Những cuộc trở về tâm giao

0

Trái tim là hình ảnh biểu trưng cho tình yêu. Tháng Thánh Tâm dành cho việc suy niệm tình yêu và lòng nhân hậu của Chúa. Toàn bộ Tin Mừng của Chúa được gọi là Tin Mừng Tình Yêu vì Thiên Chúa là Tình Yêu (1Ga 4,16).

Chính tình yêu Chúa đã lôi kéo những tâm hồn yếu đuối trở về tâm giao. Tin Mừng Gioan đã khẳng định: Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban chính Con Một của Người để nhờ Người Con này những ai tin sẽ được cứu độ (Ga 3,16).

I. THIẾU PHỤ SAMARI, NGƯỜI TỪ VŨNG LẦY TỘI LỖI TRỞ VỀ

1. Cơ duyên được gặp gỡ Chúa

Sau nửa ngày hành trình từ Giuđê về Galilê, Chúa Giêsu nghỉ mệt bên bờ giếng Giacóp. Vừa đói vừa khát giữa cái nắng ban trưa, trong tư thế ngồi chờ đợi… Phải chăng Người chờ đợi bữa cơm trưa mà các Tông Đồ sắp dọn ra hay đang chờ một ai đó…!

Chính nơi đây đã diễn ra cuộc gặp gỡ giữa Ngài và người phụ nữ Samari, vốn bị coi là ô nhơ. Chúa đã mở lời: “xin chị cho tôi chút nước uống”. Ngài mở đầu cuộc đối thoại bằng một lời nài xin. Ngài chẳng sợ thú nhận sự thiếu thốn của mình. “Cử chỉ xin nước uống” là một cuộc cách mạng, là bắc một nhịp cầu qua một vực sâu ngăn cách giữa hai dân tộc Samari và Do Thái vốn dĩ thù ghét và xa lánh nhau từ bốn thế kỉ. Chẳng ai hiểu nổi một bậc thầy như Đức Giêsu lại nói chuyện và xin nước một phụ nữ Samari. Đức Giêsu đã cúi mình phá bỏ những hàng rào để xây dựng một cuộc đối thoại đích thực và bình đẳng.

Trong khi đó, người phụ nữ nhìn Chúa bằng ánh mắt khinh miệt. Dưới mắt chị, đó chỉ là một gã Do Thái bẩn thỉu. Còn tệ hơn nữa, anh chàng Do Thái này nghèo mạt rệp, đang đói khát, mệt mỏi rã rời, chỉ chờ chực xin ăn, xin uống. Chị hợm mình, vì chị có tất cả. Chị có giếng nước của tổ tiên. Đối với ngưởi Sêmít, có nước là có tất cả. Ở giữa vùng sa mạc mênh mông, nơi nào có nước, nơi ấy có sự sống. Ai chiếm được nguồn nước, người ấy lập tức trở nên giàu có. Người phụ nữ có giếng nước, có cả bình múc nước. Chị còn có làng nước, có Đền thờ vững chắc xây dựng trên núi Garidim, trách nào chị chẳng hợm mình.

Nhưng Chúa Giêsu đã phá tan sự an thân giả tạo của chị. Người cho chị thấy giếng nước của chị chỉ là phù du vì giếng nước ấy không cho nước hằng sống. Người cho chị thấy hạnh phúc gia đình chị đang có chỉ là hư ảo, vì hạnh phúc ấy xây dựng trên một mối duyên hờ. Người cho chị thấy niềm tin của chị vào Đền Thờ chỉ là nguỵ tín, vì đền thờ chỉ là gạch đá vô hồn không có Chúa ngự bên trong.

Trong phút chốc, chị trở nên thật nghèo nàn. Trước kia chị tưởng mình là có tất cả. Nay chị thấy mình trắng tay. Trước kia chị tưởng mình giàu có. Nay chị nhận thức rõ mình thật nghèo nàn. Bóc đi tất cả những lớp vỏ phù du bọt bèo, chị thấy mình trơ trụi, khốn cùng. Nhưng từ đáy vực khốn cùng ấy, một niềm tin nhen nhúm, một mạch suối trào dâng.

Chị chợt tỉnh ngộ. Những thứ mà trước kia chị tưởng là thành luỹ che chở cuộc đời hoá ra chỉ là những tảng đá ngăn chặ nguồn suối. Tháo gỡ đá ra rồi mạch suối dạt dào trào tuôn.

