Những môn đệ tiên khởi của Thánh Đa Minh – Chân phước Nicôla Puglia Giovenazzo

0

CHÂN PHƯỚC NICÔLA PUGLIA GIOVENAZZO 

Theo thông tục thời Trung cổ, cha Puglia thường được gọi là Nicôla Giovenazzo dựa theo nguyên quán của người. Từ đầu, tất cả tác giả Dòng Đa Minh cùng với một số tác giả người Ý đã gán cho người danh hiệu “chân phước”. Người sinh vào năm 1197 tại thành phố Giovenazzo, tỉnh Bari, thuộc vương quốc cổ kính Naples. Thân phụ là ông Blase (Biago hay Biasio) Puglia, một Kitô hữu quý tộc và sùng đạo. Ngay từ những năm đầu đời, người được cha mẹ tạo mọi điều kiện thuận lợi trong việc học hành, cũng như hướng dẫn trong đời sống đạo đức. Và họ rất hạnh phúc khi nhìn thấy con trai mình có thiên hướng về đời sống đạo hạnh.32

Quả thực, từ thời thơ ấu, cậu hầu như chẳng có dấu hiệu gì rõ ràng rằng tương lai cậu sẽ làm gì. Cậu có khuynh hướng sống hãm mình và khổ chế đến nỗi cha mẹ và thầy dạy cần phải kìm hãm hơn là thúc đẩy cậu sống Kitô giáo đạo hạnh. Vì là một sinh viên cần mẫn, trải qua thời gian dài, cậu lớn lên trong sự khôn ngoan và hiểu biết. Trong khi nắm vững kiến thức khoa bảng, cậu vẫn kiên trì thực hành lòng mộ đạo.

Do đó, khi biết được tiếng Chúa, chàng trai trẻ Puglia sẵn sàng đáp trả. Cậu biết được ơn Chúa kêu gọi qua cách này. Khi 20 tuổi, cậu nghe một bài giảng của thánh Đa Minh. Lời quyền năng phát xuất từ miệng lưỡi Đấng sáng lập Dòng Anh Em Giảng Thuyết, đã gây ấn tượng mạnh mẽ trên tâm hồn ngoan hiền của Nicôla, đến nỗi ngay tức khắc cậu nhận biết ơn gọi của mình là sống trong Dòng Anh Em Giảng Thuyết. Nhờ vào sự thúc đẩy của ân sủng, ngay sau khi nhà hùng biện bước xuống bục giảng, người con đạo hạnh của ông Blage Puglia liền đến quỳ dưới chân cha Đa Minh; với tấm lòng khiêm nhường ước ao tha thiết, cầu nài xin cha đón nhận vào Hội dòng mới này.

Cha Malvenda kể rằng thánh Đa Minh đã trao tu phục cho người thanh niên trẻ này, và từ đó cha gởi anh đến tu viện vừa mới thiết lập ở Canosa, thuộc tỉnh Bari, nơi mà sau này bị một trận động đất phá hủy. Vì luôn cảm tạ ơn gọi của mình, nên trong thời gian ẩn dật này, Nicôla chỉ cố gắng trung thành sống đời sống mới. Anh ngày càng tiến bước trên con đường trọn hảo và cố gắng hết mình đạt tới đời sống thánh thiện. Thiên Chúa cũng nhanh chóng cho anh biết rằng Người rất thích tâm hồn trong trắng của anh. Tuy nhiên, chúng tôi không muốn đưa ra những điều lạ thường mà những người viết tiểu sử và sử gia đã viết về Nicôla. Làm như vậy sẽ khiến cho bản phác thảo của chúng tôi chỉ thêm dài dòng.

Theo quan điểm của chúng tôi, chỉ cần nói rằng, sự kiện định, nỗ lực không ngừng vươn tới sự tròn hảo mỗi ngày của Nicôla là một trong những nhân đức nổi bật của người. Chắc chắn là chẳng có điều gì trong cuộc đời của người soi sáng cho chúng ta biết hơn được nữa. Là một nhà giảng thuyết, lòng trung thành của Nicôla đối với ân sủng và ơn gọi đã không đi ngược lại với niềm hy vọng của người. Ai cũng yêu thương người vì lòng trong trắng và ngay thẳng của người. Những đức tính đó làm cho thánh Đa Minh yêu mến người đến nỗi cha thánh thường xem người như là bạn đồng hành trong những chuyến hành trình để hướng dẫn người vào đời sống tông đồ.

