Thông truyền đức tin trong lịch sử huấn giáo

0

THÔNG TRUYỀN ĐỨC TIN TRONG LỊCH SỬ HUẤN GIÁO

Dẫn nhập

Trong nguyên ngữ Hy Lạp, La Tinh và truyền thống của Giáo Hội, huấn giáo là catechesis ám chỉ chính việc dạy đạo, học đạo. Liên hệ mật thiết với việc học đạo là người học đạo, người “dự tòng” (catechumenus) và tài liệu dùng cho việc dạy đạo gọi là “sách giáo lý” (catechismus). Cả ba từ “huấn giáo”, “dự tòng” và “sách giáo lý” xét về thời gian ra đời thì không xuất hiện cùng một lúc. Còn xét theo bản chất thì xem ra đều nhấn mạnh đến quá trình tìm hiểu, trình bày nội dung đức tin hơn là khía cạnh tâm linh và hiện sinh của đức tin.

Thật vậy, trong việc dạy giáo lý đã có sự nhầm lẫn giữa hành vi tin và sự hiểu biết nội dung đức tin. Nhất là trong bầu khí của hệ tư tưởng tự do là nét đặc trưng của văn hóa thế kỷ XVII, nảy sinh ra những phán đoán tiêu cực coi việc dạy giáo lý và sách giáo lý là những công cụ xúc phạm đến tự do và tự nguyện của hành vi đức tin. Tâm thức này hiện nay vẫn còn tồn đọng ở nhiều nơi.

Đúng là “đức tin là một hành vi cá nhân: là sự đáp trả tự do của con người trước sáng kiến của Thiên Chúa Đấng tự mạc khải” như định nghĩa của Sách Giáo Lý Công Giáo (GLHTCG số 166). Và cũng đúng khi cho rằng mọi nỗ lực huấn giáo của Giáo Hội đều cần thiết, nhưng chưa đủ, nếu không đi kèm với thái độ đón nhận ân huệ của Thiên Chúa được diễn tả qua sự gắn bó của cá nhân với Ngài bằng đức tin. Để là một Kitô hữu, mỗi người cần phải đích thân đáp trả ân huệ đức tin, như giáo phụ Tertulianô đã nói: “Chúng ta không sinh ra là Kitô hữu nhưng trở thành Kitô hữu” (Apologia 18,4). Việc đáp trả Thiên Chúa Đấng tự mạc khải không chỉ bao gồm khía cạnh chủ thể diễn tả sự trung thành gắn gó với đức tin của cá nhân, mà còn có khía cạnh khách thể nữa, đó là nội dung đức tin được truyền trao.

Hai khía cạnh này luôn được duy trì trong lịch sử huấn giáo trải qua nhiều giai đoạn[1]. Chúng ta sẽ khởi đi từ công cuộc huấn giáo của Thiên Chúa trong Cựu ước và Tân ước. Tiếp đến là giai đoạn huấn giáo trong Giáo Hội sơ khai dành cho những người chuẩn bị nhập đạo. Hình thức này dần dần biến chuyển sang những hình thức khác dọc dài 20 thế kỷ, cho đến khi đạt được thành quả cụ thể là Sách Giáo lý chung cho toàn thể Giáo Hội. Huấn giáo ngày nay tìm cách làm mới lại những cách thức huấn giáo của thuở ban đầu.

1. Huấn giáo trong Cựu ước

Trong khi người ta thường chú ý tranh luận về một vài khía cạnh không đi vào trọng tâm của việc huấn giáo, là truyền trao đức tin mà chúng ta đã lãnh nhận, thì người ta lại hay quên rằng người dạy giáo lý và công cuộc huấn giáo đầu tiên chính là Thiên Chúa đấng tự mạc khải.

Thiên Chúa bắt đầu việc huấn giáo với công cuộc tạo dựng con người theo hình ảnh Thiên Chúa, có khả năng trở nên giống như Ngài theo như sách Giáo lý Công giáo dạy. Viễn tượng này làm cho cuộc đối thoại giữa con người và Thiên Chúa trở nên khả thi. Thật vậy, Thiên Chúa đã ngỏ lời và nói với con người, nếu con người không có trình độ hiểu tất cả những điều Ngài mạc khải cho nó, thì nó sẽ hiểu những điều khác.

