Kitô hữu truyền giáo

0

KITÔ HU TRUYN GIÁ

Thư Mục vụ của HĐGM VN viết: “Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã củng cố niềm tin của các Tông đồ, mở trí cho các ngài hiểu Thánh kinh và trao cho các ngài sứ mạng đi rao giảng cho muôn dân, kêu gọi thống hối để được ơn tha tội, Người khẳng định: “Chính anh em là chứng nhân về những điểu này” (Lc 24,48). Từ đó, sống chứng nhân là cách thế biểu thị sống động nhất về sức mạnh yêu thương cứu độ của Thiên Chúa. Cũng như Chúa Giêsu đến trần gian không để tìm vinh quang cho chính mình, nhưng là để làm vinh danh Thiên Chúa và cứu độ con người. Kitô hữu bước theo Chúa Giêsu để được Tin mừng của Người biến đổi, và qua đó họ trở nên những người đem Tin mừng cho thế giới này (số 4).

Như thế, việc sống đạo của Kitô hữu là làm chứng nhân cho Đức Kitô bằng việc loan báo Tin mừng và xây dựng Nước Chúa ở trần gian. 

I. RAO GING  

Ưu tiên hàng đầu của sứ vụ truyền giáo là rao giảng Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ duy nhất và phổ quát của toàn nhân loại. Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Thế đã minh định: Việc rao giảng Tin Mừng luôn luôn bao gồm lời công bố rõ ràng trong Đức Kitô ơn cứu độ đã được ban cho mọi người như một quà tặng tuyệt vời của ân sủng và lòng thương xót của Thiên Chúa. Đó chính là tâm điểm, đồng thời là tột đỉnh của động năng việc rao giảng. Mọi hình thức hoạt động truyền giáo đều hướng tới việc rao giảng này. Nó tỏ lộ và dẫn tới mầu nhiệm vốn được giữ kín từ bao thuở và được mạc khải trong Đức Kitô là tâm điểm của việc truyền giáo (RM 44).

Nền tảng của việc rao giảng trước hết là chính mẫu gương của Đức Giêsu, Đấng được Cha sai đến để rao giảng Tin Mừng (x. Lc 4,18-19; Mc 1,15.38). Sau khi sống lại, đến lượt mình, Chúa Giêsu đã trao cho các Tông đồ sứ mệnh tiếp nối Ngài mà đi rao giảng Tin Mừng và mọi điều Ngài đã dạy: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21).

Ngày chịu phép rửa, Thánh Thần đã ngự xuống trên Ngài để tấn phong cho Ngài chức vụ Thiên sai ngôn sứ hầu bắt đầu sứ vụ rao giảng (Lc 3,23; cf. Lc 4,18-22). Trong ngày lễ Ngũ tuần, Chúa Kitô phục sinh đã ban tràn đầy Thánh Thần cho các Tông đồ để các ông bắt đầu thi hành lệnh sai đi của Ngài là rao giảng và làm chứng về Ngài cho đến tận cùng trái đất (Cv 2,1tt). Lời chúa được rao giảng và đón nhận là con đường dẫn đến đức tin để được cứu rỗi (Rm 10,14-17). Và chính Lời Chúa triệu tập và thiết lập Dân Chúa, để dân này được nuôi dưỡng và phát triển nhờ bàn tiệc Mình Máu Chúa qua mọi thế hệ. Đó là mục tiêu của sứ vụ truyền giáo của Giáo hội mà chính Chúa Giêsu đã truyền dạy (Mt 28, 19-20). 

II. XÂY DNG NƯỚC THIÊN CHÚA

1. Đc Giêsu thiết lp Nước Thiên Chúa

a. Nước Thiên Chúđã được loan báo t trong CƯớc

Sau khi tổ tông loài người phạm tội, Thiên Chúa không bỏ nhân loại, Người hứa cứu độ. Người đã tuyển chọn Israel và qua Giao ước Sinai (Xh 19), Người đã thiết lập dân này thành dân riêng để thực hiện kế hoạch yêu thương của Người đối với toàn thể nhân loại, như sấm ngôn Isaia đã loan báo: “Muôn dân sẽ tuôn đổ về Giêrusalem nghe Chúa dạy bảo” (Is 2,2-5). Thế nhưng lịch sử Israel có thể nói là một thảm kịch của Giao ước với những bất trung liên lỉ, dù Thiên Chúa luôn thành tín với Giao ước. Sau cùng, Thiên Chúa đã sai phái Con Một của Người đến thế gian để thiết lập Nước Thiên Chúa và đặt nền móng vững chắc cho Nước này, đồng thời tái lập Giao ước vĩnh cửu với Dân mới.

