Các Bề trên Tổng quyền tiên khởi Dòng Đa Minh

0

Từ khi cha thánh Đa Minh qua đời cho đến hết thế kỷ XIII, Dòng Anh Em Thuyết Giáo đã trải qua một thời kỳ phát triển nhanh chóng, có thể được gọi là thời kỳ vàng son. Lược qua 8 đời Bề trên Tổng quyền trong khoảng thời gian 80 năm, hy vọng chúng ta sẽ trân trọng những vinh quang, những đóng góp của Dòng cho Giáo hội và được truyền cảm hứng để vươn mình hướng đến tương lai.

1. JORDAN SAXONY (1221–1237)

Dòng may mắn có nhiều Bề trên Cả vĩ đại, hầu hết xuất hiện trong thời kỳ đầu. Vị đầu tiên là Chân phước Jordan Saxony (Lễ nhớ ngày 13.02), làm Bề trên Cả từ năm 1221 cho tới khi ngài qua đời vào năm 1237, kéo dài 16 năm. Cha Jordan chỉ mới trở thành tu sĩ Dòng Đa Minh được hai năm thì được bầu làm Bề trên, kế vị thánh Đa Minh. Nhưng Ngài đã hoàn toàn nắm bắt được lý tưởng và tinh thần của Đấng Sáng lập, thậm chí đã thực hiện được các kế hoạch mà thánh Đa Minh cưu mang trong tâm trí, trong phút lâm chung, và đã làm cho giấc mơ của thánh nhân trở nên hiện thực. Trong thời kỳ cha Jordan làm bề trên Cả, nhân số của Dòng tăng lên khủng khiếp. Đến năm 1250, có 13000 tu sĩ trong đó có 10000 linh mục. Vào lúc thánh Đa Minh qua đời, Dòng có 8 tỉnh; còn vào lúc cha Jordan qua đời thì Dòng có 12 tỉnh, trong đó có một tỉnh Dòng ở Đất Thánh nằm dưới sự kiềm chế của Thập Tự Chinh. Khi thánh Đa Minh qua đời Dòng có 15 tu viện, đến năm 1227 thì con số tăng lên 404. Mỗi tu viện có một trường dạy thần học đi kèm theo dưới sự hướng dẫn của một giáo viên thần học (lector). Tất cả tu sĩ phải tham dự lớp. Ngoài ra Dòng cũng đã thiết lập các học viện với trình độ đại học ở Âu Châu bao gồm Paris, Oxford và Bologna.

Vào năm 1237, sau cuộc hành hương và thăm Tỉnh Dòng ở Đất Thánh trở về, cha Jordan đã bị đắm tàu và qua đời. Nhưng Dòng đã không mất đi tất cả. Người lên kế nhiệm ngài là thánh Raymond Pennafort.

2. RAYMOND PENNAFORT (1238–1240)

Thánh Raymond Pennafort là một trong các tu sĩ Đa Minh vĩ đại nhất, mặc dù Ngài không được trân trọng như đáng được. Ngài sinh năm 1175 trong một gia đình Catalonia người Tây Ban Nha. Ngài được giáo dục ở Bologna, trường Giáo Luật lớn nhất Âu Châu thời bấy giờ và trở thành một chuyên gia Giáo Luật và làm giáo sư ở đó. Nhưng sau đó ngài trở về Barcelona (Tây Ban Nha) và gặp thánh Đa Minh nhân một chuyến hành trình của thánh nhân đi ngang qua đó. Nhân duyên này và những ấn tượng về các tu sĩ Đa Minh mà ngài đã biết ở Bologna đã thúc đẩy ngài gia nhập Dòng vào năm 1222. Lúc đó ngài 47 tuổi và được biết đến như một luật gia vĩ đại nhất của Giáo hội. Việc ngài vào Dòng đã gây ảnh hưởng lớn trong giới học đường, dẫn đến kết quả là có nhiều học giả khác cũng nhận được ơn gọi trở thành tu sĩ Đa Minh.