Thiên Chúa nói với con người qua loài thụ tạo, nhưng nhất là nói với con người qua con người. Giữa muôn ngàn người, Ngài đã chọn một dân tộc qua một nhân vật tên là Ápraham. Qua ông Ngài trao phó trước hết cho dân của Ngài một sứ điệp, để rồi sau đó chuyển trao sứ điệp đó cho các dân tộc khác. Như vậy Ápraham là tổ phụ của chúng ta trong đức tin, theo nghĩa là khởi đầu của một lịch sử trong đó Đức Kitô là đỉnh điểm, nền tảng và mục đích. Lịch sử đó đã bắt đầu với lời kêu gọi một người ở tuổi 75 từ bỏ quê hương xứ sở để đến một nơi Chúa sẽ đề nghị với ông.

Ápraham, Môsê, Giuse và Giacóp cho đến ông Gioan Tẩy Giả là tất cả những chứng nhân của một điều gì đó lớn lao đang xảy ra: mỗi vị theo cung cách riêng, đều là những giáo lý viên giảng dạy cho dân chúng đang vây quanh họ, truyền đạt đức tin mà họ đã lãnh nhận cho dân mới là Israel. Như thế người Do Thái dần dần hiểu được ân ban được làm một dân tuyển chọn để thiết lập mối tương quan cá vị với Thiên Chúa duy nhất và chân thật.

2. Huấn giáo trong Tân ước

Tông huấn về việc dạy giáo lý của Chân phước Gioan Phaolô II (được ban hành khi ngài mới bắt đầu sứ vụ Giáo hoàng), trình bày Đức Giêsu như một giáo lý viên mô phạm như sau:

Sự uy nghi của người Thầy Kitô, sự nhất quán và tính thuyết phục độc đáo của giáo huấn của Ngài không chỉ giải thích lý do tại sao những lời của Ngài, các dụ ngôn của Ngài và các lý luận của Ngài không bao giờ tách biệt với đời sống và con người của Ngài. Theo nghĩa này, toàn thể đời sống của Đức Kitô là sự giảng dạy liên tục: sự im lặng của Ngài, các phép lạ Ngài làm, các cử chỉ của Ngài, các lời cầu nguyện của Ngài, tình yêu mà Ngài dành cho con người, lòng quý mến đặc biệt của Người đối với những người bé nhỏ và nghèo khổ, việc Ngài chấp nhận hy sinh hoàn toàn trên Thánh Giá để cứu chuộc nhân loại và sự phục sinh của Ngài… đều hiện thực hóa lời của Ngài và hoàn tất mạc khải. Vì vậy đối với Kitô hữu, Đấng Chịu Đóng Đinh là một trong những hình ảnh tuyệt vời và phổ biến nhất của người Thầy Giêsu”[2].

Đức Giêsu thực sự là khuôn mẫu cho người dạy giáo lý, biết kết hợp đạo lý với cuộc sống, kiến thức với sự khôn ngoan. Các Kitô hữu tiên khởi đã nhìn lên Ngài để tìm ra phương cách dạy giáo lý, hầu chu toàn sứ mạng loan báo đức tin, nhờ sự can thiệp của Chúa Thánh Thần. Đức tin này đã từng được rao giảng hăng say và mạnh mẽ từ ngày lễ Ngũ Tuần và thôi thúc rất nhiều tín hữu gắn bó và trung thành.

Đức Maria Mẹ Chúa Giêsu cũng được coi là người dạy giáo lý đầu tiên cùng quy tụ với các Tông Đồ trong nhà Tiệc Ly, bởi vì chính Mẹ là người đầu tiên đã tin và tiếp tục tin cả sau cái chết của Đức Giêsu, trong niềm trông chờ sự Phục sinh.

Bên cạnh Đức Maria, những giáo lý viên tiên khởi cũng là các Tông Đồ và môn đệ Chúa Giêsu. Họ đã phải giải thích những lời dạy của Chúa Giêsu, trả lời những câu hỏi cách thỏa đáng cho những ai xin Rửa Tội sau khi được thu hút bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần, Đấng đã nói qua Nhóm Mười Hai, các phụ nữ và các môn đệ. Đây là thời gian các sách Tin Mừng chưa được viết thành văn. Còn sau khi được hình thành, các Tin Mừng này trình bày các cấp độ rõ rệt của một cấu trúc giáo lý. Các trình thuật của Thánh Matthêu được gọi là Tin Mừng dành cho giáo lý viên, còn trình thuật của Thánh Marcô là Tin Mừng cho người dự tòng[3]

Nhìn chung trong tiến trình dẫn đưa người Do Thái hay dân ngoại trở thành Kitô hữu, có ba chặng cần phân biệt:

1. Trước hết là công bố Tin Mừng cứu độ, kêu gọi muôn dân tin và trở lại cùng Chúa (kerygma).

2. Kế đến, những ai bày tỏ ý định trở lại thì cần được dạy dỗ thêm về các chân lý đức tin, chuẩn bị cho họ gia nhập Hội Thánh qua Bí tích Rửa Tội (giáo lý dự tòng).