b.  Đc Giêsu đến thiết lp Nước Thiên Chúa

Đức Giêsu đến thực hiện kế đồ cứu độ của Chúa Cha, trước hết bằng việc thiết lập Nước Thiên Chúa giữa trần gian. Ngài loan báo: “Nước Thiên Chúa đã đến gần, anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,14-15). Chính Ngài đã xác định sứ mạng của mình là công bố và thiết lập Nước ấy: “Chính vì điều ấy mà tôi được sai đến” (Lc 4,43). Đó là vương quốc công lý và an bình, ân sủng và tự do, thánh thiện và yêu thương. Trong vương quốc đó, Thiên Chúa là Cha của hết mọi người và tất cả đều là anh em với nhau. Đức Giêsu đã từng mạc khải cho biết Thiên Chúa là Cha yêu thương (Mc 14,36; 1Ga 4,8-16), giàu lòng thương xót và nhạy cảm trước mọi nhu cầu và khổ đau của con người, một người cha đầy lòng trắc ẩn, sẵn sàng tha thứ và ban ơn cho những ai kêu cầu (cf. Lc 15).

Đức Giêsu công bố thuộc về Nước này gồm những ai tin vào Ngài, thực hành giáo huấn của Ngài là sống yêu thương phục vụ như Ngài đã đến thế gian không phải để được hầu hạ, nhưng để hầu hạ và hiến dâng mạng sống mình (Lc 22,27). Tình bác ái là nét đặc thù qua đó người ta nhận ra môn đệ đích thực của Đức Giêsu (Ga 13,34-35). Trước tử nạn, Đức Giêsu đã rửa chân cho các môn đệ, ban giới luật mới là yêu thương như Chúa yêu và thiết lập Bí tích Thánh Thể như Giao ước mới trong Máu của Ngài.

c. Nhng đđim ca Nước Thiên Chúa

Bằng lời rao giảng, bằng hành động và bằng chính cả cuộc sống của mình, Đức Giêsu đã dần dần mạc khải cho biết những đòi hỏi của Nước Thiên Chúa:

– Nước Thiên Chúa dành cho mọi người. Để nhấn mạnh khía cạnh này, Ngài đã phá tung mọi hàng rào cản của xã hội và tôn giáo Do Thái thời ấy để gần gũi với những người nghèo, chung bàn với người thu thuế, tiếp cận với kẻ tội lỗi… Mọi người không trừ ai đều được mời gọi và đón nhận vào Nước Thiên Chúa.

– Nước Thiên Chúa giải phóng toàn diện con người: thể xác và tinh thần. Việc Đức Giêsu chữa lành các bệnh nhân diễn tả cho biết không những Ngài chữa lành phần xác, nhưng cốt yếu là giải thoát khỏi tội để người đó được thật sự đi vào trong tương quan nhân vị với Thiên Chúa và trở thành dễ yêu trước con mắt của Thiên Chúa. Ngài tha thứ tội lỗi. Ngài trắc ẩn thương tâm ẩn trước những thống khổ của nhân loại. Mục đích của Ngài đến là để giải phóng con người như Tin Mừng Luca đã trình thuật trong buổi khai mạc sứ vụ tại hội đường Nazareth: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó, công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù được sáng, trả lại tự do cho kẻ bị áp bức” (Lc 4,16-19).

– Nước Thiên Chúa biến đổi con người. Một khi đón nhận và gia nhập Nước Thiên Chúa, con người được Thánh Thần biến đổi để sống yêu thương và hiệp nhất (Mt 22,34-40). Từ hiệp thông tròn đầy với Thiên Chúa, con ngươi sẽ hiệp thông tình nghĩa với nhau (1 Ga1,3; Cv 2,42).

