Khơi gợi yêu thương

0

(Cảm nhận từ chuyến đi thực tập Tông đồ đầu đời tại Bảo Lộc)

Nhắc đến vùng đất Bảo Lộc, thường người ta nghĩ ngay đến đặc sản trà B’Lao vang tiếng lâu đời. Trước đây, khi nhấp từng ngụm trà thơm, con chẳng bao giờ có suy nghĩ gì về nguồn gốc của nó, chỉ cảm thấy thích thú khi tận hưởng vị ngọt pha chút đắng của trà mà thôi. Khi con được Mẹ Hội Dòng tạo cơ hội cho con lên vùng đất cao nguyên này để rèn luyện và thực tập sứ vụ tông đồ thì con mới cảm nghiệm được bao gian nan của người trồng chè.

Lần đầu tiên khi nhìn thấy những ngọn chè xanh mơn mởn dưới ánh nắng ban mai, một cảm giác vui thích bừng lên trong con. Những búp chè non cao và mập mạp, đầy sức sống đang vươn cao chờ bàn tay người hái, để rồi qua nhiều giai đoạn vất vả, chúng sẽ thành những vốc trà thơm ngát. Nhưng để có những luống chè xanh ngắt ấy quả là không phải dễ dàng. Từ việc mua cây giống về ươm, chăm sóc, xịt thuốc, bón phân, làm cỏ cho đến việc hái thật cẩn thận để không hư mặt chè. Tất cả đều ướt đẫm mồ hôi của nhà nông, chưa kể đến những lắng lo khi trời nắng gắt lâu ngày, những đợt sâu rệp ăn trụi lá hay khi chè sụt giá…Trán người nông dân lại hằn lên trên những nếp nhăn.

Chỉ một thời gian ngắn làm quen với vườn chè mà con đã cảm nhận được rất nhiều điều. Trước hết, con thấy mình thương những người làm nông hơn. Khi kéo dây tưới chè dưới trời nắng gắt hay hái chè trong trời mưa lâm râm, đôi khi con thấy thật vất vả, những lúc ấy, con nghĩ đến những người làm nông quanh năm suốt tháng phải chịu dầm mưa dãi nắng hơn mình gấp trăm lần, một chút mỏi mệt của mình chẳng thấm vào đâu. Qua đó, con lại thấy thương cha mẹ mình hơn, bởi chính cha mẹ của con cũng là những người nông dân quanh năm lam lũ một nắng hai sương trên vùng đất đỏ bazan của Buôn Mê Thuột. Tuy cha mẹ con không trồng chè nhưng cũng từng vất vả lao đao nhiều vì cây cà phê. Bản thân con, tuy là con nhà nông chính tông nhưng từ bé chẳng phải làm gì ngoài việc cắp sách đến trường. Mặc dù thương cha mẹ nhưng thật sự chưa cảm sâu về những nỗi gian lao vất vả của nghề nông. Đến bây giờ, khi chính tay con cầm cuốc ra vườn chè hay cà phê làm cỏ, kéo dây tưới chè, đu trên cây cà phê cao lòng khòng để hái cho bằng hết từng hạt cà phê… con mới thật sự cảm thấy trân quý giá trị của lao động và thương tất cả những người lao động ngày ngày “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”. Con thấy con thụ ơn thật nhiều. Con được sống đầy đủ và hạnh phúc như bây giờ là nhờ biết bao giọt mồ hôi nước mắt của bao người. Thế mà thái độ sống của con chưa xứng đáng với những ơn nặng tình sâu ấy, thậm chí đôi lúc còn tỏ ra lãnh cảm, vô ơn nữa. Con tự hứa với bản thân là phải cố gắng sống làm sao để không phải hổ thẹn khi nghĩ về những người yêu thương mình như thế.   