Những thú mà trước kia chị tưởng là nơi nương tựa êm ấm, hoá ra chỉ là tổ kén giam kín đời sâu. Trút bỏ được lớp vỏ xù xì cũ kĩ, sâu nay hoá bướm đẹp lộng lẫy tung bay khắp chốn. Thì ra, của cải, dục vọng, tôn giáo vụ hình thức là những tấm màn che mắt, không cho chị nhận ra Đấng Cứu Thế.

Ta hãy trở lại phút đầu tiên khi Chúa Giêsu ngỏ lời xin nước, chị chỉ thấy một chàng Do Thái xấu xa đói rách: “ông là Do Thái mà lại xin nước tôi ư?”. Nhưng Lời Chúa như lưỡi gươm sắc bén phá tan mây mù che mắt chị. Nhát gươm thứ nhất vung lên, một mảnh vảy mắt rơi xuống. Chị nhìn ra người đối diện “cao cả hơn tổ phụ Giacóp”. Nhát gươm thứ hai vung lên, một mảnh vảy nữa rơi xuống, chị nhận ra Người là một “Vị Tiên tri”. Một nhát nữa vung lên, mảnh vảy cuối cùng rơi cuống. Chị nhận biết Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Và chị tin vào Người. Niềm tin trào dâng, hạnh phúc trào dâng. Chị quên cả múc nước, quên cả gầu kín nước, quên cả vò nước… chạy về làng báo tin vui.

2. Chiếc vò nước được bỏ lại

Bên bờ giếng có một khách bộ hành mỏi mệt dừng chân. Chân lí đã vọt lên từ những lời ông ta nói. Cũng bên bờ giếng đó, người phụ nữ nọ đã bỏ lại cái vò nước của mình bởi từ nay nó chẳng giúp gì cho chị đón nhận hồng ân Thiên Chúa ban. Cái vò nước bỏ quên đó sẽ mãi mãi nói với chúng ta về một người phụ nữ mà số phận từng bị giam hãm trong đủ thứ công việc hằng ngày, trong những quan hệ chẳng tới đâu với một lô “các tấm chồng”. Nay bỗng tìm thấy ý nghĩa cho đời mình. Qua cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu, qua những trao đổi với Người.

Như thế, chính qua những chuyện của đời thường như ăn, uống, ngủ nghĩ… với cố gắng quay về với Thiên Chúa mà con người nghe được tiếng nói của Thánh Thần. Nhưng ở đây vào lúc này, người lại đến như một ân ban qua những bất trắc khôn lường của lời nói, qua thái độ chân thành của những bên đối thoại, qua những khoảnh khắc thinh lặng để chân lý lên tiếng nói.

II. KHI CON TIM ĐÃ VUI TRỞ LẠI

1. Giakêu, ông là ai?

Giakêu là một người thu thuế giàu có. Tuy ông không thiếu gì nhưng lòng vẫn khắc khoải không yên. Ông vẫn tìm kiếm một Ai đó có thể nâng ông dậy. Hẳn ông đã nghe nói về Đức Giêsu. Ngài chẳng sợ làm bạn với những người bị khinh khi… “phường đĩ điếm, phường thu thuế”.

Giakêu mong có ngày thấy mặt Đức Giêsu. Dịp may đã tới, ông đi với đám đông theo sau Ngài, nhưng vẫn không sao thấy được Ngài, vì dân chúng thì đông còn ông lại thấp bé. Giakêu không thất vọng, lòng khát mong đích thực chẳng bao giờ chịu bó tay. Ông chạy trước đám đông và leo lên một cây sung. Thấy cảnh ông Giakêu trèo lên cây sung, người ta liền reo lên “Ô kìa một tấm thân phì lũ đang bò lên thân cây sung, vừa lúng túng, vùa lật đật”.

Họ đã nhìn ông với ánh mắt khinh bỉ nhưng Đức Giêsu lại ngước nhìn ông và gọi tên ông. Ngài thấy ông trước khi ông thấy Ngài. Anh mắt Ngài làm ông luống cuống, nhưng lời cùa Ngài lại làm ông sung sướng, ngỡ ngàng: hôm nay tôi phải ở lại nhà ông. Niềm hạnh phúc bất ngờ làm ông ngây ngất. Đường từ gốc sung về nhà ông bao xa, ta không rõ, nhưng chắc chắn là con  đường đầy ắp niềm vui. Giakêu thấy mình không còn mặc cảm thấp kém. Ông như lấy lại được danh dự trước đám đông, bởi lẽ Đức Giêsu sắp đến thăm nhà ông bất chấp những lời xầm xì phản đối.

