Thánh Giuse với Dòng Đa Minh

0

Nói đến Dòng Đa Minh với Đức Mẹ thì chắc là nhiều người đã biết rồi: những bức tượng hoặc bức tranh về Đức Mẹ Mân Côi là một chứng tích. Còn với thánh Giuse, Dòng Đa Minh có liên hệ gì đặc biệt không?

Trước khi vào đề nên nhắc lại vài chi tiết lịch sử về lòng sùng kính thánh Giuse trong Giáo hội. Trong khi lịch phụng vụ đã tôn kính Đức Maria từ những thế kỷ đầu tiên, thánh Giuse vẫn sống âm thầm trong suốt thiên niên kỷ thứ nhất. Mãi đến thế kỷ XIII mới thấy bài lễ kính thánh Giuse tại vài đan viện Biển-đức, nhưng chỉ là những trường hợp lẻ tẻ. Nhờ các dòng hành khất (Tôi tớ Đức Mẹ, Phan-sinh, Cát-minh), lòng tôn sùng thánh Giuse mới được bành trướng vào cuối thế kỷ XIV, nhờ đó lễ thánh Giuse được đưa vào sách nguyện và sách lễ Rôma (ĐTC Sixtô IV OFM năm 1479), tuy vẫn còn giới hạn trong giáo phận Rôma, và hai thế kỷ sau mới được mở rộng ra toàn thể Hội thánh[1].

Xét về việc tôn kính thánh dưỡng phụ, thì Dòng Anh em Giảng thuyết đi chậm hơn các Dòng khác. Theo cha R. Gauthier[2], mãi đến đầu thế kỷ XVI mới thấy xuất hiện các bản văn phụng vụ kính thánh Giuse trong lịch Dòng Đa Minh (Sách Lễ năm 1504, sách nguyện năm 1507, lúc đầu còn được cử hành  ad libitum – tự do, và mãi đến tổng hội năm 1508 mới trở thành bắt buộc.

Tuy nhiên, sự đóng góp đặc biệt của Dòng Đa Minh là trong lãnh vực đặc trưng của mình: giảng thuyết và suy tư thần học.

I. THỜI TRUNG CỔ

Các nhà thần học đầu tiên của Dòng Đa-minh đã nói đến thánh Giuse khi chú giải những đoạn Tin mừng Luca, chẳng hạn như thánh Albertô Cả (+1280)[3].  Đặc biệt thánh Giuse được trưng bày như mẫu gương cho các linh mục và mục tử. Trước đây, có người gán cho thánh Albertô như là sọan giả của bài kinh nguyện về thánh Giuse (Officium) theo lời yêu cầu của nhiều anh em trong dòng[4]. Tuy nhiên, khoa phê bình lịch sử đã phủ nhận điều này.

Thánh Tôma Aquinô (+1274)  đề cập đến thánh Giuse trong nhiều tác phẩm[5]. Trong bộ Summa Theologica (Tổng luận thần học), hôn nhân giữa đức Maria và thánh Giuse được bàn ở trong phần thứ ba, khi nói đến những mầu nhiệm  cuộc đời Chúa Cứu thế (III, qq.28-29). Thánh Tôma  khẳng định ba chân lý căn bản về thánh Giuse :

1) Hôn nhân với đức Maria là một giá thú thật sự (chứ không phải giả tạo) : Sum. Theol. III, q.29, a.2; IV Sent., dist. 30, q.2, a.2.

2) Thánh Giuse đã giữ gìn đức trinh khiết trọn hảo suốt đời (Ad Galatas, c.1. lect.5; Super Mt. 12,46 ss; Super Io. c.2; Sum. Theol. III q.28, a.3, ad 5).

3) Đức Maria và thánh Giuse đã khấn giữ khiết tịnh : trước khi kết hôn, lời khấn có điều kiện (tùy theo ý Chúa), và trở thành tuyệt đối sau khi kết hôn (Sum. Theol. III, q.28, a.4).

