cùng nguy hiểm, Isaia mời gọi vua tin vào Thiên Chúa vì vua đã quyết định nại đến khế ước chính trị của Assiry. Thay vào đó, ngôn sứ hứa với vua rằng sự điêu tàn này sẽ không xảy ra. Tuy nhiên Isaia con thêm lời đe doạ:

“Nếu các người không vững tin, các người sẽ không còn đứng vững” (7, 9).

Ở đây, đức tin được trình bày như là cách thế duy nhất để đứng vững trước mặt Thiên Chúa, với tư cách là dân được tuyển chọn. Vua Akhát sẽ không tin cùng với dân: ông sẽ bị trừng phạt và chỉ có một “số sót” sẽ được cứu thoát vì đã tin. Số sót này được tượng hình bằng đứa con của Isaia tên là Shear Jashub, nghĩa là “số sót sẽ trở về”. Chỉ có số sót sẽ được trở về, nghĩa là sẽ hoán cải và tham dự vào vương quốc của Đấng Emmanuel.

Vào thời vua kế vị, Êdêkia tìm kiếm những khế ước nhân loại và bị rơi vào nguy cơ hỗn hợp tôn giáo và luân lý, ngôn sứ Isaia lại mời gọi vua hoán cải, lấy lại lòng tín thác vào Chúa và tuân giữ những lời cam kết của giao ước:

“Giả như các ngươi trở lại và ở yên, hẳn các ngươi đã được cứu thoát. Giả như các ngươi bình tĩnh và tin tưởng, ắt các ngươi đã nên hùng mạnh” (Is 30, 15).

Rao giảng ở giữa người đồng bào bị lưu đày tại Babilon, ngôn sứ Isaia đệ nhị tưởng tượng ra một vụ kiện giữa Thiên Chúa và các bụt thần, dưới sự làm chứng của người Do Thái và dân ngoại. Israel được mời làm chứng nhân cho một Thiên Chúa hiện hữu, sống động và đem đến ơn cứu độ cho họ:

“Chính các ngươi là nhân chứng của Ta- sấm ngôn của Đức Chúa -, là bề tôi Ta đã tuyển chọn để các ngươi nhận biết và tin Ta, và hiểu rõ Ta vẫn là Ta: trước Ta, chẳng có thần nào khác được hình thành, và sau Ta cũng vậy. Chính Ta, chính Ta đây là Đức Chúa, ngoài Ta ra chẳng có ơn cứu độ” (Is 42, 10-11)

Vì thế, đức tin được khơi dậy bởi Chúa và có đối tượng là Thiên Chúa duy nhất và là Đấng cứu độ: nó mở ra cho dân ngoại, theo nghĩa là họ không được nhận những chiến thắng về mình và nhục mạ Thiên Chúa, đặt Người ngang hàng với bụt thần.

Tuy nhiên, đức tin đối Isaia luôn có tính cộng đồng rõ rệt: chính cộng đồng mà vua là đại diện luôn được mời gọi tin vào Chúa. Giới viên chức không đón nhận lời mời gọi này, trái lại “số sót” trung thành thì biết đón nhận. Họ là những người nghèo của Giavê, là người dân được tự do, không bị ràng buộc bởi sự cứng đầu và kiêu ngạo, bởi chủ nghĩa vụ hình thức tôn giáo. Họ thâm tín rằng cho dù có nhiều thử thách, Thiên Chúa sẽ ban cho họ tin vui đã hứa (Is 61, 1-11).

3. Đức tin trong sứ điệp của Đức Giêsu

Tất cả các truyền thống Tin mừng của Kitô giáo tiên khởi đều có mối giây liên hệ với đức tin vào Đức Giêsu và vào sứ điệp của Người là chính ơn cứu độ, trong nhiều mức độ và cung cách khác nhau.

a) Đức tin trong Tin Mừng Nhất Lãm

Tin mừng Nhất Lãm không sử dụng nhiều động từ tin và những hạn từ khác có liên hệ tới từ gốc này. Lý do là vì lời đáp trả cho lời rao giảng của Chúa và cho chính con người của Ngài cách trọn vẹn bằng cuộc sống, được diễn tả bằng những từ ngữ khác có giá trị tương đương: theo Đức Kitô, vác thập giá của Đức Kitô, ở với Đức Kitô, tuyên xưng Đức Kitô.