Ông chỉ ao ước thấy mặt Ngài, còn Ngài lại muốn tỏ cõi thâm sâu của lòng mình: dịu dàng, tha thứ, yêu thương, tế nhị. Hoán cải là kết quả của một cảm nhận về tình yêu. Ánh mắt, lời nói, thái độ của Đức Giêsu đã thổi bùng lên ngọn lửa leo lét nơi Giakêu và khiến lòng ông tan chảy. Bỗng chốc Giakêu thấy mình được tự do thanh thoát. Những gì xưa nay trói buộc ông, làm ông say mê, bây giờ trở nên vô vị. Một cách hồn nhiên ông dâng nửa gia sản cho người nghèo, và xin đền gấp bốn những gì đã lường gạt.

2. Ánh mắt yêu thương

Có những người bé nhỏ, khốn khổ, nghèo hèn, người đời chẳng ai để ý đến họ nhưng Thiên Chúa lại quan tâm. Từ thẳm sâu, ngỏ ngách của cuộc đời Ngài đã thấy, hiểu và cảm thông cho thân phận khốn cùng của họ.

Đọc câu truyện ông Giakêu ta ngỡ ngàng trước ánh mắt của Chúa Giêsu khi Ngài nhìn lên ông Giakêu trên cây sung. Anh mắt ấy có sức mạnh kì lạ. Ánh mắt ấy chất chứa bao tâm tình. Chỉ trong ánh mắt ấy, cuộc đời Giakêu đã hoàn toàn biến đổi. Đức Giêsu rất vui vì ông đã có lòng hoán cải. Chẳng bù lại cho trường hợp của chàng thanh niên giàu có trong Tin Mừng Maccô. “Đức Giê-su đưa mắt nhìn anh ta và đem lòng yêu mến. Người bảo anh ta: “Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.” Nghe lời đó, anh ta sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.” (Mc 10,21-22)

a. Ánh mắt quan tâm

Chúa Giêsu vào thành Giêrikhô một thành phố rộng lớn và động đúc, một đám rất đông đi theo Ngài. Trong khi đó ông Giakêu thật kệch cỡm (điếc không sợ súng), khi ông dám liều leo lên cây sung dù những người xung quanh nhìn ông với con mắt khinh dể.

Giữa muôn người Chúa chỉ tìm Giakêu, lại còn biết rõ tên ông. Điều đó chứng tỏ Chúa quan tâm tới ông, một người thuộc phường thu thuế đang bị khinh bỉ. Giữa cái thế giới ồn ào và miệt thị những con người tội lỗi, chắc chắn Giakêu cảm thấy ấm lòng vì ánh mắt yêu thương của Chúa.

b. Ánh mắt yêu thương

Tất cả sẽ không thể giải thích được nếu không có tình yêu. Chúa quan tâm tới Giakêu vì Chúa yêu thương ông. Như người mục tử tốt lành đi tìm con chiên lạc. Chúa tha thứ vì Chúa yêu thương ông như người cha sẵn sàng chờ đón đứa con hoang trở về. Chúa tin tưởng vì Chúa yêu thương ông như người mẹ không khi nào nói rằng con mình xấu, dù nó phạm tội trăm lần.

Đón nhận lòng bao dung tha thứ của Chúa, trái tim Giakêu bừng lên ngọn lửa yêu thương. Đời ông từ đây được đốt cháy trong yêu thương. Nên ông đã đáp lại tình yêu thương của Chúa. Yêu thương nên đền bù thiệt hại. Yêu thương nên chia sẻ chân thành.

III. NHƯ NGƯỜI CHA MONG MỎI ĐỢI CHỜ… (Lc 15,11-32)

1. Phát xuất từ cõi lòng nhân hậu của Chúa

Trong tháng Sáu được gọi là tháng của lòng yêu thương, là thời gian giúp chúng ta đào sâu về tình thương của Chúa. Qua các sách Tin Mừng, chúng ta biết rằng trái tim Chúa rất nhạy cảm và đầy trắc ẩn trước cảnh nghèo khó, yếu đuối tội lỗi.

