Bộ sách của Lm. Lê Minh Thông, Op.

0

G.V.Leibniz  đã nói “Thư viện là kho tàng chứa tất cả của cải tinh thần của loài người“. Của cải tinh thần của loài người là gì? Để hiểu được điều đó, hôm nay Thư Viện xin giới thiệu cùng độc giả 1 bộ sách của tác giả Giuse Lê Minh Thông, 12 cuốn, một trong muôn vàn kho báu tinh thần.  Linh mục Giuse Lê Minh Thông Dòng Đa Minh, tiến sĩ thần học Kinh Thánh tại Université Catholique de Lyon, France,chuyên về Tin Mừng Gio-an (Tin Mừng thứ tư). 

1. Ngữ pháp Hy Lạp Tân Ước 

Nxb. Phương Đông, 2011, 460 tr., khổ 14 x 20 cm

Sách học tiếng Hy Lạp Tân Ước (phần căn bản)

Tập sách Ngữ pháp Hy Lạp Tân Ước trình bày phần văn phạm căn bản tiếng Hy Lạp Koinê (Hy Lạp phổ thông) được dùng để viết các sách Tân Ước.

Đây là tập sách tham khảo các điểm văn phạm, vì thế các loại từ như danh từ, tính từ, động từ, mạo từ… được trình bày chi tiết theo từng mục. Phần nội dung tổng quát và nội dung chi tiết đầu sách giúp độc giả nhanh chóng tìm ra điểm văn phạm cần tra cứu. 

2. Cú Pháp   Hy Lạp Tân Ước 

Nxb. Phương Đông, khổ 14 x 20 cm, 460 trang
Sách học tiếng Hy Lạp Tân Ước (phần nâng cao)

Tập sách Cú pháp Hy Lạp Tân Ước bàn về cách hành văn tiếng Hy Lạp. Các sách trong bộ Tân Ước đều viết bằng tiếng Hy Lạp. Hiểu cách hành văn tiếng gốc của bản văn giúp thưởng thức được nét hay, nét đẹp của Lời mặc khải.

Tập sách Cú pháp Hy Lạp Tân Ước (phần nâng cao) được trình bày chi tiết từng phần, có thể dùng làm giáo trình dạy học tiếng Hy Lạp nâng cao.

3. Bản văn Gioan, Tin Mừng và Ba Thư, Hy Lap – Việt 

Bản văn Hy Lạp lấy theo NESTLE-ALAND, 
Novum Testamentum Graece, (27è édition),
Stuttgart, Deutsche Bibelgesellschaft, 1996.
Dịch giả: Giu-se LÊ MINH THÔNG, O.P.
Nxb. Tôn giáo, 2011, 340 trang, khổ 14 x 20 cm

Đã có những bản dịch Kinh Thánh tiếng Việt có giá trị. Chẳng hạn, bản dịch của cha Nguyễn Thế Thuấn, các bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ; cùng với các bản dịch tiếng Việt và các thứ tiếng khác. Các nhà chú giải cũng thường đề nghị cách dịch sát bản văn gốc và dựa vào đó để chú giải.Bản văn Gio-an, TIN MỪNG và BA THƯ, Hy Lạp – Việt là một cố gắng tiếp cận bản văn gốc Hy Lạp. Tập sách này không thay thế các bản dịch mà chỉ góp phần vào việc tìm hiểu bản văn. Người không biết tiếng Hy Lạp có thể xem phần tiếng Việt là dịch sát bản văn Hy Lạp theo từng ý, từng câu. Đối với người biết tiếng Hy Lạp thì phần tiếng Việt chỉ là gợi ý. Mỗi người có thể dịch theo văn phong riêng của mình.