Tiếp nhận đạo lý của các giáo phụ, thánh Tôma cắt nghĩa rằng “các anh em của Chúa Giêsu” phải hiểu là anh em họ chứ không phải là anh em cùng cha khác mẹ. Cách riêng thánh Tôma đưa ra những  lý lẽ giải thích vì sao đức trinh nữ Maria cần lấy thánh Giuse làm chồng:

1/ Những  lý do về phía Chúa Giêsu:

(i) để Người không bị thiên hạ khước từ vì lý do là con hoang (thánh Ambrôsiô);

(ii) để người ta có thể truy cứu gia phả của Người (thánh Ambrôsiô);

(iii) để hài nhi được che chở khỏi những cuộc tấn công của ma quỷ (thánh Inhaxiô Antiôkia);

(iv) để hài nhi có người chăm sóc dưỡng dục.

2/ Những lý do về phía đức Maria:

(i) tránh cho Người khỏi bị ném đá về tội ngoại tình (thánh Hiêrônimô) ;

(ii) để gìn giữ sự khiết trinh của Người (thánh Ambrôsiô);

(iii) để giúp đỡ Người (thánh Hiêrônimô).

3/ Những lý do về phía chúng ta:

(i) để có người làm chứng về chân lý đức Giêsu sinh bởi trinh nữ Maria (thánh Ambrôsiô); 

(ii) để xác nhận những lời quả quyết của đức Maria về sự trinh khiết của mình (thánh Ambrôsiô);

(iii) để những trinh nữ nào đã vi phạm lời thề không có lý do  biện minh cho lỗi của mình (thánh Ambrôsiô);

(iv) để trở nên biểu tượng cho Hội thánh tuy là trinh nữ nhưng đã đính hôn với Chúa Giêsu (thánh Augustinô);

(v) để trong Hội thánh những trinh nữ và những người kết bạn đều được kính trọng.

Những nguyên tắc vừa nói đã được  các nhà thần học và giảng thuyết khai triển thành những sách suy gẫm về vị dưỡng phụ của Chúa Cứu thế.

Hai nhà thần học khác của Dòng Đa Minh thời Trung cổ đã góp phần vào việc tìm hiểu thánh Giuse là thánh Vincentê Ferrrier (+1419) và thánh Antoninô (+1459)[6].

II. THỜI CẬN ĐẠI

Dù nói gì đi nữa tác giả đầu tiên đã viết một khảo luận thần học về thánh Giuse là cha Isiđôrô Isolani.

Chúng ta không biết chắc chắn về năm sinh và năm chết của cha Isiđôrô Isolani[7]. Chỉ biết rằng cha làm bề trên tu viện S. Maria delle Grazie tại Milanô (nơi có bức họa nổi tiếng Bữa Tiệc ly của Lêônarđô Vinci) vào năm 1528.

Trước đó, từ năm 1517, cũng tại Milanô, cha đã xuất bản tác phẩm thần học De imperio militantis Ecclesiae. Nhiều tác phẩm khác được phát hành tại Pavia vào những năm kế tiếp (chẳng hạn những khảo luận chống lại Luthêrô (Disputationes catholicae quinque, 1522), cho thấy cha đã được thuyên chuyển đây đó để dạy học. Cũng vào năm 1522 tại Pavia,  cha cho phát hành cuốn tổng luận thần học về thánh Giuse, tuy cha bắt đầu biên soạn quyển này từ năm 1514, tại Fontanellato, cạnh tu viện có nhà thờ dâng kính thánh Giuse. Có lẽ cha chỉ dừng lại tu viện Fontanellato chừng hai ba năm, bởi vì vào năm 1517 cha đã trở về Milanô rồi. Cha qua đời khoảng năm 1528.