Để diễn tả tính chất dễ động lòng trắc ẩn của trái tim Chúa, các Tin Mừng đã dùng động từ Spagchnizesthai, theo mặt chữ có nghĩa là “bị động chạm tới tận thâm tâm”. Động từ này hết sức quan trọng trong khoa thần học về nhập thể. Trong từ vựng Thánh Kinh, thâm tâm, splagchna, “diễn tả cái sâu thẩm của cõi lòng” của con người, cái mà ngày nay chúng ta gọi là con tim, cõi lòng. Như khi ông Giuse tổ phụ gặp lại các anh em đến Ai Cập, “lòng ông xúc động và nước mắt trào ra. Ông đã vào phòng riêng và khóc” (St 43,30)

2. Thiên Chúa của lòng nhân hậu

Thánh Luca đã mô tả lòng nhân hậu của Chúa qua hình ảnh của người cha già mòn mỏi đợi chờ đứa con đi hoang trở về. (x.Lc 15,11-32)

Maccô và Matthêu cùng ghi nhận rằng Chúa Giêsu động lòng thương, khi Người nhìn thấy đám quần chúng đông đảo như chiên không có người chăn. Macô thêm rằng, Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều. Phép lạ hoá bánh ra nhiều lần thứ nhất đã vọt lên như nguồn suối từ chính lòng thương này. Đứng trước đám tang con trai bà goá thánh Nain, Chúa cũng xúc động. Ngài nói, thôi đừng khóc nữa, trái tim Người đã tan vỡ và lòng quặn thắt “Người động lòng thương” (Lc 7,13). Trước mồ Lazarô Ngài cũng đã “thổn thức trong lòng và xao xuyến”, Người khóc (Ga 11,35-38).

3. Còn từ nào diễn tả được tình thương của Thiên Chúa dành cho con người?

Thánh Phaolô viết trong thư gửi các tín hữu Philip rằng ngài yêu thương họ “trong lòng Đức Giêsu Kitô”, tức là trong trái tim Người (Pl 1,8). Trong thư gửi Philêmon, ngài đã can thiệp cho Onésime, một người nô lệ, người mà ngài coi “như lòng dạ của ngài”, tức là như trái tim ngài (Philêmon 12).

Đôi khi chữ lòng dạ được liên kết với ý tưởng cảm thương. Người ta nói về “lòng thương” (Cl 3,12), hoặc “lòng nhân hậu của Thiên Chúa” (Lc 1,78). Khi Phúc âm Mt 9,36 viết rằng Chúa Giêsu esplagchnisthes, thì chúng ta phải hiểu rằng trái tim Người thổn thức, dồn dập, xốn xang vì chạnh thương, khi Người nhìn thấy giữa đám đông trước mặt Người xuất hiện như một người cùi đến van xin Người: “nếu Thầy muốn, Thầy có thể làm cho tôi được sạch!”. Luca nhận xét rằng người xấu số mình đầy phong hủi. Chúa Giêsu đưa tay ra chạm đến người phong và chữa lành anh ta. Matthêu và Luca tường thuật phép lạ y hệt như Maco nhưng lại xoá bỏ mất mói xúc động “thấu ruột gan” của Chúa Giêsu (So sánh Mc 1,40-41 với Mt 8,1-3 và Lc 5,12-13).

Tạm kết: Xin Chúa đổi mới trái tim con

Như ngôn sứ Êdêkien đã viết: “Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành. Các ngươi sẽ cư ngụ trong đất Ta đã ban cho tổ tiên các ngươi. Các ngươi sẽ là dân của Ta. Còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi.” (Ed 36,26-28)

Lạy Chúa,
Xin cho con trái tim của Chúa.
Xin cho con đừng khép lại trên chính mình,
Nhưng xin cho trái tim con quãng đại như Chúa
Vươn lên cao, vượt mọi tình cảm tầm thường
Để mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ.
Xin cho con vượt qua mọi oán hờn nhỏ nhen,
Mọi trả thù ti tiện.
Xin cho trái tim con biết nhạy cảm,
Mở lòng ra với những anh chị em của con,
Những anh chị em khốn khổ nghèo hèn,
Những anh chị em, yếu đuối tội lỗi.
Xin cho trái tim con đủ lớn,
Để yêu người con không ưa.
Xin cho vòng tay con luôn rộng mở,
Để có thể ôm cả những người thù ghét con.

(Trích từ Rabbouni – 120 Lời nguyện của bạn trẻ Việt Nam)

Lm. Đa Minh Đinh Viết Tiên

Comments are closed.