Chân dung Cha Đa Minh theo các nhân chứng – Phần 2

0

 CHÂN DUNG CHA ĐA MINH THEO CÁC NHÂN CHỨNG

TIẾN TRÌNH PHONG THÁNH TẠI TOULOUSE

(Học viện Đa Minh, Tiến trình phong thánh tại Bologna, Chân dung Cha Đa Minh theo các nhân chứng, 2012, tr.118-154)

Giới thiệu

Như đã được nói trong chương trước, nguyên nhân và tiến trình đưa đến việc phong thánh của cha Đa Minh được khởi đầu vào ngày 13 tháng 07 năm 1233 bởi sự ủy nhiệm của Đức Giáo hoàng bổ nhiệm ba ủy viên hội đồng cho ủy ban điều tra tại Bologna. Khi hoàn thành nhiệm vụ của mình tại Bologna, vào ngày 19 tháng 08, những người này đã chỉ định một tiểu ban cho việc điều tra ở Toulouse, cụ thể là: Phêrô, Viện phụ Đan viện thánh Saturninus; Raymond Donat, Tổng Phó tế nhà thờ thánh Stêphanô; và Pons, Tổng Phó tế nhà thờ thánh Saturninus.

Augusti nô trợ tá tại Toulouseđã thực hiện tiến trình điều tra nhờ những người trung gian, cụ thể là: Bề trên Dòng Đa Minh tại Prouille, cùng với một anh em Đa Minh khác và hai đan sĩ tại Đan viện Pamiers. Mười ba lời cung khai đầu tiên được lấy tại Pamiers từ người dân ở vùng lân cận. Tại Prouille, có lẽ những lòi cung khai được lấy xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau. Vì thế, về cơ bản, thủ tục điều tra tại Toulouse chỉ mang tính chất địa phương, mặc dù hơn 300 nhân chứng làm chứng. Chỉ có lời chứng của một vài người được ghi chép lại cách chi tiết. Muốn tìm bản văn Latinh xin đọc ở Monumenta  Ordinis  Fratrum Praedicadorum Historia, XVI, 176-87.

Bản văn

 ỦY BAN Ở BOLOGNA 

GỞI ỦY QUYỀN ĐẾN NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC ỦY NHIỆM TẠI TOULOUSE

Chúng tôi, Tancred, Tổng Phó tế nhà thờ ở Bologna, Thomas Ubaldino, Bề trên Tu viện thánh Maria Reno, và anh Palmerio, kinh sĩ nhà thờ Chúa Ba Ngôi Campagnola, thuộc Dòng thánh Augustinô, là những thẩm phán được Đức Giáo hoàng ủy nhiệm. Chúng tôi kính chào trong Thiên Chúa, xin gởi đến quý vị khả kính và khôn ngoan: Viện phụ thuộc nhà thờ thánh Stêphanô ở Toulouse, và đến Pons, Tổng Phó tế nhà thờ thánh Saturninus ở Toulouse.

Gần đây, cha Henry đáng kính, Giám mục Bologna, tất cả các giáo sĩ cùng với thị trưởng và cư dân của thành phố này, cũng như “các học giả đại học đang sinh sống ở Bologna”, đã trình các bức thư và gởi các sứ giả riêng, vừa giáo sĩ lẫn giáo dân, lên Đức Giáo hoàng và toàn thể Giáo triều Rôma để thể hiện lòng sùng đạo của họ và khẩn khoản nài xin Đức Giáo hoàng phong thánh và chuẩn y cho thi hài của cha Đa Minh, Đấng sáng lập, đồng thời là vị Tổng quyền tiên khởi của Dòng Anh Em Giảng Thuyết, và xin ghi danh cha Đa Minh vào niên lịch kính các thánh. Do đó, từ các lá thư gởi cho chúng tôi, Đức Giáo hoàng đã cho công bố rằng cuộc đời cũng như các hoạt động của cha Đa Minh, nhờ đó thánh nhân được hưởng ân huệ trước mặt Thiên Chúa và con người, cũng như công bố các phép lạ mà do quyền năng Thiên Chúa đã thực hiện từ thi hài thánh thiện của người, phải được điều tra theo hình thức của Giáo hội nhờ các lời chứng nhân thích hợp và phải được chất vấn cẩn thận với tất cả sự chuyên cần để xác định sự thật này.

Những lời phát biểu của các chứng nhân phải được đính kèm với một con dấu và được gởi lên Đức Giáo hoàng và Giáo triều Rôma qua những sứ giả thông thường và đáng tin cậy, khi mệnh lệnh ban hành được đón nhận. Chúng tôi đã nhận được nhiều lời chứng phong phú về cuộc đời và các hoạt động của cha Đa Minh ở Ý cũng như về một vài phép lạ của người. Nhưng bởi vì chúng tôi đã nghe được rằng có thể được chứng minh nhiều lần trong vùng của quý vị về cuộc sống, các hoạt động, sự thánh thiện, và những phép lạ mà chúng tôi không có thông tin về chúng ở đây, chúng tôi nài xin và thỉnh cầu quý vị trong Thiên Chúa. Bằng quyền hành được ủy thác cho chúng tôi, chúng tôi chỉ thị rằng quý vị hãy đón nhận các chứng nhân và khảo sát các lời chứng cách cẩn thận dưới lời thề theo mô hình của Giáo hội và thích hợp, một anh em trong Dòng sẽ giới thiệu cho quý vị những câu hỏi về cuộc đời và những hoạt động của cha Đa Minh mà nhờ đó người có được ân huệ nơi Thiên Chúa và người đời và về một vài phép lạ mà Thiên Chúa có thể đã thực hiện trong vùng của quý vị nhờ sự thánh thiện của cha Đa Minh.