– Nước Thiên Chúa biến đổi cả thế giới. Nước Thiên Chúa hiện diện giữa thế giới và trong dòng lịch sử nhân loại để biến đổi thế giới. Cụ thể, Nước ấy là chất men ướp mặn thế giới khỏi hư đi, là ánh sáng, là sức mạnh giải phóng con người khỏi sự dữ. Do đó, khi xây dựng Nước Thiên Chúa, tức là xây dựng thế giới. Công việc Phúc âm hóa là để xây dựng Nước Thiên Chúa giữa lòng trần thế.

2. Nước Thiên Chúa là Giáo Hđược thiết lp nơi trn gian

a. Nhng quan nim lch lc

Quan niệm về cứu độ và truyền giáo lấy con người làm trung tâm, chỉ chú trọng đến những nhu cầu trần thế của con người có nguy cơ làm cho Nước Thiên Chúa trở thành một thực tại hoàn toàn nhân bản. Theo quan niệm này, rao giảng và phục vụ Nước Thiên Chúa chỉ nhằm đến sự giải phóng con người trên bình diện xã hội, kinh tế, chính trị và văn hóa. Giáo hội cổ vũ những giá trị trần thế, nhưng Giáo hội cũng nhắc nhở cho nhân loại biết nhu cầu con người không chỉ dừng lại ở lãnh vực trần thế, mà còn luôn khao khát siêu việt, hướng về Thiên Chúa là cội nguồn hiện hữu và cùng đích cuộc sống. Đức Giêsu đã từng tuyên bố trước tòa án Philatô: “Nước Chúa không thuộc về thế gian này” (Ga 18,36).

Quan niệm bỏ qua sự liên hệ giữa Thiên Chúa với Đức Kitô và với Giáo Hội. Những người theo quan niệm này chủ trương là để dễ dàng đối thoại với các tôn giáo khác, cần phát huy các giá trị của Tin Mừng như hòa bình, công lý, tự do, huynh đệ nhưng bỏ qua vai trò của Đức Kitô và Giáo Hội trong việc xây dựng Nước Thiên Chúa. Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Thế đã vạch ra những sai trái khi tuyên bố bỏ qua Đức Kitô tức là họ chỉ nhấn mạnh đến sáng tạo mà lại yên lặng về cứu độ, xem nhẹ Giáo Hội thậm chí còn coi Giáo Hội là cản trở trên con đường tiến tới Nước Thiên Chúa.

Thông điệp khẳng định Nước Thiên Chúa do Đức Kitô thiết lập mang hình ảnh của Ngài, mà Ngài là hình ảnh của Chúa Cha vô hình. Do đó không thể có một Nước Thiên Chúa phi Kitô.

Chúa Giêsu đã dùng nhiều dụ ngôn để dạy về Nước Thiên Chúa (cf. Mt 13), trong đó có dụ ngôn hạt cải và men trong bột (Mt 13,31-33). Qua các dụ ngôn này, Ngài muốn dạy ta biết mọi công trình của Thiên Chúa đều như khởi sự từ những gì bé nhỏ trước mắt người đời; thế rồi qua dòng thời gian, chính Thánh Thần sẽ hoạt động và làm cho phát triển. Cũng thế, nước Thiên Chúa do Chúa Giêsu thiết lập lúc đầu chỉ bé nhỏ với nhóm các Tông đồ và một số các môn đệ. Thánh Thần sẽ hoạt động để khơi dậy trong lòng mỗi người thuộc mọi thế hệ lòng khát khao tìm kiếm chân lý, như thánh Augustin đã tỏ bày: Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng con cho Chúa, và tâm hồn con luôn thao thức cho đến khi được an nghỉ trong Chúa”. Nước Thiên Chúa sẽ từ từ lớn lên và không ngừng phát triển giữa lòng lịch sử nhân loại. Giáo Hội là hạt giống làm nẩy nở Nước Thiên Chúa và là dụng cụ để xây dựng Nước Thiên Chúa giữa thế gian. Vì thế, không thể tách Đức Kitô ra khỏi Nước Thiên Chúa, cũng như không thể tách rời Giáo hội ra khỏi Nước Thiên Chúa, bởi lẽ Nước Thiên Chúa chính là Giáo Hội được Đức Kitô thiết lập, là mầm móng và khai nguyên Nước ấy ở trần gian (GH 5).

b. Xây dng và phát trin Nước Thiên Chúa

Giáo hội là công trình của Chúa Ba ngôi: phát xuất từ ý định cứu rỗi đời đời của Chúa Cha, Đấng muốn quy tụ mọi người vào trong Giáo hội, được Đức Kitô thiết lập và Chúa Thánh Thần trang trí điểm tô cho đến khi Đức Kitô quang lâm.