3. Sau khi Rửa Tội, công cuộc dạy dỗ vẫn cần được tiếp tục để đào sâu thêm đức tin và đời sống đạo (giáo lý tân tòng).

Tân ước và các giáo phụ gọi chặng thứ hai và chặng thứ ba là “huấn giáo”. Tuy nhiên, hình thức huấn giáo của Kitô giáo tiên khởi chủ yếu là giáo lý dự tòng: khi những người này xin lãnh Bí tích Thánh Tẩy, thì họ cũng được dạy dỗ trong đức tin.

3. Huấn giáo trong ba thế kỷ đầu

Những bài giáo lý đầu tiên đã ra đời, ngay cả trong những thế kỷ Giáo Hội phải tìm nơi ẩn trú và bị bách hại. Chúng ta có thể nghĩ rằng những buổi học giáo lý quan trọng đã diễn ra qua việc lắng nghe những bản tường thuật của các chứng nhân sống động về cuộc đời của Đức Giêsu, rồi đọc và giải thích các sách Tin Mừng. Người ta cũng ghi chép lại những câu chuyện đã được thuật lại. 

Việc dạy giáo lý dưới hình thức đó vẫn còn tiếp tục cho đến chiếu chỉ Milan năm 313. Được hưởng nền hòa bình và tự do, Giáo Hội ra khỏi các hang toại đạo, cho nên việc giảng dạy được công khai hóa và là mảnh đất tốt làm phát sinh các thể chế. Bên cạnh đó, do phải đương đầu với các đối thủ là Do Thái và dân ngoại, việc dạy giáo lý dần dần đi vào các suy tư và trình bày đạo lý đức tin. Công việc này do các Giáo phụ Hy Lạp và La Tinh đảm nhận.

4. Những chuyển biến của việc huấn giáo

Khi toàn thể gia đình đã lãnh Phép Rửa và Âu châu trở nên toàn tòng, thì tập tục rửa tội cho trẻ sơ sinh cũng được hình thành và ngày càng ăn sâu. Vì thế mô hình giáo lý dự tòng bị rơi vào dĩ vãng và người ta phải tìm ra những cơ hội khác để giáo dục đức tin cho người lớn.

Nhờ các giáo phụ La Tinh và Hy Lạp, các trường huấn giáo tại Alêxandria ở Ai Cập, tại Xêdaria và Antiôkia mà sự hiểu biết về đức tin được gia tăng. Bên Tây Phương, người thầy vĩ đại trong lãnh vực huấn giáo là thánh Augustinô (354-430). Vị giám mục thành Híppô này đã phác nên một bước chuyển biến từ Kitô giáo thời Cổ sang Kitô giáo thời Trung Cổ.

Trong hoàn cảnh lịch sử mới mẻ đó, các gia đình đảm nhận một vai trò rất quan trọng trong việc lưu truyền đức tin. Các bậc phụ huynh vừa là những giáo lý viên đầu tiên của con cái tại gia đình, vừa là những học viên của các vị chủ chăn qua các bài giảng cộng đồng trong các dịp lễ. Phải mất nhiều thế kỷ thì hình thức giáo lý này mới trở thành vững vàng trong đời sống của Giáo Hội. Thật vậy, dưới triều đại của Charlemagne và công cuộc cải cách được gọi là thời kỳ “bừng tỉnh Charle Đại Đế” (800-888) thì bắt buộc dạy giáo lý cho người lớn trong các ngày lễ, và giáo lý dành cho trẻ em ở ngoài môi trường gia đình cũng bắt đầu xúc tiến.