Ngoài những ý nghĩa chung của sự tín nhiệm nơi những chứng nhân đáng tin cậy (Mc 16, 13.14), hoặc nơi nguồn gốc thần linh của các sứ điệp do các thiên thần loan báo (Lc 1, 20. 45), hoặc là nguồn gốc của Đấng Mêsia nói chung (Mc 13, 21), động từ tin có nghĩa như sau:

1) Phó thác vào quyền năng và lòng nhân lành của Chúa nơi Đức Giêsu để hoàn thành phép lạ (Mc 2, 5; 5, 34);

2)  Đón nhận Tin Mừng của Đức Giêsu (Mc 1, 15; 16, 16-17; Lc 8, 12-13);

3)  Đón nhận chính Đức Kitô (Mt 18, 6).

Xét theo ý thứ nhất, cách riêng trong Tin Mừng Máccô, tác giả nhấn mạnh rằng để làm các phép la, Đức Giêsu đòi con người phải có đức tin, nghĩa là phó thác cho quyền năng và ý muốn của Ngài. Nếu không có đức tin, Ngài không thể thực hiện các phép lạ (Mc 6, 5-6). Vì điều này mà Ngài yêu cầu ông trưởng hội đường Giaia tiếp tục tin vào Ngài, cho dù ông nhận được tin là đứa con gái đã chết (Mc 5, 36); Ngài cũng kêu trách cha của đứa trẻ bị bệnh động kinh, vì đức tin của ông bị ràng buộc bởi các điều kiện (9, 23-24); và trách cứ các môn đệ trong cơn sóng gió trên biển cả, vì “họ vẫn chưa có lòng tin” (4, 40). Không phải tự bản chất, đức tin có thể làm được các phép lạ, mà là do quyền năng của Đức Giêsu. Tuy nhiên, phép lạ của Ngài lệ thuộc vào lòng tin và sự mở ra đón nhận Ngài và sứ điệp của Ngài. Các phép lạ chỉ dành cho những ai sẵn sàng tiếp đón Đức Giêsu, để rồi phép lạ cũng củng cố đức tin cho họ.

Xét theo ý thứ hai, Máccô tóm tắt tất cả lời rao giảng đầu tiên của Đức Giêsu ở biển hồ Galilêa như sau:

“Thời kỳ đã mãn và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1, 15)

Lời rao giảng cuối cùng của Người cũng vang dội tương tự như thế:

“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ; còn ai không tin thì sẽ bị kết án” (Mc 16, 15-16).

Như vậy đối với Đức Giêsu tin là chấp nhận tất cả những hậu quả của Tin Mừng mà Người đã rao giảng: Nước Thiên Chúa được chuẩn bị và phác họa từ Cựu ước, đã và đang cùng với Người lao vào thế giới. Vì thế các tín hữu cần phải hóan cải và đón nhận Nước Trời để trở thành những thuộc hạ của Vua Trời.

Ý nghĩa thứ ba thì ít được biết đến. Xem ra ý nghĩa này được hình thành sau này dưới ánh sáng của sự phục sinh, khi mà các tác giả Tin mừng hiểu Đức Giêsu là đối tượng của Tin mừng và Tin mừng được đồng hóa với Đức Giêsu. Chúng ta có thể thấy bước chuyển biến sâu xa này khá rõ nơi Luca: Đức Giêsu quyết tâm đi rao giảng Tin vui để mang ơn cứu độ cho những ai đón nhận Triều Đại Thiên Chúa (Lc 4, 43; Mc 1, 14-15), sau đó vào thời của Hội Thánh, tất cả mọi người, Do Thái lẫn dân ngoại, “phải trở về với Thiên Chúa và tin vào Đức Giêsu Chúa chúng ta” (Cv 20, 21).