Sau thời gian năm Tập, ngài được Đức Giáo hoàng Grêgôriô XI, người bạn vĩ đại của thánh Đa Minh, chọn làm cha giải tội cho Ngài. Vì công việc này rõ ràng không chiếm toàn thời gian, cho nên Đức Thánh Cha đã trao cho ngài viết Bộ Giáo Lệnh, sắp xếp theo thứ tự và hệ thống các điều lệ của Giáo hội, mà cho tới lúc bấy giờ vẫn chưa từng được thu thập hay tổ chức lại. Có lẽ đây mới là lý do chính yếu Đức Grêgôriô đã triệu ngài về Rôma. Bộ giáo lệnh của cha Raymond là bộ luật nền tảng của Giáo hội cho đến năm 1918 sau khi bộ giáo luật mới được ban hành. Khi công việc đồ sộ này hoàn tất, cha Raymond được trao chức tổng giám mục, và rồi ngài phải từ chối vì được bầu làm cha Bề trên Cả của Dòng vào năm 1238, kế nhiệm chân phước Jordan Saxony.

Trong cương vị Bề trên Cả, ngài đã sửa đổi Hiến pháp Dòng và đặt chúng vào khuôn thước của giáo luật cách nghiêm ngặt. Nhiều tổng hội trước đây đã rảo qua các vấn đề liên quan đến luật lệ nhưng chẳng bao giờ đặt luật thành một bộ mạch lạc rõ ràng, dẫn đến hậu quả là không ai nắm chắc được Luật Dòng là gì. Các vị kế nhiệm cha Raymond rất trân trọng công việc của ngài. Sau khi nhiệm vụ cần thiết này hoàn tất, thánh nhân xin từ chức Bề trên Cả vào năm 1241 dựa trên lý do là tuổi cao sức yếu. Lúc ấy ngài 66 tuổi. Nhưng ngài vẫn còn sống thêm 34 năm nữa và qua đời vào tuổi 100.

Trong thời kỳ vàng son của mình, ngài đã quan tâm đến việc hoán cải những người theo Hồi giáo (Tây Bắc Phi Châu) và người Do Thái. Vì mục đích đó mà ngài đã yêu cầu thánh Tôma Aquinô viết một một tác phẩm lớn là Summa Contra Gentiles. Tác phẩm là một tổng luận về các cuộc tranh cãi chống lại giáo lý của người Hồi giáo và của các thày Rabbi Do Thái giáo, đặc biệt những người được học ở Tây Ban Nha. Ngài cũng lập ra các trường để huấn luyện tu sĩ Đa Minh trong các miền ngôn ngữ Cận Đông, tăng thêm một số hoạt động khác nhằm phát triển công việc tông đồ cho người Hồi giáo.

Nhìn chung người ta nghĩ các luật gia là những người lạnh lùng và khô khan cứng rắn. Nhưng cha Raymond không phải như thế. Ngài là một cha giải tội rất tử tế, cảm thông và hiểu biết. Những lời khuyên của ngài đối với các cha giải tội đồng bạn mang tính mục vụ và rất dịu dàng.

3. JOHN TEUTON (1241–1252)

Người kế vị Bề trên Cả năm 1241 là cha John Teuton (Johannes von Wildeshausen) có nhiều tài năng của một nhà ngoại giao. Trước hết ngài là một linh mục và giáo sư đại học Bologna. Ngài nhận áo dòng từ tay thánh Đa Minh và tuyên khấn trong tay ngài vào năm 1219 lúc ngài hơn 40 tuổi. Năm 1227, ngài được bầu làm giám tỉnh tỉnh dòng Hungary và sau đó làm giám mục Hungary. Đây là một địa vị rất khó khăn đòi hỏi tất cả tài năng ngoại giao của Ngài. Ngài đã đạt rất nhiều thành công, nhưng cuối cùng tình hình trở nên xấu đi đến nỗi ngài từ bỏ chức giám mục và trở lại tuân thủ luật Dòng. Tuy nhiên ngài vẫn là giám mục bởi vì chức giám mục là vĩnh viễn. Dù vậy ngài được chọn làm giám tỉnh tỉnh dòng Lombardy. Một tình trạng lộn xộn khác lại nổi lên, và môt lần nữa, ngài có thể cản ngăn sự bùng nổ giữa hoàng đế Rôma và Đức Giáo hoàng, và hoàn thành rất xuất sắc sứ vụ này. Và vì thế ngài được bầu làm Bề trên Cả kế vị cha Raymond. Trong số các cha Bề trên Cả, ngài là người duy nhất làm giám mục.

