Những môn đệ tiên khởi của Thánh Đa Minh: Thánh Phêrô Vêrôna, Tử đạo

0

THÁNH PHÊRÔ VÊRÔNA – TỬ ĐẠO  

Người đầu tiên viết về cuộc đời của chân phước tử đạo Phêrô Vêrôna là cha Tôma Agni Leontino vốn là một Tu-sĩ Đa Minh nổi tiếng đã trở thành Tổng Giám mục Consenza và sau này là Thượng phụ Giêrusalem. Lời chứng của cha đáng tin cậy hơn cả vì cha đã sống nhiều năm với thánh Phêrô Vêrôna, đồng thời là Bề trên và là người tận mắt chứng kiến những biến cố quan trọng trong cuộc đời của Phêrô. Tác phẩm này không hề có sự tâng bốc. Bản thảo của cha Agni được lưu giữ nhiều năm ở Tu viện thánh Máccô tại Florence. Ngoài ra còn có một bản khác với vài chi tiết được cha Ambrose Taegio thêm vào và được lưu trữ trong Tu viện Nostra Donna delle Grazie, ở Milan.

Trong tuyển tập thứ ba viết về các thánh trong tháng Tư, tác giả của bộ tác phẩm “Hạnh các thánh” (Acta Santorum) là các Anh Em Dòng Tên đã công bố tập tiểu sử về thánh Phêrô của cha Agni. Các tác giả khác cũng đã viết về đời sống của người. Chúng tôi cũng tham khảo những tác phẩm này và hẳn nhiên tránh bất cứ điều gì có thể xem ra nghi ngờ hoặc không mấy quan trọng hầu chỉ đưa ra những dữ kiện mà tất cả các tác giả đều đồng ý. Vì tính cách ngắn gọn của bài viết nên chúng tôi để dành riêng những suy tư có thể được nảy sinh do lòng mộ mến cho chính người đọc3.

Phêrô sinh tại thành phố Vêrôna vào năm 1205 hoặc 1206 miền Lombardy. Khi Đức Giám mục của Giáo phận Vêrôna là Âutinh Valerio viết lịch sử cho Giáo phận của mình, thì lúc bấy giờ ngôi nhà mà Phêrô được sinh ra vẫn còn tồn tại ở Giáo xứ thánh Stêphanô. Hình ảnh của Phêrô được vẽ trên bức tường với một hàng chữ ghi năm 1487. Chính vị Giám mục Âu tinh Valerio khẳng định với chúng ta rằng thánh Phêrô thuộc một gia đình quý tộc. Dữ kiện này không được các sử gia khác ghi lại. Nhưng điều này cho ta biết rằng gia tộc của người là những tín đồ theo phái Manikê, một giáo phái mà sau này đã bành trướng khắp nước Ý. Đương nhiên, vì lầm lạc nên những người trong gia tộc cũng sớm tìm cách tiêm nhiễm vào tâm trí cậu Phêrô bằng những giáo lý lầm lạc của phái này. Rõ ràng họ không bao giờ tưởng được  rằng Thiên Chúa đã an bài để Phêrô được sinh ra trong môi trường lạc giáo, hầu chính người sẽ giáng cho họ “một đòn chí tử”. Chỉ ít, chúng ta cũng thấy có những sự xung đột ác liệt giữa người với kẻ thù ghê sợ này. Nhờ vượt qua môi trường bất lợi ấy, người đã đạt được nhiều chiến thắng. Chúng ta cũng sẽ sớm nhìn thấy Chúa đã an bài cho Phêrô như thế nào, và sự khôn ngoan của người đời thường cản trở những ý định của Thiên Chúa hơn là phục vụ ý định của Người.

Ân sủng mau chóng hoàn toàn trọn thiên hướng thánh thiện nơi Phêrô. Từ những năm đầu đời, Thiên Chúa đã trang bị cho Phêrô chống lại mối nguy hại đang rình rập và đã làm cho người ghét bỏ những lối giáo dục mà cha mẹ cùng họ hàng đã tìm cách nhồi nhét vào đầu của cậu. Quả thật, cậu Phêrô đã xem nhẹ lời chúc tụng của mọi người và tránh xa những mối phiền toái nơi họ. Những ngôn từ giả tạo của các đạo lý sai lạc cũng như những tác động của họ hàng cũng không hề ảnh hưởng lên cậu. Chính vì bắt đầu phản đối sự sai lạc ngay từ thiếu thời nên Phêrô đã trở thành nhà Hộ giáo và đã vinh phúc chịu khổ vì đạo ngay khi còn rất trẻ.