Giáo hội là mầm mống và là khí cụ xây dựng và phát triển Nước Chúa giữa trần gian bằng:

– Mời gọi sám hối để biến đổi toàn diện con người và cuộc sống theo Tin Mừng (Mc 1,15);

– Thiết lập các giáo hội địa phương tại những nơi mà các nhà thừa sai đến rao giảng;

– Hướng dẫn các cộng đoàn trưởng thành trong đức tin và đức ái;

– Nhiệt thành phục vụ xã hội và lợi ích chung của mọi người theo tinh thần Tin Mừng;

– Truyền bá các giá trị của Tin Mừng: những giá trị nhân bản và thiêng liêng: công bằng, thành thật, yêu thương, nhân ái, hòa giải và tha thứ…

c. Thăng tiến con người, dn thân cho công lý hòa bình, phc v ưu tiên người nghèo, k bị gt ra ngoài l xã hi

Sứ mạng của Hội thánh không thuộc bình diện chinh trị, kinh tế, xã hội; nhưng đó là sứ mạng thiêng liêng và siêu việt, không giản lược vào hoạt động kinh tế và chính trị. Tuy nhiên, cũng như sứ mệnh của Đức Giêsu được tóm lại trong rao giảng và chữa lành, Hội thánh nhận thức rõ ràng mối liên hệ mật thiết giữa sứ mạng rao giảng và sự giải phóng, thăng tiến con người. Khi Hội thánh rao giảng chân lý về Chúa, về vũ trụ, về con người, Hội thánh góp phần cơ bản và chủ yếu cho việc giải quyết các vấn đề phát triển và giải phóng, luôn đề ra những phương hướng hành động, đặc biệt trong các vấn đề công bằng xã hội, nhắm tới việc tôn trọng và thăng tiến phẩm giá con người, giải phóng toàn diện con người. Đặc biệt Hội thánh ý thức sứ mạng phục vụ người nghèo, bị áp bức và bị gạt ra bên lề xã hội.

3. Giáo hđược sai đi

a. Chúa Thánh Thn hođng

Chúa Thánh Thần hằng hiện diện và hoạt động trong suốt chiều dài lịch sử truyền giáo của Giáo hội: bắt đầu từ ngày lễ Hiện xuống, Thánh Thần khai mạc sứ vụ truyền giáo của Giáo hội (Cv 2,1s), tách riêng Phaolô và Barnaba để sai đến với dân ngoại (Cv 13s), tại Công đồng Giêrusalem (Cv 15), hướng dẫn và thúc đẩy các nhà truyền giáo ra đi đến tận cùng trái đất đem Tin Mừng thấm nhập vào các nền văn hóa của các dân tộc.

Chúa Thánh Thần hiện diện và hoạt động trong các nhà truyền giáo (Ga 20,21; Cv 5,32; Cv 15,28), cũng như trong những người nghe rao giảng (Cv 10,45; Cv 9,31).

Chúa Thánh Thần làm cho mọi Kitô hữu thành thừa sai. Sứ vụ truyền giáo không dành riêng cho một ai hay một lớp người ưu tuyển, nhưng là bổn phận của mỗi Kitô hữu như là hệ luận của đức tin và đức ái: “Truyền giáo là vấn đề của niềm tin, đó là thước đo đức tin của chúng ta vào Đức Giêsu Kitô và vào tình yêu Người dành cho ta”.