Cha John tiếp tục đường lối của các vị tiền nhiệm về việc học hành, tuân giữ kỷ luật, phụng vụ và giảng thuyết. Ngài cũng thực hiện công việc của thánh Raymond Pennafort với những người Hồi giáo, chỉ đạo việc sáng lập các trường đào tạo bằng nhiều ngôn ngữ, phong tục và niềm tin. Ngoài ra ngài cũng mở rộng hoạt động của Dòng ở miền Trung Đông. Ngài qua đời trong khi đang giữ chức vụ vào năm 1252.

4. HUMBERT DE ROMANS (1254–1263)

Một trong những người kế vị vĩ đại nhất là Humbert de Romans. Theo cái tên, ngài là người Pháp bởi vì ngài sinh ra trong một thị trấn Pháp của người La Mã vào năm 1193. Năm 1224 trong thời gian ngài làm giáo sư tại đại học Paris thì gia nhập Dòng. Trong tư cách là tu sĩ Đa Minh, ngài được chuyển đến Đại học Lyons. Ngài được bầu làm giám tỉnh tỉnh dòng Lombardy. Năm 1244 ngài làm giám tỉnh Pháp. Ngài suýt nữa bị bầu làm giáo hoàng trong mật nghị Hồng y bầu người kế vị thánh Phêrô; Đức Grêgôriô XI, người bạn vĩ đại của thánh Đa Minh lần ấy đã đắc cử. Năm 1252 ngài được bầu làm Bề trên Cả của Dòng, kế vị cha John Teuton. Sau khi mãn nhiệm ngài cũng từ chối nhận chức Thượng phụ Giêrusalem vì lòng khiêm tốn. Trong số những đóng góp của ngài cho đời sống Dòng, phải kể đến những bài giải thích Hiến pháp và Tu luật thánh Augustinô, lá thư viết về các lời khấn và những chỉ thị về các chức vụ trong Dòng. Sách giải thích Tu luật vẫn còn được sử dụng cho tới những năm gần đây. Ngài cũng đặc trách về sách Phụng vụ Dòng Đa Minh còn được sử dụng cho đến những năm 1960.

5. GIOVANNI VERCELLI (1264–1283)

Humbert de Romans rời chức vụ Bề trên Cả vào năm 1264 thì chân phước Gioan Vercelli lên kế nhiệm. Ngài từng làm giám tỉnh tỉnh Dòng Lombardy. Tỉnh này được coi như là mảnh đất đào tạo nên các Bề trên cả tiên khởi của Dòng. Cha Giovanni đã nhận tu phục từ tay Chân phước Jordan Saxony tại Paris, đó cũng là nơi ngài làm giáo sư môn giáo luật. Khi đắc cử, ngài ở tuổi 60 và đi khập khiễng. Trong vai trò Bề trên Cả, ngài đã theo gương các vị tiền nhiệm và đi khắp các miền Âu Châu để thăm viếng các cộng đoàn, thực hiện cuộc di dời thi hài của thánh Đa Minh tới mộ phần và được cất giữ cho đến ngày nay. Khi Đức Giáo hoàng Clement IV qua đời, cha Giovanni suýt nữa bị bầu làm vị kế nhiệm. Nhưng ngài đã nhanh chóng ra khỏi thành, để người bạn hữu của ngài được bầu thay vào đó.

Thành tựu lớn nhất của ngài là chấp nhận cho Dòng thi hành nhiệm vụ mà Công đồng Lyon ủy thác là rao giảng về sự tôn kính Thánh Danh Chúa Giêsu. Từ đó xuất hiện Hội Thánh Danh, một tổ chức dành cho nam giới có quyền thế lớn nhất tại Hoa Kỳ trong nhiều năm. Ngày nay Hội này đang lo vận động phong thánh cho chân phước Giovanni. Ngài cũng đã đặt viên đá đầu tiên để xây nhà thờ Santa Maria Sopra Minerva, được mọi người biết đến là Minerva ở Rôma, nơi chôn cất thánh nữ Catarina và chân phước Angelico. Ngài qua đời năm 1283.

6. MUNIO DE ZAMORA (1285–1291)

Vị kế nhiệm tiếp theo là Munio Zamora giám tỉnh tỉnh dòng Tây Ban Nha. Ngài sẽ được giới huynh đoàn Đa Minh hết mình trân trọng, bởi vì ngài đã nhận ra rằng người giáo dân, một khi đã liên kết với Dòng, thì cần phải có một bản luật để hướng dẫn họ. Vì thế ngài đã ban hành một Bản luật cho họ vào năm 1285. Bản luật được Đức Giáo hoàng Hônôriô IV phê chuẩn nhiệm ý năm 1286 và sau đó được minh nhiên công nhận bằng thư châu phê năm 1404.

