Năm Đức tin với Thánh Tôma – Bài 36

0

Năm đức tin với thánh Tôma  Bài 36

 Điều răn thứ sáu: NGƯƠI KHÔNG ĐƯỢC NGOẠI TÌNH

(Xh 20,14)

Lm Giuse Phan Tấn Thành, OP

            Thánh Tôma đã đọc mười điều răn theo một “hệ trật giá trị” từ trên đi xuống. Trước hết là ba điều răn liên quan đến Thiên Chúa. Liền đó là điều răn liên quan đến cha mẹ là những người cộng tác với Thiên Chúa trong việc ban cho ta sự sống. Kế đến, ta phải tôn trọng sự sống của tha nhân (điều răn thứ năm), những người liên kết nên một với tha nhân (điều răn thứ sáu), và tôn trọng tài sản của tha nhân (điều răn thứ bảy).

            Thật vậy, điều răn thứ sáu được nhìn trong bối cảnh của công bằng và tình yêu. Nguyên văn Cựu ước (Xh 20,14; Đnl 5,18) viết: “Ngươi không được ngoại tình”. Ngoại tình là lỗi sự chung thủy với người phối ngẫu, một yêu sách của công bằng và tình yêu, bởi vì hai người đã “thuộc về nhau” đã “trở thành một thân xác”.  Điều răn này cũng cấm tà dâm: thân xác của chúng ta đã thuộc về đức Kitô do bí tích thánh tẩy, vì thế không được phép trao cho ai khác. Đối lại, sự giao hợp vợ chồng trở thành hành vi nhân đức khi được thực hiện trong ý hướng bác ái và công bằng.

            Bài giáo huấn được chia làm ba phần:

            1/ Ngoại tình là điều xấu, cả về phía người vợ cũng như phía người chồng.

            2/ Điều răn thứ sáu không chỉ ngăn cấm ngoại tình mà cũng cấm tà dâm nữa.

            3/ Lý do của việc ngăn cấm ngoại tình và tà dâm.

 ——————–

             Sau việc ngăn cấm sát sinh là việc ngăn cấm ngoại tình, và thật là hợp lý, bởi vì hai vợ chồng đã nên một thân thể, như lời Kinh thánh  “Cả hai sẽ thành một xương một thịt” (St 2,24), cho  nên sau sự tổn thiệt (sinh mạng) cho một người, thì không có sự tổn thiệt nào nặng hơn là sự tổn thiệt gây cho kẻ đã kết hợp với người ấy.

 I.  Tội ngoại tình

            Việc ngoại tình là điều ngăn cấm cho cả người vợ lẫn người chồng. Tuy nhiên, trước hết cần phải nói đến  việc ngoại tình của người vợ bởi vì xem ra nặng hơn.

A. Ngoại tình của người vợ

            Khi người vợ ngoại tình thì mắc phải ba tội trọng, đã được sách Huấn ca đề cập: “Người đàn bà bỏ chồng cũng thế… trước hết, thị không tuân giữ luật của Đấng Tối Cao, tiếp đến, thị mắc lỗi với chồng; sau nữa, thị ngoại tình vì thói dâm đãng và sinh ra những đứa con bởi người đàn ông khác” (Hc 23,22-23).

            1/ Vì thế, trước hết chị ta phạm tội bất trung, bởi vì đã bất trung với luật Thiên Chúa ngăn cấm ngoại tình. Ngoài ra, chị ta đã hành động trái ngược lệnh truyền của Thiên Chúa: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,6). Cũng vậy, chị ta đã phạm tội lỗi luật của Hội thánh và  Bí tích. Thật vậy, hôn nhân là được cử hành trước mặt Hội thánh, và ra như chính Thiên Chúa được mời gọi làm chứng và bảo đảm cho lời thề trung tín: “Đức Chúa là chứng nhân giữa ngươi và người đàn bà ngươi đã cưới trong tuổi thanh xuân. Chính ngươi đã phản bội nó, mặc dầu nó là bạn đường và là người vợ kết ước với ngươi” (Ml 2,14). Vì vậy, chị ta đã phạm tội chống lại luật Thiên Chúa, chống lại điều răn của Hội thánh và chống lại Bí tích thánh thiêng của Thiên Chúa.

            2/ Thứ đến, chị ta phạm tội phản bội vì đã từ bỏ chồng mình: “Vợ không có quyền trên thân xác mình, nhưng là chồng” (1Cr 7,4). Vì thế nếu chồng không ưng thuận thì chị ta không được phép  kiêng cữ. Do đó, ngoại tình là hành động phản bội bởi vì khi trao thân mình cho người khác thì giống như  một tôi tớ đi theo phục vụ người chủ khác vậy: “Người bạn đường thời son trẻ, ả đã bỏ rơi, giao ước của Thiên Chúa, ả hằng quên lãng” (Cn 2,17-18).