Thời Trung Cổ còn được biết tới với đặc điểm là truy tìm đức tin Kitô giáo. Lãnh vực suy tư thần học được phát triển đến mức phi thường, gắn liền với tên tuổi của các vị đại thánh như: thánh Albertô Cả, thánh Bônaventura, thánh Tôma Aquinô. Tuy nhiên, thời kỳ này cũng được coi là thời kỳ các tín hữu dốt nát về đạo nghĩa, đức tin của họ rất đơn sơ, bình dân, còn hàng giáo sĩ thì thiếu hiểu biết và ít quan tâm đến vấn đề huấn giáo[4]. Tình trạng trầm trọng này sẽ không thể được lấp đầy bằng những hình thức lưu truyền đức tin khác, như: xây dựng các thánh đường nguy nga tráng lệ theo kiến trúc Rôman và Gôtích; phổ biến các sách tranh ảnh đạo cho những người mù chữ thất học; xuất bản nhiều sách Thánh Kinh bằng hình đối chiếu Cựu và Tân ước (Biblia pauperum) đủ loại.

Sự thiếu hiểu biết về giáo lý đã gây nên cuộc khủng hoảng vào thế kỷ XV và nhất là thế kỷ XVI.

Một loại sách Thánh Kinh Biblia pauperum tại Hà Lan khoảng năm 1460-1470

5. Huấn giáo trước cuộc Cải Cách Tin Lành

Sau “mùa thu lá rụng” của thời Trung Cổ, tại Âu Châu lại nổi lên phong trào tôn vinh nhân văn của Thời Phục hưng, và “vấn đề Thiên Chúa” lại được Martin Luther và Tin Lành đặt ra.

Vào thế kỷ XVI, một đàng tôn giáo bị coi như chuyện riêng tư và bị đẩy ra khỏi tầng lớp thống trị, đàng khác Kitô giáo cũng tìm cách khắc phục cuộc khủng hoảng về ngu dốt giáo lý và đời sống luân lý sa sút. Một trong những cách chữa trị là giáo dục đức tin, giảng dạy đạo lý cho các tín hữu. Vì thế người ta có thể nói giai đoạn lịch sử này là “thế kỷ của các sách giáo lý”, nghĩa là có những nỗ lực tìm kiếm một hệ thống nhằm tạo thuận lợi cho việc dạy giáo lý. Tuy nhiên cuộc phục hưng này chạy theo hai con đường khác nhau và đối nghịch nhau, đó là con đường của Cải Cách Tin Lành và con đường của Cải Cách Công giáo (phản lại phong trào Cải Cách Tin Lành).

Về phía Tin Lành, cả Luther lẫn Calvin nhận thấy rằng công cuộc cải cách Giáo Hội phải bắt đầu bằng việc soạn và truyền bá các sách giáo lý. Không những Luther đã dịch Thánh Kinh ra sinh ngữ mà còn dọn một quyển tổng lược giáo lý (gồm 10 giới răn, kinh Tin Kính và kinh Lạy Cha). Thế là quyển “Catechismus” của Luther ra đời vào tháng 4 năm 1529, kèm theo một quyển toát yếu (Catechismus minor) theo thể loại vấn đáp. Có lẽ hai sách Giáo Lý này được biên soạn trước khi ông đoạn tuyệt với Giáo Hội. Thậm chí ông đã trải qua những kinh nghiệm bất an sâu xa dẫn tới chỗ từ bỏ đức tin Công Giáo.

Về phía Công Giáo, cũng có rất nhiều sách giáo lý trong giai đoạn này. Một số tác giả cũng soạn sách giáo lý vừa nhằm trình bày những chân lý căn bản của Kitô giáo, vừa bài bác những sai lầm của Tin Lành. Những quyển sách giáo lý đầu tiên mang danh Sách Giáo Lý của Erasmus Rotterdam (năm 1501), Edmond Auger SJ (1530-1591), Bartolomé Carranza OP (+1576), và nhất là Petrus Canisius SJ (1521-1597). Công đồng Trentô quyết định soạn một sách giáo lý chính thức cho toàn Giáo Hội (5-4-1546). Nhằm thực thi quyết định này, ĐGH Piô IV đã thiết lập một ủy ban soạn thảo (gồm 3 Giám mục: Muzio Calini, Leonarđô Marini OP và Egiđiô Foscarari OP; sau đó thêm: Francisco Foreiro OP, cùng với hồng y Carolo Borromeo và Giulio Pogiani)[5]. Vị kế nhiệm là đức Piô V ban hành ngày 14/9/1566 mang tựa đề: Catechismus ex decreto ss. concilii Tridentini ad Parochos Pii V Pont. Max. V iussu editus, quen gọi là Catechismus Romanus. Sách Giáo Lý Rôma sẽ là sách giáo lý đầu tiên chung cho toàn thể Giáo Hội Công Giáo, được dành cho các cha xứ để sử dụng cho việc huấn giáo. Trong những thế kỷ kế tiếp các mục tử sẽ biên soạn thêm các sách giáo lý khác cho giáo phận của mình, và vì thế thành hình những thế hệ tín hữu kế tiếp của Giáo lý Rôma[6].