4. Tin  Mừng Mác-cô, Hy Lạp – Việt

Bản văn Hy Lạp lấy theo NESTLE-ALAND,
Novum Testamentum Graece, (27è édition),
Stuttgart, Deutsche Bibelgesellschaft, 1996.
Dịch giả: Giu-se LÊ MINH THÔNG, O.P.
(Bản văn Tin Mừng Mác-cô song ngữ Hy Lạp – Việt)

Nxb. Phương Đông, 2011, 236 trang, khổ 14 x 20 cm

Tài liệu Tin Mừng Mác-cô, Hy Lạp – Việt nhằm đáp ứng nhu cầu học hỏi Tin Mừng Mác-cô. Trong việc tìm hiểu Kinh Thánh, người đọc luôn có nhu cầu tiếp cận bản văn gốc để định hướng cho việc hiểu bản văn. Đồng thời nhận ra rằng bản văn chúng ta có hiện nay hàm chứa những điểm tinh tế, kể cả những khó khăn và phức tạp, để từ đó không quá dễ dàng trong việc giải thích Kinh Thánh. Tiếp cận bản văn gốc sẽ mở ra cho người đọc sự phong phú trong cách hiểu bản văn, giúp người đọc trung thành với bản văn và hiểu đúng mặc khải của Thiên Chúa trong các sách mà Hội Thánh đã nhận vào Quy Điển.

Cuốn sách Tin Mừng Mác-cô, Hy Lạp – Việt này không thay thế các bản dịch mà chỉ góp phần vào nhu cầu tiếp cận bản Hy Lạp Tin Mừng Mác-cô. Người không biết tiếng Hy Lạp có thể xem phần chuyển ngữ tiếng Việt là một cố gắng vừa theo sát bản văn gốc Hy Lạp vừa giữ cho câu cú tiếng Việt có thể hiểu được. Với người biết tiếng Hy Lạp, phần chuyển ngữ tiếng Việt chỉ là gợi ý, mỗi người có thể chuyển ngữ theo văn phong riêng để lột tả ý nghĩa phong phú của bản văn.

5. Sách Khải Huyền, Hy Lạp – Việt

Bản văn Hy Lạp lấy theo NESTLE-ALAND, 

Novum Testamentum Graece, (27è édition),
Stuttgart, Deutsche Bibelgesellschaft, 1996.
Dịch giả: Giu-se LÊ MINH THÔNG, O.P.
Nxb. Tôn Giáo, 2011, 288 trang, khổ 14,5 x 21,4 cm.

“Khải Huyền là sách cuối cùng trong 27 sách của Tân Ước. Sách Khải Huyền kết thúc bằng lời xin: “Lạy Chúa Giê-su, xin Ngài hãy đến” (22,20). Đây là lời nguyện cầu của Hội Thánh qua mọi thời đại, nhất là lúc Hội Thánh gặp thử thách. Dù trong hiện tại các Ki-tô hữu đang gặp nhiều gian truân, nhưng sách Khải Huyền cho người tin biết rằng: Những thế lực sự dữ sẽ thất bại và sẽ bị xét xử. Chiến thắng chung cuộc thuộc về Đức Giê-su Phục Sinh và những ai trung tín với Người. Vì thế, sách Khải Huyền là nguồn động viên lớn lao cho các môn đệ Đức Giê-su. Với sự hiện diện và sự khích lệ của Đấng Phục Sinh, người Ki-tô hữu có sức mạnh, can đảm và nghị lực để trung tín với Người cho đến cùng.

Tập sách “Sách Khải Huyền, Hy Lạp – Việt” giúp tiếp cận bản văn gốc Hy Lạp và đôi lúc có thêm trong ngoặc tiếng Anh hoặc tiếng Pháp để giúp hiểu dễ dàng hơn các từ ngữ.

6. Ngưởi Môn Đện Đức Giêsu Yêu Mến, trong Tin Mừng Thứ Tư là Ai? 

Nxb. Phương Đông, khổ 14 x 20 cm, 276 trang
Loại sách tìm hiểu Tin Mừng Gio-an

Theo truyền thống Hội Thánh, môn đệ Đức Giê-su yêu mến trong Tin Mừng thứ tư là tông đồ Gio-an con ông Dê-bê-đê. Nhưng từ cuối thế kỷ XIX đã dấy lên phong trào cho rằng: Môn đệ Đức Giê-su yêu mến không phải là tông đồ Gio-an. Các Giáo Phụ thế kỷ II-III nói gì về điều này? Lập trường của Hội Thánh Công Giáo ra sao? Nghiên cứu Kinh Thánh ngày nay đi theo hướng nào? Tin Mừng thứ tư phác họa khuôn mặt người môn đệ này ra sao? Có thể nói gì về tác giả sách Tin Mừng thứ tư?