Cha Puglia đã học hỏi rất nhiều từ gương lành và sự hướng dẫn của cha thánh Đa Minh. Sau khi Đấng sáng lập qua đời, người tiếp tục công việc tông đồ đó. Điều này làm cho người nổi nang đến nỗi mọi nơi đều cần đến người. Vào năm 1223, các bề trên gởi người đến giảng thuyết ở Giovenazzo, là quê hương mình. Cũng tại nơi đó, người đã thực hiện nhiều cuộc hoán cải, nhưng các cuộc hoán cải là kết quả của lòng nhiệt thành, sự thánh thiện và những phép lạ hơn là tài hùng biện. Có lẽ sự thành công của người lớn hơn nữa là nhờ những bài giảng mùa chay vào năm 1224 tại nhà thờ chính tòa Trani. Tại đây, Đức Tổng Giam mục rất hài lòng về con người thánh thiện này, đến nỗi cả Đức Giảm mục hợp với dân chúng, không những thúc giục quý cha của Dòng thiết lập cơ sở tại đô thị này mà còn xây tặng cho Dòng một Nhà thờ và một Tu viện.

Vị chân phước của chúng ta đã viết thư gởi cho các Bề trên của mình về sự dâng tặng hào phóng này. Ngay sau khi sự việc này được chấp thuận, cư dân Trani bắt đầu tiến hành việc xây cất. Hầu như họ rất hào phóng trong việc dâng cúng, thậm chí còn ganh đua với người khác để xem coi ai có thể đóng góp nhiều nhất. Tu viện và nhà nguyện mới này được đặt danh hiệu Thánh Giá, người ta nói rằng việc đặt tên hoặc địa điểm được xác định nhờ một phép lạ. Tu viện này đã sớm trở thành Tập viện. Trong phòng chung, đã từ lâu có treo một bức họa chân dung tuyệt đẹp của cha Puglia, dường như nó vẫn còn ở đó với lời tựa: “Chân phước Nicôla, Giovenazo, đấng sáng lập Tu viện Thánh Giá ở Trani” (Beatus Nicolaus de Juvenatio hujus Conventus Sanctae Crucis de Trano Fundator).

Tuy còn rất trẻ, nhưng chân phước Nicôla đã được anh em chọn làm Giám tỉnh Tỉnh dòng Rôma. Dù còn ít tuổi và thiếu kinh nghiệm, nhưng người đảm trách chức vụ này với sự khôn ngoan đáng khâm phục. Quả thực, cách cư xử không khéo của người cùng với sự phán đoán sắc sảo đã tạo nên niềm vui mến vâng phục khi người truyền bất cứ mệnh lệnh nào. Thiên Chúa cũng chúc lành cho các khóa làm Giám tỉnh qua việc Người gởi tới cho Tỉnh dòng này nhiều thành viên. Những người anh em này đã kín múc tinh thần học hỏi, hiếu kính, và tuân phục của người. Điều này đã làm cho Tỉnh dòng Rôma là một kiểu mẫu nền tảng cho cả Dòng. Các vị này đã thiết lập nhiều Tu viện trong các khu đô thị, nhiều cư dân ở đó háo hức lắng nghe lời giảng và bắt chước gương lành của các Anh Em Dòng Giảng Thuyết. Các cư dân này không ngần ngại chia sẻ thời gian và tiền bạc để xây dựng các Tu viện và nhà nguyện cho các vị giảng thuyết này.

Nhà thờ Dòng Đa Minh, mà cư dân Perugia đã xây dựng vào năm 1233 khi cha Nicôla còn làm việc ở đó, có một lịch sử quá hấp dẫn không thể bỏ qua được. Tại đó, vào năm 1235, hai năm sau khi xây cất, Đức Giáo hoàng Gregory IX đã phong hiển thánh cho thánh nữ Elizabeth, công chúa của vua Andrew II, nước Hunggari. Cũng nơi đó vào năm 1253, như chúng ta đã biết, Đức Giáo hoàng Innocent IV đã cử hành nghi lễ phong thánh cho cha Phêrô Vênôna, thường được gọi là Phêrô Tử Đạo. Đức Giáo hoàng Clement IV rất mộ mến các cha Đa Minh, vì thế ngài đã cung hiến nhà thờ kính thánh Đa Minh vào năm 1265.