Trong sách Công vụ, Luca đã xác định một tiến trình có thứ tự để đạt được ơn cứu độ: trước hết là lắng nghe lời rao giảng Tin mừng, sám hối, chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu để được ơn tha tội, lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần, tháp nhập vào cộng đoàn của những người đã chịu phép Thánh tẩy (Cv 2, 37-41); sau đó cần phải bền chí trong hoán cải và sống đức tin (Cv 2, 42-48), sẵn sàng làm chứng cho đức tin của mình trong những cơn bách hại (Cv 4, 29-31; 28, 31), vác thập giá mình mà theo Đức Kitô mỗi ngày (Lc 9, 23).

b) Đức tin trong Tin Mừng Gioan

Động từ tin chiếm một chỗ lớn trong toàn bộ Tin mừng thứ IV và xuất hiện rất đều đặn, có tất cả 96 lần. Tin trong nghĩa chặt của từ ngữ, nhấn mạnh đến tính hiện sinh. Gioan bổ túc động từ này cho trọn vẹn ý nghĩa bằng cách thêm vào các động từ tương đương khác, như: đi, đến với Giêsu (5, 39-40; 6, 35. 68-69), yêu Người (8, 42; 14, 15.21). Như vậy, tác giả cho thấy đức tin giống như cuộc gặp gỡ với con người của Đức Giêsu; người Kitô hữu không gặp Đức Giêsu với từng phần của các quan năng, trí năng hay tình cảm, nhưng là với toàn thể con người. Do đó, mục đích thúc đẩy tác giả viết Tin mừng là muốn khơi dậy và duy trì đức tin cho các tín hữu, như người đã tuyên bố rõ ràng trong phần cuối của tác phẩm:

“Những điều được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, và để nhờ tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20, 31)

Trong Tin Mừng thứ IV, đức tin đặt trung tâm trên Đức Giêsu và vinh quang thiên tính của Người. Con người cần phải tin vào Đức Giêsu (4, 39; 6, 35) và danh Người (1, 12; 2, 23); tin Người là Đấng Mêsia (11, 27; 20, 31), Đấng được Chúa Cha sai đến (11, 42; 17, 8.21), là Con Thiên Chúa (20, 31), đến từ Chúa Cha (16, 27-30). Tin vào Thiên Chúa và tin vào Đức Giêsu là một (12, 44; 14,1) vì Cha và Đức Giêsu là một (10, 30; 17, 21)

Gioan cũng đề ra một tiến trình rất hay cho thấy đức tin chuyển biến từ bước khởi đầu cho đến khi hoàn hảo: ngang qua các dấu chỉ hay phép la, ai có tâm hồn cởi mở sẽ có được đức tin vào Đức Giêsu, dù chưa phải là đức tin hoàn hảo: đức tin đặt nền trên các dấu chỉ. Từ đức tin đó, người ấy cần phải vươn tới tin vào con người thiên tính của Đức Giêsu và vào Lời của Người. Các dấu chỉ có điểm tích cực là khơi dậy đức tin trong lòng những người thành tâm thiện chí tìm kiếm Chúa. Các phép lạ chứng thực Đức Giêsu là vị lương y ngôn sứ, tương tự như Môsê và Êlia, hơn nữa Người là Con Thiên Chúa. Nhưng đó mới chỉ là đức tin chưa hoàn hảo, cần phải đi đến đức tin hoàn hảo là dựa vào một mình Đức Giêsu và Lời của Người, không cần tới bằng chứng của những điềm thiêng dấu lạ bên ngoài (Ga 2, 23-25; xem thêm trình thuật Chúa Giêsu chữa lành cho con của một sĩ quan cận vệ của nhà vua: 4, 46-53; Người mù bẩm sinh: 9, 35-41; tiệc cưới Cana: 2, 11; hiện ra với Tôma tông đồ: 20, 29).

Nói cách khác, theo Gioan con người cần phải tin vào Chúa Giêsu và vào Lời của Người với một tâm hồn rộng mở chân thành: các phép lạ củng cố đức tin vào Đức Giêsu và vào Lời Người, và đối với người đó, qua dấu chỉ sẽ hiểu rõ hơn thực tại thâm sâu của Đức Giêsu và sứ điệp của Người. Trái lại, ai không tin vào Người và Lời của Người, họ chỉ nhìn thấy phép lạ là một sự kiện lạ lùng, và thay vì cảm nhận được ý nghĩa biểu trưng của nó, họ đòi một phép lạ mới để thoả mãn tính hiếu kỳ, là kết quả của sự cứng lòng (Ga 6, 26-29). Vì thế, thật là “phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20, 29).