Tập sách nêu lên sự phức tạp của vấn đề và thử trả lời những câu hỏi trên. Trong tình trạng nghiên cứu Kinh Thánh hiện nay, có thể nói: Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến vừa là nhân vật lịch sử, vừa là nhân vật biểu tượng. Người môn đệ này là khuôn mẫu cho độc giả về tương quan tình yêu với Đức Giê-su, là mẫu mực về lòng tin, về sự nhận biết và về lời chứng. Tin Mừng mời gọi độc giả hãy sống như người môn đệ Đức Giê-su yêu mến.

7. Tình Yêu và Tình Bạn trong Ga 15,9-17

Nxb. Phương Đông, khổ 14 x 20 cm, 316 trang

Loại sách tìm hiểu Tin Mừng Gio-an

  “Tình yêu” và “tình bạn” trong Tin Mừng thứ tư là đề tài quan trọng, vừa độc đáo và phong phú, vừa tinh tế và phức tạp. Nếu Thiên Chúa đã quá yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một của Người (Ga 3,16) thì con người lại yêu mến bóng tối hơn ánh sáng (3,19). Nếu Đức Giê-su đã yêu thương những kẻ thuộc về mình cho đến cùng (13,1), thì thế gian thù ghét cũng yêu thương những ai thuộc về thế gian (15,19). Làm sao phân biệt được “tình yêu của Thiên Chúa”, “tình yêu của con người” và “tình yêu của thế gian”? Đề tài “yêu mến bóng tối” sẽ được bàn đến trong một cuốn sách khác, tập sách này chỉ nói về “tình yêu” và “tình bạn” của Đức Giê-su và của các môn đệ.

Có thể nói, người tin vừa  người yêu của Chúa Cha và của Đức Giê-su, vừa là môn đệ, vừa là bạn hữu, vừa là anh em với Đức Giê-su. Tất cả những danh xưng này này nhằm mô tả tương quan phong phú, độc đáo và mới mẻ giữa Đức Giê-su và các môn đệ. Tập sách này phân tích Ga 15,7-17 vì đoạn văn này nhấn mạnh đề tài “tình yêu” và “tình bạn”, qua đó cho thấy những nét chính của đề tài này trong Tin Mừng thứ tư

8. Khủng Hoảng và Giải Pháp cho Các  Môn Đệ trong Tin Mừng Thứ Tư

Nxb. Tôn Giáo, 2010, khổ 14,5 x 20 cm, 316 trang
Loại sách tìm hiểu Tin Mừng Gio-an

Tin Mừng thứ tư cho thấy các môn đệ trước biến cố Thương Khó – Phục Sinh, cũng như cộng đoàn Gio-an cuối thế kỷ I, đang khủng hoảng trầm trọng. Khủng hoảng từ bên trong: người nộp Thầy, kẻ chối Thầy; đã xảy ra việc nhiều môn đệ bỏ đi, không theo Đức Giê-su nữa. Các môn đệ chưa hiểu ý nghĩa biến cố đang xảy ra, nên “nỗi buồn lấp đầy” lòng các môn đệ vì Đức Giê-su sắp ra đi. Cộng đoàn người tin hoang mang vì Đức Giê-su vắng mặt. Không thấy Người lên tiếng, họ nghĩ bị bỏ rơi, bị mồ côi. Đối với bên ngoài, cộng đoàn môn đệ đang xao xuyến và sợ hãi trước sự thù ghét và bách hại. Những thử thách trên quy về một khủng hoảng duy nhất: Khủng hoảng niềm tin. Niềm tin của các môn đệ đang bị lung lay và có nguy cơ vấp ngã. Vậy, làm thế nào để vượt qua và đứng vững?

Tin Mừng thứ tư đưa ra nhiều giải pháp thiết thực cho những khủng hoảng trên nhờ lời mặc khải. Những giải pháp Đức Giê-su đề nghị không làm biến mất những thử thách; ngược lại, ngay giữa những khó khăn trong cuộc sống hằng ngày, các môn đệ sẽ vượt qua tất cả, nhờ ơn ban từ trên cao, nhờ chân lý mặc khải đến từ Thiên Chúa. Thực ra, người tin ở trong hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan: Theo Đức Giê-su thì gặp nhiều khó khăn nhưng lại có sự sống đích thực; không theo Đức Giê-su lại bị chết khô như cành nho không gắn liền với thân nho. Ước mong tập sách Khủng hoảng và giải pháp cho các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư vừa giúp độc giả học hỏi Tin Mừng vừa giúp tìm ra giải pháp để vượt qua những khủng hoảng trong cuộc sống.