Chúa Thánh Thần khơi dậy nơi tâm hồn con người, thuộc mọi thế hệ, lòng khát khao tìm kiếm chân lý. Người hoạt động vượt ra khỏi biên cương của Giáo hội hữu hình, vì “Gió muốn thổi đâu thì thổi; nghe tiếng gió nhưng không biết gió từ đâu và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy” (Ga 3,8).

b. Môi trường truyn giáo

Thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Thế viết: Hoạt động truyền giáo của Giáo hội nhắm tới các dân tộc, các nhóm người, các bối cảnh văn hóa xã hội chưa biết tới Đức Kitô và Tin Mừng của Ngài, hoặc đó là những nơi không có các cộng đồng Kitô hữu đủ vững mạnh (RM 33). Như thế, sứ vụ truyền giáo nhắm đến mọi người, mọi nơi trong mọi lãnh vực cuộc sống con người: nơi đô thị phố xá, nơi quê nghèo heo hút, tại các trung tâm văn hóa, trong các lãnh vực hoạt động bênh vực quyền lợi con người và các dân tộc, các trung tâm khoa học, những trại định cư, tỵ nạn, những trung tâm du lịch… Rao giảng và giới thiệu Đức Kitô và Tin Mừng của Ngài cho những ai chưa biết; Hướng dẫn, giúp đỡ những ai đã lãnh nhận đức tin nhưng nay đang suy yếu hoặc đã bỏ đức tin; đem Tin Mừng thấm nhập vào các môi trường văn hóa…

Gia đình truyn giáo:

– Trung thành đến cùng với lời hôn ước đã thề nguyền ngày kết hôn.

– Hòa thuận yêu thương để ngày càng phát triển tình yêu.

– Tôn trọng và bảo tồn sự tôn ti trật tự trong gia đình. Mỗi người biết ý thức sống đúng vị trí, vai trò trách nhiệm của mình, đồng thời liên kết hòa hợp với mọi thành phần khác trong gia đình.

– Gia đình thánh thiện, có Chúa ở cùng, nhờ đó vượt được mọi khó khăn và khủng hoảng trong đời sống gia đình.

– Chu toàn mọi bổn phận và trách nhiệm đạo-đời. Tương lai của xã hội và Giáo hội ngang qua gia đình.

– Gia đình tìm cách kết thân bằng hữu với một gia đình lương.

Giáo x truyn giáo :

– Giáo xứ được đào tạo kỹ lưỡng về tinh thần truyền giáo, học tập về nội dung và cách thức truyền giáo. Đặc biệt, đào tạo một đội ngũ những người dấn thân làm việc truyền giáo có hiệu năng.

– Giáo xứ biết cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo từ cá nhân, gia đình đến các đoàn thể; đặc biết cầu nguyện bằng giờ chầu Thánh Thể. Sự cầu nguyện phải đi đôi với việc hy sinh cho việc truyền giáo, kể cả hy sinh thời giờ, của cải vật chất, và nhất là chứng tá đời sống, bởi vì ngày nay người ta không còn thích nghe thầy dạy, nhưng yêu chuộng gương sáng…

– Giáo xứ biết nêu cao gương sống đạo theo mẫu cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi được mô tả trong Cv 2,42.

– Giáo xứ thi hành bác ái, phục vụ và cởi mở đối với anh em lương dân.

– Giáo xứ thực hành phương pháp truyền giáo thiết thực của Tin Mừng: tiếp xúc, gặp gỡ, đối thoại. Đặc biệt yêu chuộng sự công bằng, hòa bình, chân lý, tự do, huynh đệ.

– Tổ chức học hỏi về các tôn giáo bạn và tạo điều kiện thuận lợi để giao lưu, đối thoại.

– Mọi thành phần dân Chúa trong giáo xứ ý thức sứ vụ truyền giáo không dành riêng cho một ai, hay một nhóm người ưu tuyển, nhưng là nhiệm vụ của mỗi Kitô hữu do đức tin và đức ái đòi buộc.

4. S mnh truyn giáo ca Kitô hu

Hai mươi thế kỷ mục kiến thành công và thất bại trong sứ vụ truyền giáo của Giáo hội. Nói chung, mọi cố gắng xâm nhập của Giáo hội vào những nơi có các tôn giáo lớn như Hồi giáo, Phật giáo, Ấn giáo đều khó khăn và khó thành công!