6. Huấn giáo sau công đồng Trentô

Giáo lý công đồng Trentô là khuôn mẫu của sách Giáo lý cho các thể kỷ kế tiếp, được phân chia thành 4 phần: đức tin, các bí tích, các giới răn và đời sống luân lý, và cuối cùng là cầu nguyện. Điều này cũng đi kèm theo các sự kiện: sự bừng tỉnh của Công giáo trước cuộc Cải Cách Tin Lành, góp phần khắc phục dần dần, tuy chậm chạp nhưng hiện thực, sự thiếu hiểu biết về đạo của toàn dân Kitô giáo; việc đào tạo giáo sĩ trong các chủng viện theo ý muốn của Công đồng; chương trình truyền giáo của Giáo Hội bành trướng sang Mỹ Châu về cơ bản được thiết lập. Nhìn chung ta thấy được sức sống mới của Giáo Hội Công giáo trong thời đại đó.

Trong khi bên Âu Châu cũng bị phân chia thành hai miền – miền Bắc thuộc về Tin Lành và miền Nam thuộc về Công Giáo – và bị tổn thương với những thảm kịch của “chiến tranh tôn giáo”, thì Giáo Hội cũng một thời nổi bật với những nét đặc trưng như: sự nở rộ của nét đẹp lộng lẫy nghệ thuật; sự ra đời của các Dòng tu mới; những đợt sóng phi thường của phong trào thần bí (thánh nữ Têrêxa Avila, 1515-1582 và thánh Gioan Thánh Giá, 1542-1591); những cuộc canh tân cầu nguyện, phương pháp cầu nguyện, xuất bản và tái bản sách cầu nguyện như: tác phẩm Massime Eterne (Tận cùng Vĩnh Cửu) của thánh Anphongsô Maria Liguori (1696-1787) và nhất là tập Linh Thao của thánh Inhaxiô, cuốn sách thích hợp cho người thời đại đang xa lìa Hội thánh.

7. Huấn giáo trong cuộc khủng hoảng thời kỳ Khai Sáng

Sau đó lại xảy ra một cuộc khủng hoảng mới vào thế kỷ XVIII do bởi sự lây lan của một ý thức hệ tích cực chống lại Kitô giáo, đó là thời kỳ Khai Sáng. Bằng sức mạnh và quyết tâm, Giáo Hội đương đầu với thách đố của cuộc cách mạng Pháp, đã chịu những tấn công và bách hại trong suốt thời kỳ vua Napoleon. Dọc dài thế kỷ XIX, Giáo Hội còn phải đối mặt với các chính phủ theo chủ nghĩa dân tộc và tự do là những người đã chiếm được quyền lực trong tất cả các nước Âu Châu. Đây là một Giáo Hội bị bó buộc phải tự vệ, nhưng lại học biết được một thời vụ truyền giáo mới và ngày càng nỗ lực tổ chức dạy giáo lý cách chu đáo và kỹ lưỡng hơn. Thật vậy, trong thế kỷ này, người ta biết đến tên tuổi của các giáo lý viên vĩ đại, tiêu biểu là thánh Gioan Bosco (1815-1888) và chân phước John Henri Newman (1801-1890). Nhiều sách sách giáo lý cho các lứa tuổi khác nhau cũng được xuất bản, trong số đó, sách giáo lý của thánh Giáo Hoàng Piô X (Giuse Sarto)  được hưởng sự may mắn vào đầu thế kỷ XX.

8. Việc huấn giáo trong thời thánh giáo hoàng Piô X

Các sách Giáo lý của ĐGH Piô X được tiếp nhận trong các giáo phận Italia. Tuy nhiên, trong triều đại giáo hoàng của ngài (1903-1914), Đức Piô X không ngừng lặp đi lặp lại lời mời gọi trong nhiều văn kiện, sao cho việc dạy giáo lý ngày Chúa Nhật và các ngày lễ trong vòng một giờ trở thành thói quen đối với thanh thiếu niên cũng như người lớn. Thông điệp Acerbo nimis (15/4/1905) văn kiện quan trọng nhất trong số các văn kiện của Ngài, cũng là một khảo luận đích thực về việc dạy giáo lý. Đây là đề tài mà vị Giáo hoàng coi như nền tảng để khắc phục sự thiếu hiểu biết về đạo trong dân Chúa. Rõ ràng dưới triều ĐGH Piô X, việc huấn giáo đã đi vào mục vụ giáo xứ cách chắc chắn và dứt khoát và sẽ được quy định trong Bộ Giáo luật năm 1917.