Những nhân chứng này phải được kiểm tra xem nguồn hiểu biết của họ về những điều mà họ đã khẳng định là từ đâu, làm thế nào họ biết được điều đó; và khi họ xem xét các phép lạ, chúng xảy ra vào mùa nào, ngày tháng nào, nơi nào, và có sự hiện diện của những ai khi các phép lạ xảy ra; ai xin ơn, sử dụng ngôn từ gì, và tên của những người nhận được phép lạ là gì; họ đã biết những người này trước khi phép lạ xảy ra hay biết sau, những người được ơn đó đã mắc bệnh bao lâu rồi, bản chất căn bệnh của họ là gì, và họ đã phục hồi sức khỏe tới mức nào. Các sự kiện này và tất cả những tình huống phải được điều tra cẩn thận và lời chứng, gồm cả những câu hỏi và những trả lời, được ghi chép lại trong bản văn và được đính kèm dưới con dấu của quí vị và được gởi đến cho chúng tôi bởi vì sứ giả đáng tin cậy để cùng với những lời phát biểu từ các chứng nhân, chúng có thể được gởi lên Đức Giáo hoàng. Nội dung bức thư của Đức Giáo hoàng gởi cho chúng tôi như sau: “Grêgôriô, Giám mục, tôi tớ các tôi tớ của Thiên Chúa, gởi đến các người con dấu yêu của ngài… vào năm thứ bảy của triều đại Giáo hoàng”. Cuối cùng, hãy xem xét bất kì tình huống nào có thể xảy ra, chúng tôi chỉ thị cho quí vị, trong thẩm quyền chúng tôi nắm giữ, rằng nếu tất cả quí vị không thể hiện diện tại những tiến trình này, thì hai trong quí vị sẽ luôn phải có mặt. Để chứng thực, chúng tôi đã ký xác nhận.

Làm tại Bologna vào ngày 13, trung tuần tháng 08.

Bản văn

TIẾN TRÌNH PHONG THÁNH TẠI TOULOUSE

1. Bản sao chép của bức thư mà vì Viện phụ và hai Tổng Phó tế ở Toulouse đã gởi cho các thẩm phán đã được Đức Giáo hoàng ủy thác liên quan đến việc khảo sát về cuộc đời của cha Đa Minh, liên quan đến những gì họ thấy và nghe được từ những gì họ thấy và nghe được từ những người quen biết với cha Đa Minh như đã nói trong tài liệu này.
2. Chúng tôi, Phêrô, Viện phụ Đan viện thánh Saturninus tại Toulouse, Raymond Donat, Tổng phó tế nhà thờ thánh Stêphanô ở Toulouse, và Pons, Tổng Phó tế nhà thờ thánh Santurninus ở Toulouse, gởi lời chào trân trọng đến quý vị đáng kính và khôn ngoan: Tancred, Tổng Phó tế nhà thờ ở Bologna, Thomas Ubaldino, Bề trên nhà thờ thánh Maria Reno, và anh Palmerio, kinh sĩ nhà thờ Chúa Ba Ngôi Campagnola, thuộc Dòng thánh Augustinô, là các thẩm phán và là các điều tra viên được Đúc Giáo hoàng ủy thác.
Chiếu theo chỉ thị đã được thẩm quyền Tòa Thánh ban cho chúng tôi trong các lá thư của quý vị, chúng tôi điều tra cách cẩn thận sự thật liên quan đến cuộc đời và các hoạt động của cha Đa Minh.
Trong việc này, chúng tôi đã được sự trợ giúp của Bề trên Rogelio đáng kính của Tu viện Prouille, và Phêrô Agen, là các anh em Dòng Anh Em Giảng Thuyết, cũng như của Rogerio Aura, Bề trên Tu viện thánh Anthony, và Rogerio Villar, là trưởng ấn Tu viện thánh Anthony.
Chúng tôi chuyển những kết quả điều tra đã được xác thực bởi con dấu của chúng tôi được xác thực bởi con dấu của chúng tôi cho sự suy xét của quí vị.

(1) Viện phụ Pons

 Viện phụ Pons, Viện phụ Boulbone thuộc Dòng Xitô, đã tuyên bố dưới lời thề rằng khi là Tổng Phó tế ở Toulouse, ngài đã nghe được từ Đức Foulques, khi đó là Giám mục Toulouse, và từ chính cha Đa Minh và nhiều người khác, rằng vị Tổng Giám mục của Auch đã đề nghị cha Đa Minh làm Giám mục Conserans là giáo phận ngài đang coi sóc, nhưng cha Đa Minh không chấp nhận lời đề nghị này. Khi lời đề nghị được nhắc lại, cha Đa Minh lại từ chối, với lý do Dòng Anh Em Giảng Thuyết mới được thành lập và người đang chịu trách nhiệm hướng dẫn các nữ đan sĩ ở Prouille. Đức Pons tin rằng việc bầu chọn cha Đa Minh làm Giám mục là đúng giáo luật và đồng lòng.