            3/ Thứ ba, người đàn bà ngoại tình đã phạm tội trộm cắp, bởi vì chị ta đã sinh ra những đứa con với người đàn ông không phải là chồng của mình; và đây là sự trộm cắp nặng nề nhất, bởi vì  chị ta đã trao gia tài cho những đứa con ngoài gia đình. Bởi vậy, chị phải lo liệu cho những đứa con đó đi tu hoặc tìm con đường khác để khỏi thừa kế tài sản của người chồng.

            Tóm lại, một phụ nữ ngoại tình thì mang tội phạm thánh, phản bội và  trộm cắp.

B.     Ngoại tình của người chồng

            Các ông chồng ngoại tình thì cũng không nhẹ tội hơn các bà vợ, mặc dầu các ông không nghĩ như vậy. Có ba chứng cớ rõ ràng.

            1/ Chứng cớ thứ nhất là sự bình đẳng giữa vợ chồng, bởi vì như thánh Phaolô nói,  “chồng không có quyền trên thân xác mình, nhưng là vợ” (1Cr 7,4). Vì thế, trong lãnh vực hôn nhân,  người này muốn làm gì thì cũng cần có sự ưng thuận của người kia. Nhằm nói lến điều ấy, Thiên Chúa đã  dựng nên người phụ nữ không phải từ bàn chân, cũng chẳng phải từ cái đầu, mà là từ cạnh sườn của người đàn ông[1]. Dù sao, hôn nhân chỉ đạt tới  tình trạng hoàn hảo với luật của Đức Kitô, bởi vì người đàn ông Do thái có thể lấy nhiều vợ, nhưng một người vợ không được lấy nhiều chồng, vì thế chưa có bình đẳng.

            2/ Chứng cớ thứ hai là nam giới có sức mạnh để tự chủ,  đang khi nữ giới dễ bị lôi cuốn bởi đam mê : “Anh em là những người chồng, trong cuộc sống chung, anh em nên hiểu rằng đàn bà thuộc phái yếu” (1Pr 3,7). Vì vậy, nếu anh em đòi hỏi vợ mình điều gì mà chính anh em không giữ được thì anh em lại là những người bất trung.

            3/ Chứng cớ thứ ba là  uy quyền của người chồng. Thật vậy,  chồng là người đứng đầu của vợ, như có lời đã nói: “Phụ nữ không nên lên tiếng trong cộng đoàn… Nếu họ muốn tìm hiểu điều gì, thì cứ về nhà hỏi chồng” (X. 1Cr 14,35). Người chồng là thầy dạy của vợ mình, vì thế, Thiên Chúa đã trao điều răn cho một người đàn ông (ông Môsê). Thế nhưng  một vị linh mục mắc tội nặng hơn một giáo dân, và một giám mục mắc tội nặng hơn linh mục nếu không tuân giữ điều mà mình có nghĩa vụ phải dạy. Tương tự như thế, nếu người chồng phạm tội ngoại tình là mất lòng tín trung vợ chồng mà họ có nghĩa vụ phải giữ.

            Tuy nhiên, các bà vợ cũng nên chú ý đến lời của Chúa Giêsu: “Hãy làm tất cả những điều họ nói, nhưng đừng làm theo điều họ làm” (Mt 23,3)

 II. Phải tránh tội tà dâm

             Như vậy, Thiên Chúa cấm ngoại tình cả về phía nam cũng như về phía nữ. Tuy nhiên cũng nên biết rằng có những kẻ cho rằng ngoại tình là tội trọng, còn tà dâm thì không phải là tội. Chính vì muốn nhắm đến họ mà thánh Phaolô đã viết: “Thiên Chúa sẽ luận phạt các kẻ tà dâm và ngoại tình” (Dt 13,4), và: “Anh em đừng lầm: Những kẻ dâm đãng… ngoại tình, truỵ lạc, kê gian sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp” (1Cr 6,9). Chẳng ai bị loại ra khỏi Nước Thiên Chúa nếu không phạm tội trọng; vì thế tà dâm là một tội trọng.

            Tuy nhiên, người ta có thể vặn lại: chẳng có lý do gì mà tà dâm là tội trọng, bởi vì đâu có chuyện trao thân thể đã thuộc về người khác như trường hợp ngoại tình?  Xin trả lời rằng: bạn không trao một thân thể đã thuộc về người vợ như trường hợp ngoại tình, nhưng bạn đã trao một thân thể đã thuộc về Đức Kitô, bởi vì thân thể đã được trao cho Người và được thánh hóa trong Bí tích Rửa tội. Do đó, nếu không ai được phép phản bội người phối ngẫu, thì lại càng không được phép phản bội Đức Kitô: “Anh em há chẳng biết rằng thân thể của anh em là những chi thể của Đức Kitô sao? Vì thế, chẳng lẽ tôi lại đem những chi thể của Đức Kitô mà làm cho chúng trở thành những chi thể cho một cô gái điếm sao? Thiên Chúa ngăn cấm làm như vậy” (1Cr 6,15). Vì thế thật là sai lầm khi nói rằng tà dâm không phải là một tội trọng.

            Bởi vậy, điều răn “người không được ngoại tình” không chỉ ngăn cấm ngoại tình mà còn ngăn cấm mọi hành vi tính dục ngoài giao hợp hôn nhân.