9. Phân Tích Thuật Chuyện và Cấu Trúc , áp dụng Vào Tin Mừng Thứ Tư

Nxb. Phương Đông, khổ 14,5 x 20,5 cm, 228 trang
Loại sách Phương pháp đọc Kinh Thánh

Tập sách giúp người đọc tìm ra ý nghĩa mặc khải trong bản văn, giúp nhận ra sứ điệp bản văn muốn gửi tới độc giả. Khi đọc bản văn Kinh Thánh, người đọc làm cho bản văn Kinh Thánh sống động và có ý nghĩa; đồng thời bản văn Kinh Thánh cũng làm cho người đọc được sống, được nuôi dưỡng, nhờ những nét hay, đẹp và độc đáo trong bản văn. Đọc bản văn Kinh Thánh như thế tạo ra sự tương tác giữa hai thế giới: Thế giới của bản văn (sứ điệp mặc khải) và thế giới của người đọc (kinh nghiệm sống, văn hóa, lịch sử bản thân).

10. Đấng Pa-Rác-Lê – Thần Khí Sự Thật Trong Tin Mừng Thứ Tư

Nxb. Tôn Giáo, 2010, khổ 14 x 20 cm, 376 trang
Loại sách tìm hiểu Tin Mừng Gio-an

 “Đấng Pa-rác-lê” trong Tin Mừng thứ tư đồng hóa với “Thần Khí sự thật” và “Thánh Thần”. Đấng Pa-rác-lê, tiếng Hy-lạp: Paraclêtos, được dịch nhiều cách, chẳng hạn trong tiếng Việt: “Đấng Bảo trợ”, “Đấng Bàu chữa”…; tiếng Pháp: “le Consolateur”; tiếng Anh: “the Comforter”, “the Counsellor”, “the Helper”, “the Advocate”… Một số bản dịch giữ nguyên ngữ: “Paracletus” (La Tinh), “Le Paraclet” (Pháp), “The Paraclete” (Anh). Tại sao lại chọn giữ nguyên ngữ và gọi là “Đấng Pa-rác-lê”?

Tập sách này tìm hiểu chi tiết về Đấng Pa-rác-lê. Điểm độc đáo là trong toàn bộ Kinh Thánh, Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật

11 và 12.  Yêu và Ghét trong Tin Mừng Gioan, Phần I và II  

Nxb. Phương Đông, 2010, khổ 14 x 20 cm,
Phần I, 400 trang, Phần II, 400 trang.

“YÊU” và “GHÉT” là đề tài lớn trong Tin Mừng thứ tư. Tin Mừng này được trình bày như một vụ kiện giữa “ánh sáng” và “bóng tối”, giữa lựa chọn “tin” hay “không tin”. Đứng trước “tình yêu dành cho bóng tối” và “sự thù ghét của thế gian”, Đức Giê-su mời gọi các môn đệ sống theo nguyên tắc: “Ai yêu mạng sống mình thì mất nó; ai ghét mạng sống mình trong thế gian này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời.”

YÊU và GHÉT trong Tin Mừng Gio-an cố gắng tìm hiểu cách thức Tin Mừng Gio-an xây dựng thần học qua hai động từ đối lập “yêu – ghét”, qua việc trả lời những câu hỏi: Thế gian thù ghét là ai? Tại sao thế gian ghét các môn đệ? Hậu quả của việc yêu mến bóng tối là gì? Tại sao Đức Giê-su lại mời gọi các môn đệ “ghét mạng sống mình”, kiểu nói này diễn tả điều gì và có ý nghĩa gì trong bối cảnh Tin Mừng Gio-an?

Sưu tầm và tóm lược : Thủ Thư

Nguồn : leminhthongtinmunggioan.blogspot.com

Comments are closed.