Ngoài ra Tin mừng Gioan còn nhấn mạnh đến tính quyết định dứt khoát của đức tin. Số phận đời đời của mỗi cá nhân liên kết với chính giây phút mà họ trung thành với đức tin. Cuộc phán xét cuối cùng của Đức Kitô trong ngày quang lâm sẽ xác nhận và kiện toàn đức tin với sự phục sinh thân xác loài người (Ga 9, 30; 3, 16-19; 5, 21-29; 12, 46). Như thế, đức tin thiết lập một sự lựa chọn khẩn thiết giữa sự sống và cái chết, giữa ánh sáng và bóng tối. Lựa chọn này phải được chuẩn bị bằng thái độ sẵn sàng và bằng những thực hành nếp sống luân lý (Ga 3, 20-21), bằng khiêm tốn nhận biết sự mù loà tinh thần của mình và cảm thấy nhu cầu cần được ánh sáng là Đức Kitô. Đức Kitô đến để cho những ai có tâm hồn sẵn sàng “làm theo ý Thiên Chúa” (Ga 7, 17) có thể quyết định rõ ràng và dứt khóat trao hiến cho Chúa. Người ấy sẽ tiến tới đức tin chưa hoàn hảo qua muôn loài thọ tạo, nhờ Ngôi Lời Thiên Chúa (1,4.10-13), và sẽ có đức tin trọn vẹn nhờ chấp nhận Đức Giêsu Kitô làm người (1, 14-18). Nếu người Do thái không tin là vì họ không có tấm lòng cởi mở tối thiểu: họ bám vào đặc ân của chủng tộc (8, 33-39), của vinh quang hư ảo (5, 44; 12, 43), của tinh thần thế tục (8, 23), của tính tự phụ (8, 48; 9, 28), nhất là họ quá tự tin không muốn thay đổi lối sống cũ và không muốn nhận biết mình đang trong tình trạng mù loà (9, 39-41). Họ đã làm những việc xấu xa xúi giục họ ghen ghét Ánh sáng (3, 18-21) và thiếu lòng kính sợ Thiên Chúa (5, 42)

Trái lại, để lắng nghe lời của Đức Kitô, người Kitô hữu phải bước đi trong ánh sáng (3, 18-21), phải được sinh ra bởi Thiên Chúa (1, 13), được Cha tuyển chọn (6, 37), và như vậy sẽ nghe thấy tiếng của vị Mục tử (10, 26tt). Tất cả thái độ đó đều là ơn ban của Thiên Chúa (xem thêm 1Cr 4, 7).

Ơn trung thành với đức tin cũng là do Thiên Chúa ban. Đó là tặng phẩm yêu thương và sức lôi kéo của Chúa Cha (6, 29. 36-40. 43-45). Không thể có đức tin nếu không có ơn nhưng không đến từ Thiên Chúa. Tuy nhiên, đối với Gioan, trong toàn bộ ý tưởng của Tin mừng thứ IV, Chúa Cha trao ban cho mọi người ơn đức tin. Lỗi lầm và thiếu sót của con người là thiếu sự công tác với ơn Chúa:

“Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa đã sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3, 16-17)

4. Đức tin dưới ngòi bút của thánh Phaolô

Đề tài đức tin là trung tâm của cuộc sống và suy tư của Phaolô, được triển khai sâu rộng và đầy đủ trong thư Galata và thư Rôma. Tuy nhiên, để hiểu rõ lập trường của thánh nhân, chúng ta cần phải nắm bắt lập trường đối nghịch rất phổ biến giữa một trong nhóm Luật sĩ và Pharisiêu Do Thái lúc bấy giờ. Họ đã gieo tư tưởng nơi các Kitô hữu gốc Do Thái chống lại Phaolô. Chủ trương của họ như sau:

1/ Ơn gọi của Ápraham không phải là ơn nhưng không mà do ông đã nhận biết Thiên Chúa bằng chính nỗ lực của riêng mình và vì thế ông được Chúa thưởng công.

2/ Luật Môsê là tặng phẩm của tình yêu Thiên Chúa đối với Israel, nhưng nó không hoàn toàn miễn phí, bởi vì Thiên Chúa đã ban luật đó cho các dân tộc ở Sinai, nhưng chỉ có dân Israel sẵn sàng đón nhận.

3/ Với nỗ lực riêng của mình, dân Israel đã tuân giữ hết mọi mệnh lệnh mà Luật truyền dạy. Họ sẽ chịu xét xử chỉ dựa trên những công trạng và tội trạng, và vì thế, do những cộng trạng riêng, chỉ một mình họ được thưởng cuộc sống đời đời, là nơi họ sẽ chiêm ngắm Luật Chúa đến vô cùng vô tận.