Việc dạy giáo lý bắt đầu gia tăng sự chú ý của Huấn quyền và được xuất hiện trong sắc lệnh Provido sane (112/1/1935) của ĐGH Piô XI (1922-1939). Có lẽ đây là nỗ lực đầu tiên cung cấp những chỉ thị tổng quát về phương pháp dạy giáo lý. Đồng thời cũng gia tăng nhu cầu có một cuộc canh tân về việc huấn giáo để thích nghi với những thay đổi về văn hóa và xã hội, đặc biệt thúc đẩy sự tham dự tích cực của người học giáo lý, thanh niên và người lớn, chú ý không gói gọn việc huấn giáo vào khía cạnh đạo lý và đối tượng của các chân lý đức tin mà thôi. Vì thế nảy sinh một thời kỳ đổi mới liên tục, dấu hiệu của một sự quan tâm sâu xa được bắt đầu trong triều giáo hoàng của Đức Piô XII (1939-1958) và nở rộ sau công đồng Vaticanô II.

Nhìn chung, công cuộc huấn giáo thời ĐGH Piô X trải qua nhiều lúng túng và bấp bênh, đến nỗi có lúc sách giáo lý của thánh Piô X bị loại ra bên ngoài. ĐGH Piô XII lên kế vị bắt đầu cuộc canh tân vào năm 1954 và chỉ đạt được dứt điểm nhiều năm sau đó.

9. Huấn giáo trong công đồng Vaticanô II và hậu công đồng

Công đồng Vaticanô II đã đánh dấu một khúc quặt trong lịch sử huấn giáo với những quyết định sau:

1. Tái lập chế độ dự tòng, cổ võ việc tổ chức dạy giáo lý không chỉ cho thiếu nhi, thanh niên mà cả người lớn nữa[7].
2. Lưu ý việc dạy giáo lý phải dựa trên Thánh Kinh, Thánh Truyền, Phụng vụ, Giáo Huấn và đời sống Giáo Hội, lịch sử cứu độ[8].
3. Cổ võ sự cộng tác của các giáo dân vào việc dạy giáo lý[9].
4. Đề nghị phải soạn một Chỉ Nam hướng dẫn về cách tổ chức dạy giáo lý cho Dân Chúa (Directorium de catechetica populi christiani institutione) trong đó đề cập tới các nguyên tắc căn bản, cách điều hành dạy giáo lý và việc biên soạn những sách bàn về vấn đề này[10].

Tiếp theo đường hướng của công đồng, ĐGH Phaolô VI cũng nổi bật về lòng nhiệt huyết với công việc huấn giáo. Trong năm 1971, ngài đã phê chuẩn “Chỉ nam huấn giáo tổng quát” (Directorium catechisticum generale) do Bộ Giáo Sĩ soạn thảo theo đề nghị của công đồng. Sách Chỉ nam về việc dạy giáo lý này vẫn còn là tài liệu căn bản cho việc khuyến khích và hướng dẫn việc canh tân giáo lý trong toàn thể Hội Thánh. Bằng huấn quyền, ngài cũng đã xác định vai trò và tầm quan trọng của việc dạy giáo lý trong đời sống và sứ vụ của Giáo Hội trong Đại Hội Quốc Tế về Giáo Lý năm 1971. Ngài nhắc lại đề tài này cách đặc biệt trong tông huấn Evangelii nuntiandi (số 44-48). Đức Phaolô VI cũng lập ra Hội Đồng Quốc Tế về Dạy Giáo Lý vào năm 1975 như đỉnh điểm của thao thức dành cho huấn giáo. Sau cùng, ngài đã muốn việc dạy giáo lý, nhất là giáo lý cho trẻ em và giới trẻ, phải là đề tài thảo luận cho Đại Hội chung lần IV của Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1977[11].

Nhìn ra các giáo hội địa phương, những năm hậu công đồng đã đánh dấu một giai đoạn canh tân, nhờ việc áp dụng kỹ thuật của khoa tâm lý sư phạm vào khoa huấn giáo. Các Hội đồng Giám mục đã chịu trách nhiệm xuất bản những sách giáo lý theo các lứa tuổi. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng cũng không thiếu những điểm tối. Một số nơi chủ trương rằng việc dạy giáo lý phải dẫn người thụ huấn nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong dòng lịch sử, chứ không cần phải truyền thông một mớ đạo lý. Hậu quả là có nhiều tín hữu không còn biết đến truyền thống đức tin và cầu nguyện của Giáo Hội là gì.

