15 ngày với Thánh Đa Minh – Dẫn nhập

0

15 NGÀY VỚI THÁNH ĐA MINH

Cha Alain Quilici là một tu sỹ dòng Đa Minh. Ngoài các chức vụ trong Dòng, cha thi hành tác vụ giảng thuyết qua việc đồng hành thiêng liêng trong môi trường sinh viên, giáo xứ và các phương tiện truyền thông.

Phần lớn các bản văn trích trong tập sách này được rút ra từ hai tác phẩm của cha M. H. Vicaire, OP. :

– Saint Dominique, La VIE tr. Apostolique, Paris, Cerf, 1953 (thêm ấn bản 1965).

– Saint Dominique et Ses Frères, Evangile ou Croisade, Paris, Cerf, 1967.

Các chữ viết tắt :

VIE    Saint Dominique, La VIE tr. Apostolique.
EVA   Saint Dominique et Ses Frères, Evangile ou Croisade.
LIB    Libellus, khoảng năm 1233-1234, do chân phúc Giođanô Saxonia, người kế vị                   thánh Đa Minh trong vai trò lãnh đạo Dòng Giảng Thuyết.
M      Chín cách cầu nguyện của thánh Đa Minh, in trong Saint Dominique, La VIE tr.                 Apostolique.
HP    Hiến Pháp Dòng Anh em Giảng Thuyết.
 


DẪN NHẬP

Thánh Đa Minh là một người sống vào đầu thế kỷ XIII. Khởi đầu 15 ngày sống hành trình thiêng liêng với thánh nhân, thiết tưởng cũng nên nhắc lại rằng một người sống trong Giáo hội vào thời Trung Cổ hẳn không có cung cách sống và suy nghĩ như chúng ta ngày nay. Bối cảnh chính trị và tôn giáo lúc bấy giờ hẳn khác với tình hình hiện nay, và ngay cả tâm thức con người cũng khác. Tuy vậy, vẫn có một số nét giống với thời nay : đó là sự nở rộ các cộng đoàn tu trì mới, sự lan rộng của Hồi giáo, sự khai sinh nhiều phong trào sử dụng Thánh Kinh và đạo lý Kitô giáo nhưng không chấp nhận những đòi hỏi của Kitô giáo. Và trên tất cả, trong tâm hồn con người vẫn có những vấn đề : vấn đề đau khổ và sự chết, lòng khát khao cầu nguyện và làm thế nào để cầu nguyện thực sự, một số người khát khao tìm Thiên Chúa, trong khi một số người lại dửng dưng…

Mặc dù thánh Đa Minh cách xa chúng ta tám thế kỷ, nhưng nhân cách, cảm thức và tính năng động của Người có liên hệ đến chúng ta. Càng biết nhiều về Người, ta càng yêu mến Người hơn, và cũng yêu mến các anh chị em trong Dòng của Người. Với các anh chị em, thánh Đa Minh quả là bậc xuất chúng, anh hùng trong cầu nguyện, kiên trì trong giảng thuyết, nhiều yêu cầu với các anh em, tỉ mỉ trong công việc, luôn luôn trên đường, không bao giờ ngơi nghỉ. Thánh Đa Minh là một vị Thầy, Người có những trực cảm sâu xa, đã biết kiện toàn và làm cho chúng thành hình. Người luôn ân cần với những người thân cận, Người đã hướng dẫn và đồng hành với họ trong đời sống Kitô giáo. Người chính là vị Thầy tâm linh chúng ta chạy đến cầu xin để Người hướng dẫn chúng ta trong suốt 15 ngày tĩnh tâm này.