            Cũng nên biết rằng có người cho rằng: sự giao hợp vợ chồng không phải là không có tội. Nhưng đó là một ý kiến lạc giáo, bởi vì  thánh Phaolô đã nói: “Ai nấy phải tôn trọng hôn nhân, chớ làm cho loan phòng ra ô uế” (Dt 13,4). Do đó sự giao hợp vợ chồng không những là đôi khi không có tội, mà còn đáng công trạng đời đời đối với những ai có đức mến; tuy nhiên nó có thể đôi khi là một tội nhẹ và đôi khi là một tội trọng.  Thực vậy, khi sự giao hợp nhằm ý định là sinh đẻ con cái thì đó là một hành vi nhân đức; khi được thực hiện với ý định trao cho người phối ngẫu điều mà mình có nghĩa vụ  thì là một hành vi công bằng; nếu nó nhằm thỏa mãn một đòi hỏi xác thịt thì có tội nhẹ khi không vượt ranh giới hạn của hôn nhân; và sẽ là tội trọng nếu nó vượt ranh giới đến nỗi giả như có thể được thì người chồng sẽ giao hợp với một phụ nữ khác[2].

III. Năm lý do ngăn cấm tội tà dâm

            Ngoại tình và tà dâm đều bị ngăn cấm vì nhiều lý do.

            1/ Trước hết, vì chúng mang lại sự chết cho linh hồn: “Ai ngoại tình thì mất hết lý trí bởi vì nhẹ dạ” (Cn 6,32). “Nhẹ dạ” có nghĩa là người ấy để cho thân xác thống trị tinh thần.

            2/ Thứ đến, người ngoại tình làm mất sự sống, vì chiếu theo Luật Môsê, nếu ai phạm tội thì sẽ phải chết, như chúng ta đọc thấy trong sách Lêvi (20,10) và sách Đệ Nhị Luật (22,22). Cho dù người ấy không bị trừng phạt về thân thể đi nữa thì đó là điều tai hại đối với họ bởi vì hình phạt thân thể nếu được lãnh nhận với được lòng kiên nhẫn thì sẽ mang lại sự tha thứ tội lỗi; nhưng vì tội của họ không bị trừng trị cho nên họ sẽ bị phạt trong cuộc đời mai sau.

            3/ Thứ ba, ai phạm tội này thì sẽ tiêu tán tài sản, giống như đã xảy ra với đứa con hoang đàng: “anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình” (Lc 15,13). Sách Huấn ca cũng viết: “Đừng trao thân cho đĩ điếm, kẻo mà mất cả thân xác và tài sản” (Hc 9,6).

            4/ Thứ tư, kẻ ngoại tình làm sỉ nhục con cái: “Những con cái bọn ngoại tình sẽ chẳng ra chi, giống nòi kẻ chung chạ bất chính rồi sẽ lụi tàn. Dầu chúng có sống lâu trăm tuổi, thì cũng kể bằng không không vậy” (Kn 3,16-17). Còn Tân ước lại nói rằng: “Chẳng vậy, con cái anh em sẽ là ô uế, trong khi thật ra chúng là thánh” (1Cr 7,14). Những đứa con ngoại tình sẽ không được giữ các chức vụ trong Giáo hội[3], mặc dù có thể được nhận vào hàng giáo sĩ.

            5/ Thứ năm, tội ngoại tình làm mất danh giá, cách riêng về phía người phụ nữ: “Mọi đàn bà đàng điếm sẽ bị giẫm lên như phân ô uế trên lối đi” (Hc 9,10), còn với người nam thì  người ta bảo rằng: “Nó chuốc lấy cho mình đòn vọt và mang tiếng xấu, nỗi ô nhục của nó không làm sao gột rửa” (Cn 6,33).

            Thánh Grêgôriô nói rằng: so với những tội về tinh thần, thì  những tội về thân xác nhẹ hơn nhưng lại hổ thẹn hơn, bởi vì tội nhục dục đưa chúng ta ngang hàng  với  những thú vật. Vịnh gia cũng nói: “Dù sống trong danh vọng, con người cũng không hiểu biết gì; thật nó chẳng khác chi con vật một ngày kia phải chết” (Tv 48,21).


[1] X. St 2,21-23. Người đàn bà không được dựng nên từ cái đầu của ông  Ađam để không trở thành kẻ thống trị. Người đàn bà không được dựng nên từ cái chân của ông  để không trở thành kẻ tôi đòi. Người đàn bà được dựng nên cạnh sườn để trở thành một người bạn.

[2] Nên bổ túc nhận định của thánh Tôma với đạo lý của công đồng Vaticanô II, được sách Giáo lý Hội thánh Công giáo trưng dẫn ở số 2362.

[3] Trước đây, giáo luật không có các con ngoại hôn được giữ các chức vụ cai quản trong Giáo hội. Bộ giáo luật hiện hành đã bỏ sự ngăn cấm ấy.

Comments are closed.