Sau đó với tông huấn hậu thượng hội đồng giám mục Catechesi tradendaedi 1979 của ĐGH Gioan Phaolô II, thì cuộc canh tân mới mang một diện mạo quyết định.

10. Huấn giáo trong thời ĐGH Gioan Phaolô II

Sau khi lên ngôi giáo hoàng, Đức Gioan Phaolô II đã ban hành tông huấn Catechesi tradendae (1979). Văn kiện này là một bản văn phong phú, mang tính quy về Kitô, đặt việc dạy giáo lý ở trung tâm sinh hoạt mục vụ của Giáo Hội và của các giáo phận. Tông huấn trình bày các giai đoạn chính trong lịch sử Giáo Hội và giải quyết những khó khăn lớn của thời hiện tại, tránh né hay khắc phục những đối nghịch sai lầm về phương pháp truyền thông đạo lý, giữa việc học thuộc lòng và nội tâm hóa, như được viết: “Những bông hoa của đức tin và lòng đạo đức sẽ không nảy nở trong vùng sa mạc của một huấn giáo không cần trí nhớ” (Catechesi tradendaedi, số 55).

Việc dạy giáo lý được tái đề nghị như phần thiết yếu của công cuộc giáo dục đức tin, mà nó bắt đầu với lời công bố Tin Mừng đầu tiên (kerygma) nhằm mục đích khơi dậy đức tin. Nhưng sau đó cũng cần phải kết hợp với “việc giảng dạy đạo lý Kitô giáo nói chung, một cách có tổ chức và hệ thống” (số 18).

Đến năm 1985 Đức Gioan Phaolô II lại triệu tập một thượng hội đồng giám mục nhân kỷ niệm 20 năm kết thúc công đồng Vaticanô II. Chính trong thượng hội đồng này mà nảy sinh lời yêu cầu cần có một sách giáo lý chung dựa theo những giáo huấn của công đồng Vaticanô II để trình bày đạo lý đức tin cho toàn thể giáo hội hoàn vũ. Thế là sách giáo lý thứ hai của Hội Thánh Công Giáo (GLHTCG), sau sách giáo lý Trentô, được chào đời vào ngày 11/10/1992, với tông hiến Fidei Depositum. Bố cục gồm có 4 phần: 1/ Tuyên xưng đức tin (dựa trên kinh Tin Kính); 2/ Cử hành mầu nhiệm (phụng vụ bí tích); 3/ Sống trong Đức Kitô (trình bày đời sống theo Thánh Thần và 10 giới răn); 4/ Việc cầu nguyện trong đời sống Kitô giáo (chú giải kinh Lạy Cha).

Sách GLHTCG đạt được ý nghĩa và tầm quan trọng rất đặc biệt, như được ghi nhận cách trang trọng sau 20 năm khởi sự biên soạn:

“Giá trị lớn lao và vẻ đẹp của quà tặng này đã được hàng Giám mục xác nhận qua việc các ngài đón nhận một cách tích cực và rộng rãi. Sách Giáo lý ấy nhắm trao vào tay các vị Giám mục như bản qui chiếu chắc chắn và đích thực để giảng dạy giáo lý công giáo và đặc biệt để soạn thảo các sách giáo lý địa phương. Sách Giáo lý cũng được mọi thành phần Dân Chúa đón nhận cách thuận lợi đáng kinh ngạc. Sách này cho đến nay đã được dịch ra hơn năm mươi thứ tiếng”[12].

Trong dịp này vị giáo hoàng kế nhiệm là Bênêđictô XVI lại ban hành một sách Toát Yếu Giáo Lý (Compendium) do chính ngài biên soạn khi còn trong cương vị Chủ tịch của Ủy Ban Hồng Y và Tổng Trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin. Đây là một tổng hợp, ngắn gọn, rõ ràng và đầy đủ phản ánh cách trung thành và chắc chắn sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo (1992), chứa đựng mọi yếu tố căn bản và nền tảng của đức tin Hội Thánh. Bản Toát Yếu tạo thành một thứ thủ bản “cầm tay – Vademecum” một lần nữa lại cho thấy “sự thống nhất và tính hiện thực bất tận của món quà vô giá mà Thiên Chúa đã ban tặng cho nhân loại: đó là Con Duy Nhất của Ngài, Ðức Giêsu Kitô, Ðấng là “Ðường, là Sự thật và là Sự sống” (Ga 14,6)” [13].