Đa Minh chào đời khoảng năm 1170 tại Castille. Ngay từ thời niên thiếu, cậu đã có khát vọng tu trì, và được huấn luyện vững chắc về tinh thần, rồi Người gia nhập cộng đoàn giáo sỹ của Giám mục giáo phận Osma ở miền Bắc Tây Ban Nha. Có lẽ Đa Minh sẽ mãi là thành viên và lưu lại suốt đời trong “Kinh sỹ hội” này với tư cách là phó Bề trên. Nhưng Người đã phải cùng với vị Giám mục của mình thực hiện sứ vụ ngoại giao tại Scandinavie. Khi đi qua miền Nam nước Pháp, các ngài gặp các vị đặc sứ của Đức Giáo hoàng, từ nhiều năm nay đang cố gắng khuất phục một phong trào của những kẻ tự cho mình là Kitô hữu đích thực : những người theo phái Cathare hay Albi. Đó là một cú sốc lớn trong cuộc đời của Đa Minh. Người sững sờ khi khám phá ra rằng có những kẻ tự xưng mình là Kitô hữu mà không nhìn nhận Thiên tính của Đức Kitô, không tôn kính thánh giá, không yêu mến Giáo hội Đức Kitô,… Cú sốc quá mạnh ấy đã khiến Người rũ bỏ tất cả, và quyết định lưu lại vùng đất này. Người trú ngụ tại Fanjeaux, gần Carcassone. Người lưu lại đây 9 năm, giảng thuyết, cầu nguyện, tranh luận, mời gọi gặp gỡ và bàn luận, đi rảo khắp vùng, ban ngày đi rao giảng Tin Mừng và ban đêm cầu nguyện cho những người anh em của Đức Kitô đã lạc xa khỏi đức tin chân thực và đã để mình bị mê hoặc bởi lời lẽ dối trá. Đối với Đa Minh, ơn cứu độ vĩnh cửu không phải là lời lẽ suông. Người thấy rằng những linh hồn này bị đày xuống địa ngục và họ không thể tự cứu mình. Người huy động mọi sức lực để cứu các linh hồn này. Và như thế, ơn cứu độ các linh hồn là mối bận tâm chính của Người.

Khi dẫn dắt được một số tâm hồn trở về, cha Đa Minh đã qui tụ họ lại tại một đan viện ở Prouilhe dưới chân đồi Fanjeaux. Người xem địa điểm này là nơi dành riêng để cầu nguyện và từ đó phát triển ra nhiều đan viện Đa Minh, với ơn gọi là cầu nguyện liên lỉ, cả ngày lẫn đêm để cầu xin ơn cứu độ cho các linh hồn và xin cho việc giảng dạy Tin Mừng tác động đến các tâm hồn.

Ít lâu sau, một số người đến sống với Đa Minh. Người đã qui tụ họ lại trong một căn nhà tại Toulouse của một thành viên trong nhóm và giới thiệu với Giám mục địa phương một cộng đoàn những người giảng thuyết Tin Mừng. Nhóm người này không phải là đan sĩ như các đan sĩ Xitô, vốn sống trong các đan viện để chiêm niệm và làm việc tay chân để sinh sống họ cũng không phải là các linh mục quản xứ, vốn là những người gắn bó với một địa phương mà vào thời ấy, thường coi sóc tài sản đôi khi quan trọng ; họ cũng không phải là các “kinh sỹ triều” thuộc về linh mục đoàn của giám mục (presbyterium : từ ngữ này chỉ toàn bộ các linh mục của một giáo phận qui tụ quanh giám mục). Nhóm người của Đa Minh là những “tông đồ” hoàn toàn hiến thân cho việc giảng thuyết và sống thành cộng đoàn.

Sau đó, Đa Minh cùng với giám mục Toulouse đi Rôma tham dự công đồng Laterano IV được triệu tập tại đây. Thánh nhân cũng trình lên Đức giáo hoàng, cho Giáo hội phổ quát điều Người đã trình cho Giám mục Toulouse. Tuy nhiên, Công đồng nhận định rằng đã có quá nhiều thể chế tu trì và cần hạn chế lại. Do đó, Đa Minh được yêu cầu về tham khảo các anh em ở Toulouse để chọn một qui luật tu trì sẵn có làm nền tảng, rồi sau đó trở lại Rôma để xin phê chuẩn.