Viện phụ Pons biết rằng cha Đa Minh rất nhiệt thành với các linh hồn, sốt sắng trong việc cầu nguyện và giảng thuyết, không ngừng tìm kiếm những người theo lạc giáo để đưa họ trở lại. Người yêu mến đức khó nghèo, khắt khe với chính mình, nhưng tử tế với anh em. Người khiết tịnh, khiêm nhường và kiên nhẫn, điềm tĩnh trước sự bách hại và vui mừng giữa nỗi khổ cực, coi thường chính mình, cha Đa Minh vừa là một người cha vừa là người an ủi đối với các anh em khi bị bệnh hay một số người trong hoàn cảnh khó khăn, yêu mến kỷ luật, mẫu gương cho anh em, từ bỏ vinh quang trần thế, rộng lượng và ân cần, bạn hữu của tất cả mọi tu sĩ, nghèo khó trong tu phục, quý chuộng đức tin và bình an. Tội lỗi của người khác ảnh hưởng rất mạnh đến cha Đa Minh đến nỗi lời của Tông đồ Phaolô có thể áp dụng cho người: “Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối?” (2 Cr 11,29). Chứng nhân này tin tưởng rằng cha Đa Minh vẫn giữ được sự thanh khiết.

(2) Anh William

4. Anh William, người phụ trách phòng thánh Đan viện Boulbone, cũng nói lên những điều như thế dưới sự đoan thệ, ngoại trừ việc cha Đa Minh được bầu vào chức Giám mục và sự niềm nở của người. Anh làm chứng rằng suốt thời gian anh sống với cha Đa Minh, người luôn sống trong cảnh nghèo nàn. Người rộng lượng trong việc cho hết các anh em áo Dòng mà người được ban tặng.

(3) Anh B. Claret

5. Anh B. Claret, một tu sĩ của Đan viện Boulbone, cũng làm chứng dưới lời thề những điều như anh William đã nói, nhưng còn thêm rằng anh đã nghe được việc tuyển chọn cha Đa Minh làm Giám mục Conserans. Anh cũng khẳng định rằng, khi còn là một kinh sĩ tại Osma, cha Đa Minh không ăn thịt đã được dọn cho các kinh sĩ, không từ chối nó, nhưng giấu nó giữa các thức ăn khác.

(4) Đức Maurin

6. Viện phụ Maurin, Viện phụ Đan viện Parniers, đồng ý với những lời phát biểu của Viện phụ Đan viện Boulbone dưới lời thề, nhưng còn thêm rằng riêng ngài đã thấy cha Đa Minh khóc và nghe được những tiếng rên trong suốt thời gian người cầu nguyện, và người mặc chỉ có một áo Dòng.

(5) Anh Arnold Crampagna

7. Anh Arnold Crampagna, người phụ trách phòng thánh Đan viện Parniers, đã khẳng định dưới lời thề rằng anh đã thấy và nghe rằng cha Đa Minh là kẻ quấy rầy không ngừng đối với những người theo lạc giáo, đã dùng lời lẽ và tấm gương của một đời sống tốt lành để chống lại họ, hơn nữa cha Đa Minh đã không ngừng cổ võ hòa bình và đức tin, vì điều này người đã chấp nhận đối diện với những hiểm nguy khác nhau.

(6) Anh Raymond Major

8. Anh Raymond Major, một kinh sĩ, đã tuyên bố dưới lời thề rằng anh biết lời chứng trên là thật và tin rằng cha Đa Minh là một người thanh khiết. Anh nói thêm rằng anh đã được chữa khỏi cơn sốt nhờ việc cha Đa Minh đặt tay lên.

(7) Anh Raymond Gerald

9. Anh Raymond Gerald đã đoan thệ rằng anh đã nghe một kinh sĩ cao tuổi ở Prémontré quả quyết rằng ông đã nhìn thấy cha Đa Minh đặt tay trên mắt của một người mù và ngay lập tức người ấy được sáng mắt.

(8) Anh B. Othon

10. Anh B. Othon đã đoan thệ rằng anh biết và tin tất cả các lời chứng này là thật và nói thêm rằng trong suốt hành trình với cha Đa Minh và các anh em khác xuyên qua các cánh rừng, cha Đa Minh đi lùi lại đằng sau, và sau đó anh em phải tìm kiếm người, họ thường tìm thấy người lúc người đang quỳ gối, bất chấp những nguy hiểm từ các bầy chó sói hung dữ.

(9) Anh William de Verniolle

11. Anh William de Verniolle nói về những điều mà riêng anh đã thấy và nghe được. Anh nói dưới lời thề rằng anh biết cha Đa Minh sốt sắng trong việc cầu nguyện và giảng thuyết, một tu sĩ sâu sắc, coi thường bản thân, sống khiết tịnh, khiêm nhường và yêu mến đức khó nghèo. Giường ngủ của người luôn luôn là nhà thờ. Người không ngừng tìm kiếm những người theo lạc giáo. Vì vậy, với lời chứng mà các người khác đưa ra, anh tin đó là thật.

(10) Anh Gerald de Oleix

 12. Anh Gerald de Oleix đã khai dưới lời thề rằng anh biết lời chứng ở trên là thật và tin cha Đa Minh là một người thanh khiết. Mặc dầu biết tường tận về người, nhưng anh chưa bao giờ biết và nghe được những điều hồ nghi hay điều xấu nào về người.