Như đã thấy trên đây, những bài giảng, suy niệm hoặc khảo luận về thánh Giuse đã ra đời từ thời các giáo phụ. Tuy nhiên, cha Isolani là người đầu tiên biên soạn một quyển sách thần học trình bày mạch lạc về người dưỡng phụ của Chúa Giêsu, với tựa đề Summa de donis S. Joseph. Lúc xuất bản tại Bologna (nơi cha đang làm giám học magister studii) năm 1522, cha Isolani đã đề tặng tác phẩm lên đức giáo hòang Ađrianô VI.

Tác phẩm được chia thành bốn phần, (giống như bốn mùa trong năm). Mỗi phần được chia thành nhiều chương, mỗi chương là một đề tài được trình bày theo lối văn của Summa Theologica, nghĩa là: vấn nạn ; thân bài ; giải đáp.

(A) Phần thứ nhất gồm 17 chương, bàn về các hồng ân mà thánh Giuse đã lãnh nhận trước khi kết hôn với đức Maria.

Trước hết (ch.1-2) tác giả phân tích sáu nhân đức dựa theo danh tánh (danh là người ) I.O.S.E.P.H., đó là: iustitia (công chính), oboedientia (vâng lời), sapientia (khôn ngoan), experientia (kinh nghiệm), patientia (nhẫn nhục), humilitas (khiêm nhường)[8].  Dù sao, tác giả không quên ý nghĩa của danh từ  Iôsef  trong Cựu ước có nghĩa là “Gia-vê ban thêm”  (Iehôsef, augmentum, dựa theo sách Sáng thế 30,24).

Thêm vào đó là các  hồng ân : xứ sở (ch.3), dòng dõi (ch.4-8), sự thánh thiện ngay từ trong lòng mẹ (ch.9-10). Theo tác giả, sự thánh thiện được ban nhằm đến chức vụ sẽ đảm nhận trong tương lai. Nếu ta chấp nhận được ông Giêrêmia và ông Gioan Tẩy giả được thánh hóa ngay từ lòng mẹ bởi vì họ được tuyển chọn làm tiên tri cho Đấng Cứu thế sẽ đến, thì tại sao lại không thể nghĩ đến một đặc ân tương tự cho thánh Giuse là kẻ đã ẵm bế, che chở, nuôi dưỡng Chúa Kitô ?[9]

Hai chương 11-12 bàn đến hồng ân duyên dáng (pulchritudo : đẹp trai?). Không thể nào hình dung một người luôn sống bên cạnh đức Giêsu và Mẹ Maria mà dung mạo xấu xí, già khụ ! Người ta sẽ đàm tiếu chết ! Sau khi nói đến ơn đồng trinh (ch.13-14), ơn nghề thợ mộc (ch.15), tác giả kết thúc phần thứ nhất với hồng ân các nhân đức trong cuộc đời thánh Giuse : khôn ngoan (prudentia), công chính (iustitia), đạo đức (pietas), thanh khiết, đầy tình mến thương, thanh bần (ch.16-17).

(B) Phần thứ hai, gồm 15 chương, bàn đến những hồng ân mà thánh Giuse nhận được sau khi hết hôn với Đức Maria. Đứng đầu  là hồng ân được kết duyên với Đức Maria (ch.1-2), rồi đến tuổi tác (ch.3) và các đức tính do cuộc hôn nhân: bảo vệ Đức Maria và Hài nhi, dưỡng phụ đức Giêsu,  ơn công chính (ch.4-5), ơn được chứng kiến cuộc gặp gỡ của đức Maria với bà Elisabeth (ch.6), được thiên sứ truyền tin (ch.7-8), được đức Maria yêu quý (ch.9), được thờ lạy Chúa giáng sinh (ch.10), được đặt tên cho Hài nhi (ch.11), được thiên thần năng hiện đến (ch.12), được sống kề bên Chúa Cứu thế và thánh mẫu (ch.13), được tìm thấy Hài nhi trong đền thánh (ch.14) và sau cùng là ơn mến Chúa Giêsu hết lòng (ch.15).