Đa Minh và các anh em đã nhân cơ hội này chọn một Tu luật phù hợp với hứng khởi của mình, đó là Tu luật đã được thánh Âu Tinh soạn thảo thời xa xưa. Tu luật này nhằm hiện tại hóa nếp sống của các tông đồ thời sau lễ Hiện xuống như sách Công vụ Tông đồ thuật lại. Do đó hình thành nếp sống tông đồ – Vita apostolica – một lối sống noi theo nếp sống của cộng đoàn tiên khởi ở Giêrusalem : “Các tín hữu chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng… Các tín hữu chỉ có một lòng một ý. Không một ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung” (Cv 2,42 và 4,32).

Như thế, Dòng Anh em Giảng thuyết được khai sinh vào khoảng cuối năm 1216, đầu năm 1217. Thánh Đa Minh dùng 4 năm tại thế còn lại (Người qua đời vào năm 1221) để tổ chức Dòng của mình. Dầu vậy, Người không xao lãng việc giảng thuyết cũng như việc cầu nguyện.

Dấu ấn thánh Đa Minh để lại cho các anh em là một con người say mê. Người yêu mến Chúa Kitô, sống với Chúa Kitô hằng ngày đang khi dong duổi trên các nẻo đường để giảng thuyết như xưa kia Đức Kitô đã làm, và tại nhà trong lúc cầu nguyện ban đêm như Đức Giêsu đã làm. Đó là những đêm dài qua đi trong cầu nguyện và Đa Minh không bỏ qua bất cứ cơ hội nào để rao giảng Tin Mừng.

Nếu như cá nhân thánh Đa Minh không lưu lại bản văn nào, thì những người đồng thời với thánh nhân đã khôn ngoan ghi lại nhiều kỷ niệm. Chúng ta phải đọc lại các vị này.

1. Khoảng năm 1233-1234, chân phước Giođanô Saxonia, người kế vị thánh Đa Minh trong vai trò lãnh đạo Dòng Giảng thuyết, đã soạn thảo một tập sách nhỏ (Libellus), trong đó ghi lại những chi tiết quí giá về việc thành lập Dòng.

2. Để tiến hành việc phong thánh cho Đa Minh vào ngày 3.7.1234, một cuộc điều tra được tổ chức, đây là cơ hội thuận tiện để nhiều anh em thuật lại những kỷ niệm của mình.

3. Vào cuối thế kỷ, khoảng năm 1288, một tập sách nhỏ rất quí giá được soạn thảo : Chín cách cầu nguyện của thánh Đa Minh. Có lẽ tập sách này do các anh em tại tu viện Bologna soạn thảo dựa theo lời kể của chị Cecilia, một nữ đan sỹ Đa Minh, một người đã biết nhiều về thánh Đa Minh và qua đời lúc tuổi già.

Cầu nguyện với thánh Đa Minh

Người ta khó có thể tìm được một vị thầy về đời sống tâm linh như thánh Đa Minh. Nhưng như đã nói, cần phải hiểu đúng bối cảnh lịch sử. Có lẽ không thể tìm thấy nơi thánh Đa Minh một hệ thống giáo lý như nơi thánh Gioan Thánh giá, thánh Têrêxa Avila hay thánh Ignatio Loyola. Các vị này sống vào thời đại “những đường hướng tâm linh”. Các vị đã được Chúa Thánh Thần ban ơn để giúp cho những tâm hồn đang khao khát sự hiệp thông có được những điểm mốc cho thấy sự tiến triển. Nhờ vậy người ta có thể tổ chức đời sống tâm linh của cá nhân mình. Có người hướng dẫn tốt để đồng hành, mỗi người có thể nhận ra mình đang ở đâu và tiến triển như thế nào.

Nơi thánh Đa Minh thì không như thế, thánh nhân không có mối quan tâm như vậy. Sẽ là sai lầm về thời đại nếu yêu cầu Người làm công việc này. Trên tất cả, thánh Đa Minh để lại một gương mẫu. Những ai đã nhìn nhận Người là một mẫu gương trong đời sống Kitô giáo và cảm thấy được mời gọi sống như Người đã sống, thì sẽ phải cố gắng để tái khám phá và thích ứng với hoàn cảnh riêng của mình, dựa trên ba trục chính không thể tách rời nhau của cuộc đời thánh Đa Minh, đó là nhiệt tâm tông đồ, đời sống chung, chuyên cần cầu nguyện.