4/ Sau khi Ađam phạm tội, dân Israel tự sức mình vẫn có thể chiến thắng những khuynh hương xấu trong con người và vươn tới những khuynh hướng tốt dưới ánh sáng của Luật.

5/ Dân ngoại không cắt bì và không giữ luật Môsê sẽ là những ứng cử viên vào cửa hoả ngục. Do đó, để đạt được ơn cứu độ Kitô giáo, họ phải để cho dân Israel đăt lên vai mình Luật Môsê. Đức Kitô đã chuẩn nhận và củng cố mọi quy định của Luật rồi.

Lập trường này đi trái ngược với tinh thần xác thực của Cựu Ước, nhất là đối với lời giảng dạy của Đức Giêsu (x. Lc 17, 7-10; 18, 9-14) và trái ngược với kinh nghiệm bản thân của Phaolô. Thánh nhân tập trung sức lực để chiến đấu chống lại tư tưởng lệch lạc này trong thư Galata và Rôma.

Phaolô bảo vệ sáng kiến tuyệt đối của Thiên Chúa. Tất cả đều là ơn ban của Chúa, thậm chí con người không có chút gì mảy may để trao đổi với Người, cũng không phải là con người đã cho Người cái gì để bắt Người phải hoàn lại sau. Tất cả đều là nhưng không, tuyệt đối con người không được vênh vang trước mặt Thiên Chúa (Rm 11, 35-36; Gl 2, 21)

Trái lại, tất cả mọi người, Do Thái cũng như dân ngoại, đều có tội trước nhan Người, (Rm 1, 18-3, 20; Gl 3, 22). Với người Do Thái, họ không có gì khác ngoài lương tâm bị vùi sâu, chất đầy tội lỗi, bởi vì luật đã cho họ thấy ý muốn của Thiên Chúa và sự bất lực của họ trong việc giữ luật bằng sức riêng mình. Còn đối với dân ngoại, họ đã không nhận biết Thiên Chúa cách đúng đắn và bị rơi vào xiềng xích của các thói hư nặng nề nhất. “Tội lỗi” mà Phaolô nói ở đây là gốc rễ của sự dữ cố hữu trong con người từ lúc sinh ra, và liên đới với sự bất vâng phục lúc khởi nguyên của Ađam (Rm 5, 12-21). Con người làm cho nó trở thành tội riêng của mình. Ách của tội lỗi quá nặng đến nỗi con người không thể được giải thoát nếu không có Đức Kitô.

Nhưng tình yêu của Chúa Cha đã công chính hóa tội nhân, dù họ là Do Thái hay Hy Lạp, chỉ nhờ bởi đức tin vào Đức Kitô Con Thiên Chúa, đã chết và đã sống lại vì chúng ta (Rm 5, 8-11). Nghĩa là không phải do người Do Thái có công trạng giữ lụât Môsê, độc lập với Đức Kitô (Gl 2, 15-16; Rm 3, 28; 4, 4-5), cũng không phải do trí tuệ thông sáng của người Hy Lạp mà họ được cứu (1Cr 1, 23-24), nhưng là do chính Thiên Chúa đã cứu chữa các họ.

Đức tin theo thánh Phaolô là điều kiện để được nhận lãnh ơn công chính hóa hay là ân sủng của Thiên Chúa mang lại ơn cứu độ đời đời. Đức tin là thái độ của con người nhận biết sự bất toàn của mình trước Đấng Tạo hóa, chấp nhận và tuyên xưng ơn cứu độ đến với họ nhờ Đức Giêsu Kitô, là buông mình để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn (Rm 8, 9-11) để thay đổi tâm thức ta và làm cho ta vâng phục Thiên Chúa và Đức Kitô (Rm 1, 5; 3, 21-28). Đức tin nhờ Bí tích Thánh tẩy làm cho nó trở nên hữu hình và có tính cộng đồng (Rm 6, 3-7).

Đức tin là phủ nhận mọi tự phụ huyênh hoang của con người (1Cr 1, 29). Tuy nhiên người Kitô hữu có thể hãnh diện trước nhan Chúa (1Tx 2, 19) và trong Chúa (1Cr 1, 31; 2Cr 10, 17), tự hào vì những thành tích và những đặc ân của mình như là quà tặng của Chúa dành cho họ, có như vậy thì niềm vinh dự về mình trở thành lời ca tụng Thiên Chúa.