Kết luận

Việc dạy giáo lý đã được chuyển trao từ Thiên Chúa đến các tổ phụ, các ngôn sứ, những vị đại diện trong lịch sử cứu độ; từ tay của người Thầy Giêsu sang tay các Tông Đồ; từ tay người Thầy Giáo Hội sang tay của các giám mục, linh mục, giáo lý viên và cuối cùng là toàn thể các tín hữu. Huấn giáo quả là một nhiệm vụ của bất cứ ai có tấm lòng thao thức cho công cuộc tân loan báo Tin Mừng.

Như các Tông Đồ biết rõ điều các ngài rao giảng và chứng minh cho chân lý Ðức Kitô đến hy sinh mạng sống để lưu truyền kho tàng đức tin cho Giáo Hội, chúng ta hãy bắt chước các ngài trong sự dấn thân truyền trao những di sản cao quý mà chúng ta đã lãnh nhận cho thế hệ mai sau. Di sản ấy không chỉ là một kho báu để cất giữ và bảo tồn, không chỉ là những trang Sách Thánh bất biến được linh hứng, hay những tín điều được huấn quyền tuyên bố với ơn bất khả ngộ. Di sản ấy là hồng ân đức tin, là tất cả truyền thống của các Tông Đồ và của Giáo Hội đã từng được tuyên xưng, được cử hành, được sống và cầu nguyện, từ thời khai nguyên của Kitô cho đến hôm nay. Công cuộc giảng dạy và học hỏi giáo lý của chúng ta đi kèm với cử hành phụng vụ,với đời sống chứng tá và yêu thương, sẽ là những phương thế hữu hiệu làm cho kho tàng đức tin và ân sủng của Thiên Chúa được phân phát đến muôn thế hệ.

Sr. Maria Đinh Thị Sáng OP

 


[1] Về các giai đoạn lịch sử huấn giáo, xin xem bài tham luận của Marco Invernizzi tại Hội nghị “Hai mươi năm sau – Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đối với việc tân loan báo Tin Mừng” (19/5/2012) tại Rôma, được đăng trong website của hãng tin Zenit, ngày 26/5/2012 http://www.zenit.org/article-30826?l=italian; ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn hậu thượng hội đồng giám mục Catechesi tradendae, 1979; Alfred Läpple, Breve storia della catechesi, Queriniana, Brescia 1985.

[2] ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn hậu thượng hội đồng giám mục Catechesi tradendae, 1979, số 9.

[3] Xem Tông huấn Catechesi tradendae, số 11.

[4] Những nhà đại thần học vào thời Trung Cổ cũng không quên dành thời giờ viết những tài liệu giáo lý bình dân. Thí dụ: thánh Tôma Aquinô đã dành Mùa Chay năm 1273 để giảng về kinh Tin Kính, kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng, 10 giới răn, được coi như trụ cột của đời sống Kitô giáo. Đối với ngài, toàn thể đời sống Kitô giáo có thể tóm lại trong ba mục: những chân lý phải tin (kinh Tin Kính), những điều hy vọng mong ước (kinh Lạy Cha), và việc thi hành bác ái yêu thương (10 giới răn). Xem Phan Tấn Thành, Nhiệm vụ giảng dạy và thánh hóa của Giáo hội. Giải thích Giáo luật tập IV, Hoc viện Đa Minh 2012, tr. 64.

[5] Xem Phan Tấn Thành, Nhiệm vụ giảng dạy và thánh hóa của Giáo hội, tr. 65.

[6] Xem tông huấn Catechesi tradendae, số 13.

[7] Xem sắc lệnh Christus Dominus về nhiệm vụ của Giám mục, số 14; Sắc lệnh Presbiterorum Ordinis về chức Linh mục, số 6.

[8] Xem sắc lệnh Christus Dominus về nhiệm vụ của Giám mục, số 14

[9] Xem sắc lệnh Apostolicam Actuositatem về Tông Đồ giáo dân, số 10, 11…

[10] Xem sắc lệnh Christus Dominus về nhiệm vụ của Giám mục, số 44.

[11] Xem tông huấn Catechesi tradendaedi 1979, số 2.

[12] ĐGH Bênêđictô XVI, Tự sắc Chấp thuận và Công bố bản Toát Yếu Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, 28/6/2005.

[13] Sđd.

Comments are closed.