Cha Munio là một trong các cha bề trên bị quấy rầy nhiều nhất. Cha đã bị chính anh em mình buộc tội vô căn cớ, và cho dù tổng hội Dòng đã bênh vực cha, Đức Giáo hoàng Nicola IV vẫn giáng chức cha. Sau đó cha rút về quê hương là Tây Ban Nha và được chọn làm giám mục thành Palencia nơi xưa kia thánh Đa Minh đã theo đại học. Cha tiếp tục bị kẻ thù tấn công trong cương vị đó. Cảm thấy đã quá đủ, cha liền từ nhiệm và trở về Santa Sabina ở Rôma. Cha qua đời năm 1300 và được mai táng trong nhà thờ Santa Sabina mà ngày nay chúng ta có thể nhìn thấy ngôi mộ ngài được phủ lấp bằng một phiến đá cẩm thạch với tranh mosaic.

7. ETIENNE DE BESANÇON (1292–1294) 

Sau đó đến cha Etienne de Besancon một nhà giảng thuyết và thần học gia lỗi lạc. Cha bắt đầu vào đại học năm 1273 và tốt nghiệp Baccalaureus biblicus (tương đương với cử nhân Thánh Kinh) năm 1286. Hai năm sau cha đạt được bằng Magister thuộc phân khoa thần học của Đại học Paris. Người ta cũng cho rằng cha là tác giả của bộ sưu tập các bài giảng Alphabetum narrationem.

Cha được bổ nhiệm làm giám tỉnh tỉnh dòng Pháp miền Bắc năm 1291 và rồi được bầu làm Bề trên Cả năm 1292. Trong cương vị đó, cha đã dẫn dắt Dòng quay trở về lối sống nghiêm ngặt theo lý tưởng ban đầu. Năm 1294 cha qua đời tại Lucca miền Tuscany trên đường trở về Rôma sau những chuyến kinh lý các tu viện. 

8. NICHOLAS BOSCASINI (1296–1298)

Cha Nicholas Boscasini lên kế vị. Nhưng phục vụ chưa đầy hai năm thì ngài được chọn làm Hồng y Giám mục Ostia. Vào năm 1303 ngài được bầu làm giáo hoàng với tông hiệu Bênêđíctô XI và sau này được phong chân phước.

***

Viết về thời kỳ vàng son của Dòng, cha William Hinnebusch, OP nhận định tóm tắt như sau:
Thế kỷ đầu của Dòng đã chứng kiến một mùa xuân sứ vụ: thành lập các hệ thống học đường, trổi vượt về học rộng uyên thâm và tài lãnh đạo của một số Bề trên Cả đặc biệt hiếm có là những người đã biết lắng nghe tiếng nói của Thánh Thần. Dưới sự lãnh đạo đầy can đảm của các Bề trên, anh em đã phát triển các chức năng tông đồ như nhà giảng thuyết, nhà thanh tra, nhà đại sứ, các vị đại diện Tòa Thánh, vị trung gian và thẩm phán. Họ đã tham dự các Công đồng chung và hoạt động cho sự hiệp nhất giữa các Giáo hội Đông và Tây. Sự thánh thiện toát ra từ những người Đa Minh tiền bối này chứng tỏ rằng cái giằng co giữa hai khuynh hướng – chiêm niệm và hoạt động – có thể hài hòa được với nhau và gần như hoàn hảo trên đỉnh cao của sự trọn lành. Đây là những con người ưu tú thành đạt do việc trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô vị Giảng Thuyết, Thiên Chúa làm người sống nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục, Đấng rao giảng Tin mừng cứu độ. Những người nam và nữ Đa Minh trong khi cầu nguyện, suy tư và cảm nghiệm về Lời Chúa – Lời nhập thể và Lời thành văn – sẽ nên giống Đức Kitô, những tông đồ chiêm niệm đang hoạt động cho Nước Chúa và cho ơn cứu độ con người (The Dominicans: A Short History, p. 44).

Sr. Maria Đinh Thị Sáng

chuyển ý từ fr. Gregory Anderson OP, The Dominican Story, chương I (oldgreg@pacifier.com)

Comments are closed.