(11) Đức Bernard Baulhanis

13. Đức Bernard Baulhanis đã đoan thệ rằng cha Đa Minh nhiệt thành đối với các linh hồn, sốt sắng trong việc cầu nguyện và giảng thuyết, truy lùng những người theo lạc giáo, yêu mến đức khó nghèo, nghiêm khắc với chính mình nhưng bao dung với người khác, kiên nhẫn, khiêm nhường, đạo đức, coi thường chính mình, yêu mến kỷ luật, khước từ vinh quang trần thế, y phục cũ kĩ, và chuyên tâm với các sứ vụ liên quan đến đức tin và hòa bình. Đức Bernard tin rằng tất cả các lời chứng khác là thật.

(12) Cha Phêrô Bruneti

13. Cha Phêrô Bruneti, một linh mục, đã trình bày dưới lời thề rằng cha biết và tin tất cả những điều nói trên là thật. Cha còn nói thêm rằng, một ngày nọ, khi cha Đa Minh vượt sông bằng một con thuyền, các thủy thủ đã yêu cầu người trả một đồng tiền công. Vì người không có tiền để trả, họ đã hăm dọa sẽ giữ chân người lại cho đến khi người trả một đồng tiền hoặc đưa ra một vật thể chấp. Sau đó, người rảo mắt trên nền nhà, chỉ vào một đồng tiền và nói: “Hãy lấy thứ mà các anh đã đòi hỏi tôi từ nền đất”. Họ đã lấy đồng tiền ầy và để người đi.

(13) Bà Wilma

15. Bà Wilma, vợ của Elias Martin, đã đoan thệ rằng bà đã dệt vải để làm một chiếc áo nhặm cho cha Đa Minh. Bà biết và tin rằng lời chứng trên là thật, và cha Đa Minh là một người thanh khiết. Bà còn xác quyết rằng, hơn hai trăm lần, cha Đa Minh đã ăn cùng với sự hiện diện của bà, nhưng chưa một lần nào trong suốt bữa ăn bà thấy người ăn một phần bốn con cá hoặc ăn hơn hai lòng đỏ trứng hay uống hơn một ly rượu hòa lẫn với ba phần nước. Hơn nữa, bà chưa bao giờ thấy người ăn hơn một miếng bánh mì. Khi người đau bệnh , bà thấy anh em của người dìu lên giường, nhưng ngay lập tức người chỗi dậy và nằm xấp xuống nền đất, vì người không quen nằm trên giường.

(14) Bà Noguera Toulouse

16. Bà Noguera Toulouse, dưới lời thề, đã khẳng định tất cả lời chứng trên và tin tưởng rằng cha Đa Minh là một người thanh khiết. Bà quả quyết là đã may cho cha Đa Minh một chiếc áo nhặm từ lông ngựa và lông dê.

 (15) Nữ tu Beceda

17. Chị Beceda, một nữ đan sĩ Dòng Thánh Giá, đã nói dưới lời thề rằng chị biết tất cả lời chứng trên là thật, cha Đa Minh là một người thanh khiết, và chị gom những đuôi bò để làm cái roi đánh tội cho người và cho cha Foulques, Giám mục Toulouse. Chị chưa bao giờ nghe cha Đa Minh nói một lời vô ích mặc dù người và chị nói chuyện rất nhiều lần. Khi chị chuẩn bị giường ngủ cho người, người không bao giờ sử dụng nó; thật vậy, vào buổi bình minh, chị thấy chiếc giường trong tình trạng như chị đã chuẩn bị hôm qua. Thậm chí khi bị bệnh, người cũng không nằm. Hơn nữa, chị thường thấy người ngủ trên nền đất mà không có mền đắp. Khi trở lại, chị nhìn thấy người cầu nguyện, hoặc đang đứng hoặc đang phủ phục trên nền đất. Chị rất xót xa cho người. Chị cũng tuyên bố rằng hơn hai trăm dịp, cha Đa Minh đã ăn uống trong ngôi nhà chị đang sống, người ăn nhiều nhất hai trái trứng, mặc dù nhiều thức ăn được dọn sẵn cho người. Từ tất cả các lời chứng được trình bày cho đến nay, khắp giáo phận Toulouse và Conserans mọi người đều biết rằng khi có cơ hội nào đó, cha Đa Minh luôn dành thời gian cho những người đạo đức, dù là giáo sĩ hay giáo dân, đàn ông hay đàn bà.