Với ơn công chính hóa, mỗi người tín hữu được Thiên Chúa ban cho Thần Khí của Đức Kitô (Rm 8, 1-30) và làm cho họ trở thành con của Cha trên trời (Rm 8, 15; Gl 4, 6). Thánh Thần không ban cho mỗi tín hữu một bộ luật qui phạm bên ngoài, nhưng ban cho họ sức năng động nội tâm bên trong, khuyến khích sống luân lý và phát sinh hoa trái “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5, 22). Vì thế

“trong Đức Kitô Giêsu, cắt bì hay không cắt bì đều không có giá trị, chỉ có đức ái hành động nhờ đức ái” (Gl 5, 6).

Như vậy Phaolô không tách đức tin ra khỏi việc làm, thậm chí ngài coi việc làm cũng là hoa trái của Thánh Thần đang hoạt động trong chúng ta với sự cộng tác của chúng ta. Bởi thế trong các Thư, ngài luôn khuyến dụ và cầu chúc cho cuộc sống của người Kitô hữu trở nên viên mãn và thực hành nhiều nhân đức. Tuy nhiên, họ phải nhớ rằng hoa trái của Thánh Thần không phải là lý do để tự phụ kiêu căng, đừng đặt quyền lợi của mình trước Thiên Chúa. Kết quả đó là do sự trợ giúp của Thánh Thần (Gl 5, 22; Rm 6, 14), được Thiên Chúa đón nhận chỉ vì hồng ân (Rm 6, 21-23), nó có thể bị hư mất và trở về với cái chết (Rm 6, 1-4; 8, 9), nó có thể đưa đến vinh quang đời đời chỉ vì Thiên Chúa trung thành với chính mình và với lời hứa của Người (Rm 1, 1-8).

Tóm lại, trong Phaolô, “đức tin là suy tôn Thiên Chúa Tạo thành và Cứu Độ mà con người phải phục tùng để được xét xử và được nên công chính. Đức tin là phủ nhận mọi kiêu căng của con người về những việc làm trọn hảo theo lề luật, về lý lẽ cho rằng nó có thể cứu được chính mình bằng sức riêng, bằng ý muốn, bằng trí khôn, và bằng cách thức nào đó, tự xây dựng cho mình ơn cứu độ trong thế giới này hay trong thế giới khác. Đức tin có nghĩa là ơn cứu độ đến từ một mình Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và sống lại” (G. Segalla).

5. Đức tin dưới ngòi bút của thánh Giacôbê

Có một số người trong cộng đoàn tín hữu sơ khai đã nhấn mạnh đến yếu tố hiểu biết đức tin, trong khi một số khác hiểu không đúng công thức của Phaolô, như sau này Luther đã làm như vậy:

“Chúng tôi nghĩ rằng người ta được nên công chính vì tin, chứ không phải vì những gì luật dạy” (Rm 3, 28)

Theo khẳng định này, đức tin hầu như không cần đến những hành động tốt đẹp.

Chống lại những giải thích sai lạc, tông đồ Giacôbê mạnh mẽ trả lời trong thư của ngài rằng nếu chỉ có đức tin mà thôi, hiểu như là sự trung thành với chân lý trừu tượng về Thiên Chúa là Đấng duy nhất, thì đó là đức tin chết, chính ma quỷ cũng tin như vậy (Gc 2, 14-26). Trái lại, đức tin sống là đức tin có hành động kèm theo, như đức tin của ông Ápraham (St 15, 6) cộng tác với việc làm là sát tế Isaác, và nhờ hành động đó đức tin của ông nên hoàn hảo; như đức tin của cô gái điếm Rakháp thành Giêricô đã trở nên hoàn hảo vì cô cho các nhà thám hiểm vùng Đất Hứa chỗ trọ và giúp họ ẩn trốn (Gs 2, 1tt).

Như vậy không có sự đối lập giữa lập trường của Phaolô và lập trường của Giacôbê như thoạt tiên chúng ta dễ lầm tưởng như vậy. Trái lại, cả hai tác giả đều nhất trí với nhau là đức tin chân chính phải trổ sinh hoa trái bằng đức ái và các việc lành. Riêng Phaolô nhấn mạnh ngay từ đầu rằng đức tin ấy một ơn ban, nhưng trong thư Giacôbê điều này không được suy xét rõ ràng tuy cũng có thể giả định cũng có ý như vậy.