Sứ vụ truyền giáo cho thấy mặt tích cực lớn nhất là các vị thừa sai mọi thời đều nung nấu tâm hồn nhiệt thành quảng đại, sẵn sàng hy sinh tất cả vì Thiên Chúa và vì lợi ích các linh hồn.

Những phương pháp truyền giáo thật cần thiết, nhưng luôn cần sáng tạo, thích nghi, hội nhập cách khôn ngoan và tế nhị. Quan trọng hơn cả là ơn Chúa Thánh Thần, Đấng là linh hồn của mọi hoạt động truyền giáo.

Một khuyết điểm cụ thể là tính “duy giáo sĩ” trong việc truyền giáo và cơ cấu nặng nề của Giáo hội khó có thể mềm dẻo đáp ứng với mọi thay đổi theo hoàn cảnh. Vai trò người nữ ít được đề cao trong sứ vụ truyền giáo mãi đến thế kỷ XIX.

Bắt đầu thời trung cổ, Tòa thánh nắm độc quyền trong tổ chức truyền giáo, Giáo hội địa phương mất đi tính chủ động và tự phát. Kinh nghiệm thấy Giáo hội địa phương không tự túc thì cũng khó tồn tại.

Trong suốt hai mươi thế kỷ, sứ vụ truyền giáo đã diễn tiến giữa bao xung đột đối ngoại và mâu thuẫn đối nội. Ánh sáng và bóng tối vẫn chen nhau, và bóng tối có cơ thắng thế! Vị Tông đồ phải luôn sẵn sàng hy sinh và không chùn bước cho công việc “Nước Cha trị đến”. Thập giá và Truyền giáo luôn đi đôi với nhau. Đó vẫn là định luật của Tình yêu!

Ngày nay, con người đang sống trong một xã hội đa văn hóa, đa tôn giáo và tục hóa. Bên cạnh biết bao người chưa hoặc không sẵn sàng đón nhận Tin Mừng cứu độ, việc sống và thực hành đức tin nơi các Kitô hữu ngày càng tụt dốc. Giáo hội ý thức cao độ trách nhiệm của mình là nỗ lực rao báo cho mọi người, dù gặp thuận lợi hay bất thuận, Tin Mừng của Đức Kitô, Đấng cứu độ duy nhất và phổ quát, hầu nhờ tin mà được sự sống vĩnh cửu. Không những rao giảng Tin Mừng cho người chưa tin, Giáo hội còn ra sức tái truyền giáo cho những người lơi lỏng đức tin, hoặc đã bỏ đức tin. Đây là ơn gọi và trách nhiệm của mỗi Kitô hữu, nung đốt bởi lòng tin và thôi thúc bởi tình bác ái: tình yêu đối với Đức Kitô (2 Cr 5,14) và đức ái đối với tha nhân.

a. Tinh thn truyn giáo. Để chu toàn trách nhiệm trọng đại này, tiên vàn cần có tinh thần truyền giáo. Tinh thần là linh hồn và là động cơ của mọi hoạt động truyền giáo. Sự đòi hỏi đầu tiên của tinh thần này là trở lại với Chúa Kitô và quyết tâm từ bỏ tất cả để bước theo Ngài. Thông điệp “Sứ vụ Đấng Cứu thế” viết: “Chúng ta không thể mời người khác trở lại nếu chính chúng ta không trở lại hằng ngày” (RM 47). Chính việc trở lại liên lỉ là nền tảng cho sự nên thánh của người truyền giáo, như ánh sáng chiếu tỏa trong đêm tối, đáp lời mời gọi của Đức Giêsu: “Chúng con là ánh Sáng Thế gian”. Tinh thần truyền giáo biểu lộ trong việc khao khát các linh hồn (cf. Lời “Ta khát” Đức Giêsu thốt lên trên Thập giá), lấy việc mở rộng Nước Chúa làm điều cần thiết duy nhất cho cuộc sống và từ bỏ mọi sự vì mục đích ấy.