(16) Đức William Peyre

18. Đức William Peyre, Viện phụ Đan viện thánh Phao lô, đã làm chứng dưới lời thề rằng cha Đa Minh, với lòng nhiệt thành không ai sánh bằng, khao khát mãnh liệt ơn cứu độ các linh hồn. Người nhiệt tâm giảng thuyết đến độ ao ước và cổ vũ anh em rao giảng Lời Chúa và chỉ nói về Chúa cả ngày lẫn đêm trong nhà thờ cũng như khi ở nhà, trên đồng ruộng hay trên đường đi, và thực tế là ở khắp mọi nơi. Nhân chứng còn nói rằng cha Đa Minh đã tìm kiếm những người lạc giáo để giảng thuyết và tranh luận với họ bằng bất cứ cách thức nào người có thể dùng. Hơn thế nữa, nhân chứng còn nói rằng lòng mến chuộng đức thanh bần của người mạnh đến độ người đã từ bỏ mọi sở hữu của cải, nhà cửa, ruộng vườn và bổng lộc mà Dòng đã có được ở một số nơi. Cha Đa Minh cũng cho thấy rằng người ăn uống rất thanh đạm và không ăn uống gì khác ngoài bánh và rượu trừ một số dịp vì lời ích của anh em. Tuy nhiên, người luôn muốn các anh em ăn đầy đủ tùy theo khả năng của Tu viện. Nhân chứng đã nghe được từ nhiều người khác. Hơn thế nữa, cha Đa Minh đã khước từ làm Giám mục Conserans và không muốn quản trị Giáo phận, mặc dù người đã được tuyển chọn làm mục tử và Giám mục. Hơn thế nữa, nhân chứng còn tuyên bố thêm rằng chưa bao giờ thấy một người nào khiêm nhường trong tất cả mọi sự hay khinh thường vinh quang trần gian và những điều kèm theo nó như cha Đa Minh chịu đựng những lời lăng mạ, nguyền rủa một cách kiên nhẫn và vui vẻ đón nhận như một món quà lớn.

Nhân chứng cũng khẳng định rằng, giữa những cơn khốn khó, người không bao giờ tỏ ra phiền muộn; quả thực, trong một số dịp, người đã bước và nơi nguy hiểm cách bình thản và không sợ hãi. Người không bao giờ để cho sự sợ hãi chế ngự được mình khi đi tới những nơi công cộng. Thậm chí, ngay cả khi người quá buồn ngủ, người có thể nằm xuống lề đường và ngủ. Nhân chứng còn nói rằng chưa thấy ai thánh thiện, khinh chê chính mình và xem bản thân mình chẳng là gì như cha Đa Minh. Người đã an ủi những người bệnh tật, nâng đỡ họ theo như cách cư xử của một người cha. Bất cứ khi nào biết một ai đó đang đau buồn, người khích lệ người ấy kiên nhẫn và an ủi người ấy nhiều bao nhiêu có thể.

Nhân chứng còn nói rằng cha Đa Minh yêu mến kỷ luật và sửa lỗi anh em như một người cha. Người còn làm gương cho anh em trong mọi điều, trong lời nói cũng như trong việc làm, trong cách ăn nếp mặc và trong những hành vi ứng xử. Nhân chứng còn cho biết cha Đa Minh thường xuyên nhỏ lệ trong khi cầu nguyện. Khi cha Đa Minh cầu nguyện lớn tiếng, người bên cạnh có thể nghe thấy tất cả: “Ôi lạy Chúa, xin thương xót dân Ngài. Các tội nhân sẽ làm gì đây?” Người thổn thức và suốt đêm không ngủ vì tiếc thương cho tội lỗi của người khác. Nhân chứng còn nói thêm rằng cha Đa Minh luôn rộng lượng, hòa nhã và luôn sẵn sàng chia sẻ cho người nghèo những gì mình có. Hơn thế nữa, người yêu mến và kính trọng tất cả các Dòng. Thêm vào đó, nhân chứng không bao giờ thấy hay biết người có bất cứ cái giường nào ngoại trừ nhà thờ, nếu người thấy một nhà thờ gần đó. Khi không thấy nhà thờ, người nghỉ ngơi trên một cái ghế dài hoặc trên những thanh giường sau khi người đã bỏ nệm và khăn phủ được chuẩn bị. Nhân chứng luôn thấy cha Đa Minh khoác trên mình một chiếc áo dòng với nhiều chỗ vá, còn áo khoác ngoài thô hơn những anh em khác. Cuối cùng, cha Đa Minh nhiệt thành trong việc quảng bá đức tin và hòa bình, bảo vệ và giúp đỡ các tín hữu trong giới hạn khả năng của người.

 (17) Cha A, và cha A. Pons; cha Raymond Villar và cha R.

19. Tất cả điều này đã được lặp lại và được thừa nhận dưới lời thề của A., cha tuyên úy Villar, cha cũng đã thấy một người bị quỷ ám được chữa khỏi tại Fanjeaux qua lời cầu nguyện của cha Đa Minh; và dưới lời thề của cha A. Pons, một tuyên úy, của cha Raymond Villar, một linh mục Fanjeaux và của cha R., một giáo sĩ cũng tin rằng, cha được cha Đa Minh chữa cho khỏi cơn sốt. Tất cả những người này và nhiều người khác từ Fanjeaux đều nhất trí quả quyết rằng họ chưa bao giờ thấy một người nào như cha Đa Minh có đời sống thánh thiện và lòng đạo đức tốt đến như vậy.

(18) Anh Michael

20. Anh Michael khai dưới lời thề rằng tất cả những điều anh đã thấy và nghe ở trên là thật. Anh còn nói thêm rằng cha Đa Minh tiên đoán anh em sẽ rời khỏi Toulouse.

(19) Anh R.

21. Anh R. cũng nói đến những điều như trên. Nhưng nhân chứng đã nghe được về lòng thanh khiết của cha Đa Minh từ Đức Foulques, Giám mục Toulouse, từ anh D. Alvamino và anh Gioan Caleruga. Anh cũng nghe được từ những người này rằng cha Đa Minh đã khước từ làm Giám mục Béziers. Hơn nữa, nhân chứng còn thấy một người bị quỷ ám được cha Đa Minh chữa khỏi.