Đây là phần súc tích nhất về thần học, khi tác giả phải bảo vệ hôn nhân đích thực của đức Maria với thánh Giuse đồng thời với đức trinh khiết của hai vị. Nên biết là khi nói về tuổi tác vào lúc kết hôn, tác giả cho rằng thánh Giuse không trẻ lắm nhưng cũng không già lắm. Người thuộc tuổi trung niên, chín chắn, để có thể cáng đáng chức vụ dưỡng phụ Chúa Cứu thế.

(C) Trong phần thứ ba (22 chương), tác giả dành ra 9 chương đầu để đối chiếu thánh Giuse với những  phúc lành (benedictiones) được Chúa ban cho các tổ phụ (Ađam, Noe, Giacop, Giuse, Balaam, Môsê).

Hơn các thánh tổ phụ của Cựu ước, thánh Giuse còn được lãnh nhận các hồng ân thời Tân ước : ơn được lãnh bí tích rửa tội (ch.10), ơn thanh tịnh (ch.11), bảy ơn Chúa Thánh Thần (ch.12), hồng ân bảy mối phúc thật (ch.13-16).

Sau cùng, tác giả  so sánh thánh Giuse với các thánh tông đồ, các ngôn sứ, thánh sử, mục tử (ch.17-22).

(D) Phần thứ bốn bàn về những ơn của thánh nhân khi chết và ơn được vinh hiển hồn xác trên trời. Tuy thú nhận là một vấn đề khó khăn, nhưng tác giả đã dành ra 10 chương để bàn về lúc từ trần (ch.1), về việc xuống ngục tổ tông (limbô, ch.2), về sự vinh quang cả hồn lẫn xác (ch.3), về ba triều thiên (tử đạo, đồng trinh, tiến sĩ, ch.4), và ơn các hoa trái (ch.5). Ba chương 6-8 bàn về lễ phụng vụ kính thánh Giuse. Chương 9 lược thuật tiểu sử thánh Giuse dựa theo bài đọc của phụng vụ Đông phương (dịch từ tiếng Do thái sang tiếng latinh năm 1340), nơi mà thánh Giuse được kính hằng năm vào ngày 20 tháng 7. Chương chót kể lại phép lạ một người có lòng sùng kính thánh Giuse được thánh nhân đón tiếp vào thiên đàng.

Kết luận là bài lễ phụng vụ (officium sancti Ioseph) do tác giả soạn và được đức Ađrianô VI châu phê. Nên biết là từ năm 1508, Dòng Đa Minh đã mừng kính thánh Giuse trong lịch phụng vụ nhưng các bản văn kinh nguyện lấy từ phần chung (Commune confessorum). Cha Isolani sọan thêm phần riêng.

Tất cả các sử gia đều nhìn nhận tác phẩm của cha Isolani như nền tảng cho sự phát triển thần học về thánh Giuse [10], một thứ thần học đúng nghĩa, dựa trên Kinh thánh, các giáo phụ, các tiến sĩ Giáo hội, các luận cứ (chứ không phải theo truyền kỳ hay cảm tình ướt át).

Anh hưởng của tác phẩm Summa de donis S. Joseph sau đậm trong Giáo hội. Điều này được chứng tỏ không những qua nhiều lần tái bản, mà nhất là qua những điều thỉnh nguyện mà tác giả bày tỏ về việc tôn vinh thánh Giuse đã lần lượt được các Giáo hoàng chấp thuận, với cao điểm là việc suy tôn thánh Giuse làm quan thầy Hội thánh năm 1870. Nên biết là cha Jean-Joseph Lataste O.P. (1832-1869, được phong chân phước ngày 3/6/2012), – vị sáng lập dòng các nữ tu Bethanie chuyên lo cho các thiếu nữ lạc đường-, đã tình nguyện hiến dâng mạng sống để xin Đức Giáo hoàng Pio IX tôn phong thánh Giuse làm quan thầy Hội thánh.