Kết luận

Từ những những bức chân dung tiêu biểu về đời sống đức tin đến khái niệm về đức tin dưới nhãn quan của các tác giả Sách Thánh trong suốt dòng lịch sử cứu độ, chúng ta có thể đưa đến một kết luận quan trọng, vừa thực tiễn cụ thể vừa là đề tài cho suy tư thần học Thánh Kinh về đức tin.

Đức tin là một ơn ban thuần tuý của Thiên Chúa, là hồng ân được trao tặng cách nhưng không. Nếu Thiên Chúa không mở lòng con người và lôi kéo họ đến cùng Người thì họ không thể có đức tin. Chỉ khi Chúa “mở lòng” (Cv 16, 14), con người mới có khả năng “chiến thắng thế gian” (1Ga 5, 4): thật vậy, đức tin xác thực là công trình của Chúa (Ga 6, 29), không đến từ “xác thịt hay máu huyết” con người (Mt 16, 17).

“Chính do bởi lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em mà là một ân huệ của Thiên Chúa” (Ep 2, 8).

Nếu thu hẹp đức tin vào việc làm của con người thì con người sẽ biểu dương chính mình. Vì thế chính Chúa Cha có sáng kiến ban tặng Đức Giêsu cho con người (Ga 6, 44-45). Nguồn ngọn của đức tin là hấp lực của Thiên Chúa có sức mạnh và nền tảng, hơn là sự lựa chọn của con người, thậm chí hơn cả vai trò trung gian hữu hình của Đức Giêsu. Như vậy con người không làm gì để tiến tới hoặc bước đi trong đức tin hay sao?

Thái độ tìm kiếm của con người thật là cần thiết. Cho dù trong Cựu ước, chủ thể của việc tìm kiếm là Chúa, và trong Tân ước có những trường hợp cản ngăn cuộc tìm kiếm này (Cv 13, 8), nhưng Đức Giêsu bảo đảm cho con người rằng nó sẽ tìm thấy bao lâu nó còn khao khát (Mt 7, 7-8), như ông Giakêu đã có thể thấy Người (Lc 19, 3), và

“những ai tìm kiếm Thiên Chúa; may ra họ dò dẫm và tìm thấy Người, tuy rằng thực sự Người không ở xa mỗi người chúng ta” (Cv 17, 27).

Những ai kiếm tìm Người thực sự tức là sự đáp trả sáng kiến đi bước trước của Thiên Chúa. Người sẽ thanh luyện và hướng người đó tới thái độ lắng nghe lời Người, hoán cải và đón nhận đức tin. Lúc ấy cuộc kiếm tìm này sẽ cụ thể hóa bằng cách để cho Chúa tìm kiếm mình. Khi người thiếu phụ Samaria buông mình để cho Chúa Giêsu hướng dẫn, để cho Người đăt mình trong điều kiện trần trụi của đời sống luân lý, chị đã nhận ra thân trạng của mình và đã thốt lên:

“Thưa ông, tôi thấy ông thực là một tiên tri” (Ga 4, 19).

Trong mọi giây phút, dấu hiệu cho một cuộc tìm kiếm chân thành là thái độ sám hối đặt nền móng trên lòng khiêm tốn: cuộc kiếm tìm này sẽ biểu hiện bằng cuộc hành trình bền bỉ và lối sống khổ chế để tẩy chay mọi thái độ ích kỷ chỉ lấy mình làm trung tâm chứ không phải Chúa. Thái độ ấy làm cản trở hồng ân của Chúa thấm vào lòng mình và làm chùn bước tiến của đức tin.

 Sr. Maria Đinh Thị Sáng, OP

Dựa theo G. Leonardi, La fede nel popolo d’Israele e nelle prime comunita’ cristiane, in: Credereoggi, 4 (1981), pp. 13-28; G. Bof, Fede, in: Nuovo Dizionario di Teologia, (edd. B. Barbaglio – S. Dianich, San Paolo, Milano 1988), pp. 509-529; B. Marconcini, Fede, in: Nuovo Dizionario di Teologia Biblica, (edd. P. Rossano – G. Ravasi – A. Girlanda, San Paolo, Milano 1988), pp. 536-552.

Comments are closed.