(20) Anh Máccô

 22. Anh Máccô, một Phó tế, đã tuyên thề rằng cha Đa Minh đã từ chối làm Giám mục, và hơn nữa nhân chứng còn thấy nơi cha Đa Minh cầu nguyện bị ướt đẫm nước mắt.

(21) Bà Berengaria

Bà Berengaria đã thề rằng bà là một nhân chứng trực tiếp khi cha Đa Minh kể chín người phụ nữ đã được người hoán cải khỏi lạc giáo và nói với họ rằng hãy nhìn con quỷ trước đây đã ám các bà có hình con mèo với cặp mắt nảy lửa to như cặp mắt con bò, với cái lưỡi dài thở ra như ngọn lửa đang cháy và một cái đuôi rậm rạp như đuôi của một con chó và  dài hơn một gang tay. Do lệnh cha Đa Minh truyền, con vật này đã trốn thoát qua việc mở sợi dây chuông trên tháp và biến vào bóng đêm. Nhưng trước khi làm tất cả điều này, người đã nói với họ không được khiếp sợ, vì người sẽ chỉ cho họ thấy “ông chủ” mà họ đã từng phục vụ bao năm nay.

(22) Bà Raymond de Sanches

24. Bà Raymond de Sanches đã làm chứng rằng con gái của một phụ nữ nào đó đã được chữa khỏi bệnh do lời cầu nguyện của cha Đa Minh. Bà đã xin người tới thăm con gái bà, nhưng người nói: “Hãy về nhà đi, tôi sẽ cầu nguyện cho con gái bà”. Ngày hôm sau, theo lời người mẹ, con gái của bà đã được chữa khỏi bệnh.

(23) Anh Raymond và anh Zonzanna

25. Anh Raymond và anh Zonzanna đã làm chứng rằng họ đã nghe thấy cha Đa Minh nói rằng thà trốn trong đêm với chiếc gậy gỗ của mình hơn là chấp nhận làm Giám mục hay bất cứ sự tôn vinh nào.

(24) Hơn 300 người

26. Ở cuối lá thư này, chúng tôi đã viết ra tên của trên 300 người cả nam lẫn nữ, những người này đã khai dưới lời thề về những điều vừa nói trên. Trong số họ, có nhiều người là tu sĩ, linh mục, giáo sĩ, và nữ đan sĩ, cũng như những người đạo đức khác đáng tin cậy. Nhưng vượt trên tất cả những điều này, sự thánh thiện và nhân đức của cha Đa Minh được thừa nhận và nói công khai bất cứ nơi đâu người đã sống như chứng tá, được ký nhận bởi những người này. Đến đây là chấm dứt cuộc đời cha Đa Minh.

SẮC CHIẾU PHONG THÁNH CỦA ĐỨC GRÊGÔRIÔ IX

Grêgôriô, Giám mục, tôi tớ các tôi tớ của Thiên Chúa, gởi lời chào thăm và phép lành Tòa thánh đến các anh em đáng kính là các Tổng Giám mục và các Giám mục, và đến các con yêu dấu là các Viện phụ, Bề trên, Tổng Phó tế, quản hạt, và các giám chức của Giáo hội.

Nguồn mạch sự khôn ngoan, Lời của Chúa Cha (Gv 1,5), tức là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, Đấng tốt lành và khoan dung, Người đã chuộc tội và phục hồi những kẻ mà Người đã dựng nên. Người bảo tồn cho đến ngày tận thế (Mt 28,20) cây nho mà Người đã trồng từ Aicập (Tv 79,9), và đổi mới cách khôn ngoan những dấu lạ dành cho những tâm hồn dễ dao động và lặp lại các phép lạ để chống lại những nguy cơ của sự bất trung.

Vào thời Giáo hội nguyên thủy, sau cái chết của Môsê, nghĩa là khi Luật Cũ chấm dứt (Rm 10,4), Người bước lên cỗ xe Tin mừng bốn con ngựa, là những căn nguyên thật sự của con cứu độ, và với hòm bia của lời giảng mà Người đã nắm giữ trong suốt thời vương quốc Do thái (Gs 2,18-21), và để giữ lời đoan thệ với các Tổ phụ, Người đã triệt hạ sự kiêu căng của thành Giêricô, biểu tượng của vinh quang thế gian, bằng tiếng hò la của lời, trước sự kinh ngạc của các dân nước; Người đã tiến vào giữa các làn sóng biển bằng những con ngựa của mình, và mở rộng bờ cõi sang các quốc gia khác, tượng trưng nơi bà Rakháp.

Ngôn sứ Dacaria (Dcr 6,1-2) đã nhìn thấy bốn cỗ xe tiến ra từ giữa hai quả núi đồng.

Cỗ xe thứ nhất với những con ngựa màu hung đỏ, tượng trưng các hoàng thân của chư dân và những kẻ quyền thế của trần gian. Nhờ trung thành vâng phục đức tin vào Thiên Chúa của Abraham, người cha của những kẻ có lòng tin (Rm 4,11), họ đã nhuộm hồng tấm áo, theo mẫu gương vị lãnh đạo của họ, ở Bosra (Is 63,1), nghĩa là trong những khổ nạn gian nan, và họ tô thẫm bằng máu tất cả mọi huy hiệu chiến đấu của mình. Vì hạnh phúc vinh quang mai hậu, họ không sợ lưỡi gươm của đời này và trở thành những anh hùng tử đạo, tức là những chứng nhân; bằng lời tuyên xưng, họ đã ký cuốn sách của Luật mới; bằng máu của mình, họ đã tô điểm quyển sách va hòm bia thánh, là công trình của Thiên Chúa chứ không phải của con người, cũng như họ tô điểm những chiếc bình của mầu nhiệm Tin mừng với máu không phải là của con vật nhưng là máu của lễ toàn thiêu tinh thần. Sau cùng, khi vượt biển đại dương rộng lớn để “thả lưới rao giảng” (Kb 1,17; Mt 13,47), họ đã xây dựng Giáo hội của Chúa được tăng thêm dân số từ hết tất cả các dân nước dưới bầu trời.