Để kết thúc, xin ghi nhận một tập tục được duy trì trong tỉnh dòng Đa Minh Việt Nam, đó là hằng ngày nhớ đến thánh Giuse qua tiền xướng “Đây là tôi tớ trung tín và khôn ngoan” (Ecce fidelis servus). Nguồn gốc của tập tục này bắt đầu từ Tây ban nha, và được tổng hội Avila (1895) phê chuẩn. Lúc đầu kinh này được đọc hay hát sau khi ăn bữa trưa, nhưng từ tổng hội Caleruega (1958) kinh này có thể đọc vào lúc khác tùy quyết định của mỗi tỉnh dòng[11].

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.


[1] Xc. Phan Tấn Thành, Sứ mạng của thánh Giuse trong cuộc đời Chúa Kit ô và Hội thánh, Rôma 2007,trang 70.

[2] R. Gauthier, Les origines du culte liturgique de saint Joseph chez les frères prêcheurs, in: Escritos de Vedat 12 (1982) 395-412.

[3] E.P. Dunne, Albert the Great?s Theology of St Joseph, in: Cahiers de Josephologie 7 (1959) 223-262; 8 (1960) 113-130.

[4] Joachim Joseph Berthier, trong bài tựa khi tái bản quyển Summa de Donis Sancti Ioseph ở Roma năm 1887, p.v-vii.

[5] Ngoài Summa Theologica (III, qq.28-29 và 35-37), thánh Giuse được đề cập ở In IV Sententiarum, d.30, Catena Aurea, Lectura super Evangelium S. Matthaei. Ai muốn nghiên cứu thêm vấn đề có thể tham khảo: J.J. Davis, A Thomistic Josephology, in: Cahiers de Joséphologie 9 (1961) 167-197; 10 (1962) 59-114.251-285; 11 (1963) 25-42.211-232; 12 (1964) 73-94.253-267; 13 (1965) 87-120.273-303; 14 (1966) 315-351.

[6] M. García Miralles, Doctrina josefina en S. Vicente Ferrer, in: San Giuseppe nei primi quindici secoli della Chiesa, Roma 1971, p.396-406. T.M. Sparks, St Antoninus of Florence on Saint Joseph, in: op.cit. p.429-455.

[7] L.A. Redigonda, La Summa de donis Sancti Joseph di Isidoro Isolani, in: Cahiers de Josephologie 25 (1977) 203-221. Xem thêm G.M. Bertrand, La Summa de donis Sancti Joseph d?Isidore de Isolanis, o.p., in: Cahiers de Joséphologie 8 (1960) 219-249.

[8] Virtutes vero signantur congruenter et quam ordinatissime in litteris nominis IOSEPH. Iustitia quidem in Davi, qui etiam prius ponitur, ut mysterium mysterio copuletur. Obedientia in Abraham, Sapientia in Salomone, Experientia exilii in Iechonia, Patientia in Zorobabel, Humilitas in ultimis patribus, qui infimae fuerunt conditionis  (I pars, cap.5).

[9] Vào thế kỷ XVII, đang khi các trường phái thần học còn tranh luận về đặc ân vô nhiễm nguyên tội của Đức Maria, thì cha Isolani đã mở một mặt trận mới, nghĩa là bênh vực luôn cả đặc ân vô nhiễm nguyên tội cho thánh Giuse nữa.

[10] Bonifacio Llamera O.P., Teologia de San José, BAC Madrid 1953. Tác phẩm của Isolani được in kèm với nguyên bản latinh và bản dịch Tây-ban-nha từ  trang 363 đến trang 652.

[11] T. M. Sparks, The Ecce fidelis and the Dominicans, in: Cahiers de Josephologie 36 (1988) 93-94.

 

Comments are closed.