b. Thánh Thn hođng. Thứ đến, nhà truyền giáo phải là người của Thần Khí, hoạt động dưới sự thúc đẩy và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Việc truyền giáo tựu trung là tiếp tục trong thời gian và không gian mầu nhiệm Nhập thể của Đức Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa. Nhập thể là công trình của Thánh Thần. Chính Thánh Thần đã tác động trong suốt cuộc đời sứ vụ của Đức Giêsu, từ khi thụ thai trong lòng trinh mẫu, chịu phép Rửa, rao giảng, đi vào cuộc khổ nạn. Thánh Thần được ban xuống trên các Tông đồ ngày lễ Hiện xuống để biến đổi các ông, là Thần Chân lý đưa các ông vào tất cả sự thật, là Đấng Phù Trợ ban sức mạnh can cường để các ông đi rao giảng và làm chứng về Đức Kitô cho đến chết. Không những Thần Khí hoạt động nơi người truyền giáo, Ngài còn tác động người nghe và đón nhận.

c. Người ca Li. Nhà truyền giáo còn là người của Lời, vì truyền giáo không là gì khác ngoài truyền rao lời Chúa, mang Lời Chúa đến biến đổi người nghe và đem lại cho họ đức tin. Vì thế, nhà truyền giáo phải được nuôi dưỡng bằng chính lời Chúa do việc lắng nghe, suy niệm, và thực hành Lời Chúa trong đời sống của mình, sao cho Lời Chúa thẩm thấu vào chính bản thân, để mới có thể thông truyền cho người khác.

d. Say mê Đc Kitô. Việc truyền giáo cốt tại việc lấy Đức Kitô làm trung tâm đời mình, hết lòng say mê Ngài, bước theo Ngài và nên đồng hình đồng dạng với Ngài. Thánh Phaolô đã cho ta cái kinh nghiệm quý báu ấy khi ngài sống chết cho Đức Kitô.

e. Hip thông vi Hi thánhViệc gắn kết với Đức Kitô đòi hỏi nhà truyền giáo liên kết, hiệp thông với Giáo hội là thân mình của Đức Kitô. Vì thế, hãy gắn bó và yêu mến Giáo hội, vâng phục và cộng tác với Giáo hội. Yêu mến Chúa Kitô, gắn bó với Giáo hội, tức cũng yêu mến con người. Nhà truyền giáo phải có tâm hồn yêu mến con người, có tâm huyết phục vụ con người, nhất là những người nghèo, những người bị xã hội ruồng bỏ.

f. Làm chng v Tình yêu ca Thiên Chúa. Kitô hữu biết mình được Chúa yêu và sẵn sàng đáp trả bằng yêu thương và phục vụ. Đời sống Kitô hữu là một giới thiệu và làm chứng về tình yêu của Thiên Chúa. Chính khi quảng đại phục vụ tha nhân, Kitô hữu hiểu được tình yêu Chúa dành cho mình và Người đã yêu thương mình thế nào. (x. Sứ điệp của ĐGH Bênêđictô XVI, Khánh Nhật Truyền Giáo: ĐÁi là linh hn ca vic truyn giáo)

g. Cùng M ra khơi. Sau cùng, gắn bó với Đức Kitô tức cũng gắn bó với Đức Maria. Đức Maria có vai trò thật quan trọng trong lịch sử truyền giáo. Ngài hiện diện với các Tông đồ trong ngày Hiện xuống để giúp các ông đón nhận Thánh Thần và khai mạc kỷ nguyên truyền giáo trong lịch sử loài người. Đức Maria đã cộng tác với Con mình để đem ơn cứu độ cho nhân loại khi “Xin vâng” lời sứ thần truyền tin làm thiên mẫu hạ sinh Đức Giêsu bằng xương bằng thịt, khi hiệp thông vào sứ vụ rao giảng của Đức Giêsu, nhất là khi dưới chân thập giá hiệp thông vào sự đau khổ và cái chết của Con trên thập giá. Sự xin vâng của Ngài, sự kết hiệp mật thiết của Ngài đối với Chúa, lòng yêu mến tột độ đối với nhân loại, đời sống nhân đức tuyệt hảo… Tất cả là mẫu gương sống cho nhà truyền giáo để giúp giới thiệu Đức Kitô và sự cứu độ cho mọi người. Ngài là mẫu gương tuyệt hảo cho các nhà truyền giáo, là ngôi sao sáng của việc rao giảng Tin Mừng (Ecclesia in Asia, 50).

Lm. Giuse Hoàng Văn Khanh

Comments are closed.