Nhưng, bởi vì con số đông đúc thì sinh ra ngạo mạn và tự do thì sinh ra tính xấu xa, cho nên Chúa của chúng ta đã gửi trên cỗ xe thứ hai gồm những ngựa đen, là màu biểu tượng cho tâm tình khóc thương và sám hối (Dcr 6,12), được tượng trưng nơi đoàn quân được Thần Khi dẫn vào sa mạc của viện tu, dưới sự lãnh đạo thánh Biển Đức là kỵ mã của Israel mới. Như thể một Êlia khác, ngài đã trả lại cho các con cái ngôn sứ (2V 2,3) trong một cộng đoàn vui thỏa xum vầy, điều thiện hảo của đời sống chung đã bị đánh mất bởi con số đông đúc. Nhờ vậy, họ đã sửa chữa chiếc “lưới hiệp nhất” đã bị tan nát, và khi được trang bị với những công cuộc đạo đức họ tiến về vùng đất phương Bắc nơi phát sinh mọi thứ tội lỗi (Gr 1,14), họ đã chuẩn bị những tâm hồn trong trắng (G 38, 22) và thống hối (Is 61,1) làm chỗ nghỉ ngơi cho Đấng chê bỏ ở nơi xác thịt đắm chìm trong tội lỗi (Kn 1,4).

Sau đó, như thế tăng cường những đội quân mệt mỏi và khích lệ họ vì nỗi đau buồn, thì xuất hiên một cỗ xe thứ ba (Dcr 6,3) với những con bạch mã, tức là những con cái Dòng Xitô và Dòng Flora16, giống như đàn chiên béo tốt được xen lông và chứa đầy đức ái, Chúa đã đưa họ ra khỏi bồn rửa thống hối (Dc 4,2), và đặt thánh Bênađô dẫn đầu; người là một con chiên được khoác áo cao trọng bằng quyền năng của Thánh Thần và người đưa họ vào thung lũng màu mỡ, để sau khi đã được giải thoát thì họ có thể lớn tiếng kêu cầu Thiên Chúa, hát những bài thánh ca (với lòng tri ân), và thiết lập doanh trại của Thiên Chúa trên sóng biển (St 32,2).

Với ba đội quân này, dân Israel mới đã đương đầu với vô số đội quân của dân Philitinh (1V 13,17). Nhưng vào giờ thứ 11, lúc ngày sắp tàn, khi đức ái của nhiều người đang trở nên nguội lạnh vì tội ác gia tăng (Mt 24,12), ánh sáng mặt trời công chính đã chìm lịm về hướng Tây, thì người gia trưởng muốn quy tụ một đạo quân anh dũng để che chở vườn nho mà tay hữu đã trồng (Tv 79,16) khỏi những hư hại, vườn nho mà ông đã sai nhiều thợ với đồng tiền đã thỏa thuận (Mt 20,2), vườn nho không chỉ đầy những gai góc và tội ác, mà còn hầu như bị tan nát vì lũ chồn tìm cách biến nó thành vườn khô cằn (Dc 2,15).

Do đó, như chúng ta đã có thể chứng kiến, sau ba cỗ xe đầu tiên, khác biệt vì những biểu tượng, thì xuất hiện cỗ xe thứ bốn, được kéo bởi những con ngựa đốm hùng mạnh (Dcr 6,3), là sư đoàn các Anh Em Giảng Thuyết và Anh Em Hèn Mọn, với những tướng lãnh được tuyển chọn để chiến đấu. Như vậy, chính Thiên Chúa đã đánh động tinh thần của cha Đa Minh, và ban cho người sức mạnh và đức tin nhiệt thành, giống như là con ngựa vinh quang của Chúa, được choàng lên cổ nó tiếng hí vang của lời giảng (G 39,19).

Ngay từ thời thơ ấu, cậu Đa Minh đã có một trái tim trưởng thành (Gđt 16,17), và chọn lối sống khổ chế thân xác, người đã khắc khoải tìm kiếm tác giả của sự sống. Người tận hiến cho Thiên Chúa và dâng mình vào đời tu trì theo luật thánh Augustinô, người bắt chước Samuel trong việc chuyên cần phục vụ thánh điện (1Sm 3,5), người tiếp xúc lòng nhiệt thành của Đaniel (Đn 10,11) trong việc kiện toàn những điều quý chuộng. Như một vận động viên can đảm, người chuyên chăm theo đuổi con đường công chính (Tv 22,3) và linh đạo của các Thánh. Người không bao giờ rời bỏ nhà tạm của Chúa, nghĩa là lời giáo huấn và việc phục vụ của Giáo hội lữ hành. Người bắt thân xác phục tùng tinh thần, cảm xúc phục tùng lý trí, và trở nên một tinh thần với Chúa (1Cr 6,17). Người cố gắng đắm chìm trong sự chiêm niệm (Tv 30,23), tuy không lãng quên tình thương với tha nhân qua lòng trắc ẩn. Nhờ kìm hãm những khoái lạc xác thịt và soi sáng những tâm hồn chai đá nơi những kẻ bất lương, người đã làm cho những kẻ bất lương, người đã làm cho những nhóm lạc giáo phải khiếp sợ và làm cho Giáo hội các tín hữu được hân hoan.