Thật vậy, trước tiên thánh Đa Minh đã để lại dấu ấn về một con người không bao giờ bỏ lỡ cơ hội để loan báo Tin Mừng. Mọi nhân chứng đều xác nhận điều đó. Dưới đây là một chứng từ :

Cha Đa Minh tràn đầy mối thương cảm với người lân cận và rất khát khao ơn cứu độ của người khác. Chính Người thường xuyên giảng thuyết, và bằng mọi phương thế cũng như theo khả năng, Người khuyến khích các anh em giảng thuyết và sai họ đi rao giảng, Người thông báo cho các anh em như thế và tha thiết xin họ quan tâm nhiều đến ơn cứu độ các linh hồn” (VIE, Tường trình của anh Gioan người Tây Ban Nha, s.26).

Về đời sống chung, đó là nét đặc trưng của Dòng do thánh Đa Minh sáng lập. Dòng này không dựa trên một cá nhân, như hình thức đan viện theo Tu Luật thánh Biển Đức, nhưng dựa trên cộng đoàn các anh em, trên sự bàn tính với nhau, trên sự thỏa thuận huynh đệ, đặt tài sản làm của chung, cử hành phụng vụ trong cộng đoàn, bầu cử bề trên ở mọi cấp bậc… Thánh Đa Minh coi trọng hình thức này, và đã có khả năng thiên phú để tổ chức cơ chế trong Dòng cách bền vững, trong đó tự do của mỗi anh em được diễn tả cùng với sự điều chỉnh thường xuyên về cả luật pháp lẫn đời sống thường ngày.

Một dấu ấn khác của thánh Đa Minh là một con người thường xuyên cầu nguyện. Thánh nhân cầu nguyện mọi nơi, mọi lúc. Thánh nhân di chuyển nhiều và cầu nguyện trên đường đi để không bao giờ mất liên lạc với Chúa. Nếu nghe thấy chuông từ đan viện, Người liền đến để cùng với các đan sỹ hát kinh Phụng Vụ. Người đi hành hương tới Rocamadour và Rôma. Nhưng trên tất cả, Người cầu nguyện ngay tại tu viện, giữa anh em. Người dâng lễ hầu như mỗi ngày và theo các nhân chứng, Người xúc động đến nỗi rơi nước mắt khi nghĩ đến cuộc khổ nạn của Đấng Cứu Thế. Người muốn rằng các anh em phải có mặt tại cung nguyện và tham dự cách sốt sắng nhiệt thành, và Người nghiêm khắc nhắc nhở họ khi cần. Nhưng điều đáng để ý nhất, đó là những đêm dài cầu nguyện với những tiếng kêu than có thể nghe được từ các hành lang. Người cầu nguyện với cả thân mình, đứng thẳng, cúi mình, nằm phục xuống đất.

Đó thực sự là một cuộc đối thoại liên lỷ với vị Thầy là Đức Kitô chịu đóng đinh, Đấng mà Cha đã gặp gỡ qua các trang sách Tân Ước vẫn mang theo bên mình, hay đã thuộc lòng. Cùng với các tông đồ, các anh em và với Đức Kitô ngay giữa lòng Giáo hội, cha Đa Minh dâng lên Thiên Chúa Cha lòng kính phục, lời ngợi khen và tạ ơn, nhưng nhất là để các vị chuyển cầu cho. Đây là nét chính yếu trong lời cầu nguyện của thánh Đa Minh. Cho dù cầu nguyện một mình trong đêm, không bao giờ Cha xa cách thế nhân. Cuộc đối thoại của Cha với Đức Kitô luôn hướng tới những tâm hồn mà vì họ, Đức Kitô đã hiến dâng mạng sống” (EVA tr. 14).

Đây là người của Thiên Chúa mà chúng ta hãy dõi theo. Xin Chúa ban ơn để chúng ta trở nên giống như vị thánh của chúng ta.

Comments are closed.