Tại đây, chân phước Biển Đức XI, O.P. đã được mai táng khi người qua đời vào năm 1204. Nơi đây vẫn còn hương thơm tưởng nhớ người.

Vào chính năm xây cất đền thờ, cha Nicôla, được niềm an ủi vì được tham dự cuộc di dời hài cốt của cha Đa Minh Guzman, là người bạn của mình, một ân nhân quý báu. Cha Nicôla là chứng nhân về nhiều phép lạ mà Thiên Chúa đã làm qua sự chuyển cầu của cha thánh. Với sự chấp thuận của Đức Giáo hoàng, cha Nicôla đã giảng thuyết khắp nơi để khơi gợi lòng mộ đạo của các tín hữu. Người dùng họ để bài bác những người Do thái và dị giáo, nhiều người trong họ đã được người đưa về với Giáo hội. Nhiều sử gia kể cho chúng ta biết rằng người đã mang lại nhiều cuộc hoán cải qua lời cầu nguyện và những bài giảng. Xem ra người thu được rất nhiều thành quả lớn lao ở Bari, Apulia và nhiều tỉnh khác ở miền nam nước Ý.

Trong vòng 40 năm hoặc hơn nữa, cha Nicôla hầu như làm việc gắng sức không ngơi nghỉ vì lợi ích của đời sống đạo và ơn cứu độ các linh hồn. Sau cùng, khi tin rằng thời gian cuối đời đã gần kề, người quyết định dùng những ngày còn lại cho việc cầu nguyện và kết hiệp mật thiết không ngừng với Thiên Chúa. Người đã chọn Tu viện ở Perugiae làm nơi tịnh dưỡng, và đã qua đời tại đó vào ngày 11/02/1265. Người ta nói rằng người đã biết trước ngày an nghỉ của mình. Suốt cuộc đời, người được mọi người tôn kính như một vị thánh. Hiện nay, các tín hữu bắt đầu kêu xin lời chuyển cầu của người trước ngai tòa Thiên Chúa như là người được Thiên Chúa đặc biệt yêu mến. Trong Tu viện ở Perugia còn có bức chân dung của người với lời tựa như sau: “Chân phước, Nicôla Giovenazzo, người môn đệ của cha thánh Đaminh, đấng sáng lập Tu viện này” (Beatus Nicholas de Juvenatio, Discipulus Santi Dominici, hutus Coenobii Fundator). Nhiều phép lạ được quy gán cho người.

Lòng tôn kính mà dân chúng hướng về người tôi trung của Chúa Kitô vẫn tiếp tục kéo dài hơn năm thế kỷ. Cuối cùng, sau khi đã điều tra kỹ lưỡng về những việc làm trong cuộc đời của cha Nicôla Puglia và lòng sùng kính của dân chúng dành cho người, Đức Giáo hoàng Lêô XII lên ngôi Giáo hoàng vào 1832, đã cho phép các Anh Em Dòng Giảng Thuyết ở khắp nơi trên thế giới đọc kinh nguyện và cử hành thánh lễ kính người. Sự kiện này gần như tuyên bố người là bậc chân phước. Ngày 14/02 hàng năm là ngày lễ dành để kính nhớ người.

Trích từ Victor F. O’ Daniel, Những Môn Đệ Tiên Khởi của Thánh Đa Minh Tập I)  Học viện Đa Minh 2011. Trang 121 – 125

_____________

1. Alberti, Leander, O.P., De Viribus Ordinis Praedicatortum, folio 225; De Castillo, Ferdinand, O.P., Historia General de Santo Domingo Y de Su Orden, Passim; Humbert of Romans, Cronica Ordinis Praedicatorum; Malvenda, Thomas, O.P., Annales Ordinis Praedicatorium, P. 517 ff; Marchese, Thomas, O.P., Sagro Diario Domenicano, I, 108 ff; Razzi, Seraphin, O.P.

 

Comments are closed.