Càng thêm tuổi, cha Đa Minh càng thêm ân sủng (Lc 2,25). Say mê cứu rỗi các linh hồn, người dấn thân hết mình cho việc giảng thuyết, và vì đã sinh ra nhiều người cho Tin Mừng của Đức Kitô (1Cr 4,15), cũng như hoán cải một số đông người ôm ấp việc phục vụ Tin Mừng, người xứng đáng hưởng ngay từ đời này danh hiệu và sự nghiệp của các thánh Tổ phụ. Như một mục tử và lãnh tụ biệt tài của dân Thiên Chúa, người đã sáng lập một Dòng mới đó là Dòng Anh Em Giảng Thuyết, bằng những công lao thánh thiện, đã tô điểm Dòng mới này bằng những gương mẫu, và đã không ngừng củng cố Dòng bằng những phép lạ nhãn tiền và chân thực. Thật vậy, ngoài những công việc thánh thiện và những biểu lộ đức hạnh mà người đã tỏa sáng trong cuộc sống, người đã chữa lành biết bao bệnh tật: cho kẻ câm được nói, kẻ mù được sáng, kẻ điếc được nghe (Mc 7,37), người bại liệt đi được, và những người đang chịu nhiều căn bệnh được khỏi. Do đó, người đã chứng tỏ rằng thần khí nào đang cư ngụ trong thân xác thánh thiện của người.

Nhờ tình tri ân với cha Đa Minh khi chúng tôi còn giữ một chức vụ khiêm tốn hơn, chúng tôi chứng thực về sự thánh thiện nơi đời sống đáng khâm phục của người; và hiện nay những chứng nhân đáng tin cậy đã cho chúng tôi sự xác nhận đầy đủ về tính chân thực của các phép lạ được rất nhiều người nói tới. Hơn thế nữa, hiệp thế nữa, hiệp nhất với đoàn chiên mà Chúa giao cho chúng tôi chăn dắt, chúng tôi có thể tin chắc rằng, nhờ lòng Chúa xót thương, chúng tôi có thể hưởng nhờ những lời cầu bầu cho chúng tôi, và chúng tôi xác tín rằng bởi vì đã nhận được tình bạn âu yếm của người khi còn tại thế, thì ngày nay chúng tôi cũng được hưởng nhờ sự bảo trợ của người trên thiên quốc.

Sau khi đã bàn thảo và đồng thuận với những anh em chúng tôi, cũng như các giáo chức ở gần Tông tòa, chúng tôi đã quyết định ghi tên của người vào hàng ngũ các thánh. Chúng tôi xác nhận và ra lệnh cho tất cả anh chị em, do hiệu lực của văn thư này, phải long trọng cử hành và lo việc cử hành lễ sinh nhật người trên trời vào ngày 05 tháng 0817 tức là hôm trước ngày người rời bỏ thân xác nặng nề, và mang theo công trạng tiến vào thiên đàng, hưởng ánh sáng vinh quang như các thánh. Nguyện xin Thiên Chúa, Đấng mà người tôn thờ trong suốt cuộc đời, nhận lời cầu bầu của người mà ban phúc lành cho chúng ta nơi trần gian này và vinh quang trong thế giới mai sau.

Cuối cùng, với ước mong rằng phần mộ của vị thánh vĩ đại, vốn làm những phép lạ cả thể cho toàn thể Giáo hội, đáng được viếng thăm và tôn kính phù hợp với lòng đạo đức Kitô giáo, và tín thác vào lòng thương xót của Thiên Chúa, cũng như do quyền hành của hai thánh tông đồ Phêrô và thánh Phaolô, chúng tôi ban ơn xá giải một năm đền tội, được hưởng mỗi năm một lần, cho những tín hữu có lòng thống hối và đi xưng tội, đến viếng mộ của người vào ngày lễ kính, với lòng tôn kính và đạo đức xứng hợp.

Được ban hành tại Rieti, ngày 09 tháng 07, năm thứ tám triều đại Giáo hoàng của chúng tôi. 

 —————–

16. Flora hay Fiore, tên của một Đan viện ở Calabria (nam Italia) do Viện phụ Gioakim (k.1135-1202) thiết lập.

17. Thánh Đa Minh qua đời ngày 06 tháng 08. Ngày này đã được phụng vụ dành để kinh Chúa Hiển dung, nên phải dời lễ kính sang ngày 05 tháng 08. Vào năm 1588, ngày 05 tháng 08 được dành để kính lễ “Đức Mẹ xuống tuyết”, nên lễ thánh Đa Minh được dịch lên ngày 04 tháng 08. Sau công đồng Vaticano II, lễ này lại được chuyển vào ngày 08 tháng 08, bởi vì các ngày 05-07 tháng 08 đã được dành cho các lễ khác rồi. 

Comments are closed.