Điều thứ hai con rút ra qua những ngày tháng “thử việc”, đó là khi biết thánh hóa những công việc mình làm thì sức nặng của công việc được Chúa gánh hết. Ngày đầu tiên đi làm ở Suối Mơ, khi dắt xe trở về nhà sau một ngày lao động, con tưởng như không thể đi nổi về nhà. Quãng đường dài và nhiều dốc khiến cho con cảm thấy bước chân mình như bị ai kéo trì xuống đất, hơi thở như phì ra cả hai tai. Con đã chuẩn bị tâm lý sẵn sàng trước khi lên Bảo Lộc  rồi, thế mà khi đi làm, con vẫn cảm thấy dường như quá sức với mình. Nhưng rồi con thầm thĩ với Chúa: “Chúa ơi, con đường thập giá Chúa đã đi qua một cách anh hùng, thì con đường này xin Chúa đi với con”. Từ đó, con đường dài không còn dài và những con dốc cũng trở nên thân thuộc. Những khi con mỏi mệt, con đều cầu xin Chúa giúp con biết thông phần với những khổ đau của Chúa, những lúc ấy con cảm thấy như mình được ủi an và được xoa dịu rất nhiều.

Bên cạnh những bài học nho nhỏ rút ra từ việc “trồng cây”, con còn khám phá ra nhiều điều từ công tác dạy học. Đến bây giờ con mới thấu hiểu thao thức về việc “trồng người” mà quý Dì vẫn hay chia sẻ. Khi đảm nhận một lớp học kèm tại Tu xá và một lớp tình thương ở Suối Mơ, con nghĩ rằng có lẽ mọi việc sẽ đơn giản thôi, nhưng khi tiếp xúc và dạy dỗ các em, con thấy rằng mọi thứ không giản đơn như mình nghĩ. Điều khiến con bức xúc nhất là chuyện các em được đúc trong khuôn “đọc- chép” và cái gì cũng theo mẫu, không cần tìm tòi, không cần sáng tạo, chỉ cần đúng y như mẫu là được. Đi ôn thi tốt nghiệp tiểu học, cô giáo ôn bằng cách cho rút thăm và đọc thuộc các bài văn mẫu ! Chính vì thế, các em hình thành một thói quen: photocopy, tệ hơn nữa là mua bút “ảo ảnh” để dễ dàng chép tài liệu khi làm bài kiểm tra. Một thế hệ trẻ- chủ nhân tương lai của đất nước lại là những “rô-bốt”, được thầy cô nhấn nút như thế sao? Bên cạnh đó, con còn cảm thấy lo ngại về cung cách ứng xử và lễ giáo của các em. Gia đình nào chú ý đến việc dạy dỗ con cái thì các em còn hưởng nhờ đôi chút truyền thống lễ giáo của người Việt Nam, còn những em mà ba mẹ đi làm khi mặt trời chưa mọc và trở về sau khi mặt trời đã lặn từ lâu thì thật sự rất đáng lo. Tuổi các em nhỏ mà chương trình học lại quá nặng, thế nên việc học giáo lý là chuyện không quan trọng. Ngoại trừ những em chuyên chăm và có nề nếp từ xưa đến giờ, số còn lại thì chuyện đi học giáo lý là một sự miễn cưỡng để lãnh các Bí Tích mà thôi. Cha mẹ lo làm việc tối ngày, mà các em lại không muốn đến nhà thờ, vậy thì ai sẽ dạy dỗ các em thành những Kitô hữu tốt?

Tư những thao thức, trăn trở, lời cầu nguyện của con không còn cao vời và sáo rỗng nữa. Chất liệu cầu nguyện thực tế và gần con lắm: là gia đình ruột thịt thân yêu, là quý Dì, là quý chị em, là các em học trò, những người dân tộc, là chính bản thân con… vẫn còn đó những thao thức, những âu lo chưa có lời giải đáp, nhưng con tin những bàn tay nối dài của Chúa vẫn đang ngày đêm miệt mài trồng cây, trồng người. Ước mong sao con cũng sẽ là một ngọn nến nhỏ, hòa chan ánh sáng của mình với muôn ngàn ngọn nến khác của Chúa làm cho màn đêm bớt tối tăm, khơi gợi tình yêu của Chúa cho những người cần đến con.

Maria Mai Hà
(Tiền Tập Sinh)

Comments are closed.