Tuy không vừa lòng với những khuynh hướng của con trai, cũng như không hiểu nguyên nhân vì sao, nhưng người cha theo phái Manikê tin rằng những khuynh hướng ấy sẽ biến mất khi Phêrô lớn lên. Cho nên, khi không còn thầy giáo nào cùng phái Manikê ở Vêrôna, ông đành giao phó việc học đầu đời của con trai mình cho các thầy cô Công giáo. Đến năm bảy tuổi, Phêrô, đã thấu hiểu ân huệ mà Thiên Chúa phú ban cho mình và cần phải sinh ích vì ân huệ đó. Một ngày nọ, khi một người bác hỏi Phêrô đã học được điều gì ở trường, thì ngay lập tức vị tử đạo tương lai này trích ngay câu đầu tiên của Kinh Tin các Tông Đồ công bố về một Thiên Chúa duy nhất, Đấng tạo dựng muôn loài hữu hình và vô hình. Điều này chính là phủ nhận một sự sai lạc cốt lõi của phái Manikê. Đúng ra, nó là một sự chối bỏ nền tảng chính yếu mà giáo phái Manikê đã tin; vì họ cho rằng có hai nguyên lý đệ nhất hoặc hai đấng tạo dựng: một là thần ác, đến từ thế giới vật chất; hai là thần hiện, là căn nguyên của mọi hữu thể linh thiêng.

Người ta đã dùng mọi cách để thuyết phục Phêrô, thậm chí ép người phải nói tất cả vật chất là công trình của ma quỷ hay là nguyên lý của sự ác. Nhưng vị tông đồ trẻ tuổi của Đức Kytô đã dứt khoát trả lời là “Không”; “chỉ có một nguyên lý mà thôi, đó chính là Thiên Chuá tối cao, đầy quyền năng, và là Đấng Tạo Dựng trời đất. Bất cứ ai không tin chân lý này thì không thể được cứu độ”. Ông bác theo giáo phái Manikê cảm thấy lúng túng trước lời biện bác của người, và như thấy trước điều gì có thể xảy ra, ông liền nói thẳng với người em trai của mình rằng điều tốt nhất là nên đưa Phêrô ra khỏi bàn tay dạy dỗ của những người Công Giáo càng sớm càng tốt. Ông cũng thêm rằng: “ Vì anh sợ thằng bé khi lớn lên, cùng với sự hướng dẫn tốt như thế, nó có thể phá đổ đạo của chúng ta, nên tốt hơn hết để nó tránh khỏi bọn đĩ điếm đó”, cách nói mà ông bác này dùng để mô tả Giáo hội Công Giáo.

Bằng những lời ấy, người đàn ông tội nghiệp này vừa vô tình phỉ báng đạo Công Giáo vừa nói trước điều sắp xảy đến. Khi người em trai của ông gắn bó với những lệch lạc của đạo Manikê giống như ông, thì ông tim động cơ mãnh liệt nhất để ép người em này theo lời mình. Tuy nhiên, Thiên Chúa không để cha của Phêrô nghe theo lời khuyên này. Cha cậu đã vui sướng cực độ vì những phẩm chất phú bẩm xuất chúng của cậu, vốn là sự hứa hẹn lớn trong việc học hành. Bởi vậy ông đã tiếp tục cho cậu học ở trường này.

Vì vậy, người ta thường tin vào câu nói của Baillet cho rằng sách vở và môi trường Đại học giúp cho người ta biết sử dụng trí tuệ bằng nhiều cách. Do đó, sau khi hoàn toàn tất khóa học chính quy và mọi thứ mà các thầy giáo đầu đời đã truyền dạy, người đã gửi đến trường Đại học Bolgona. Tại đây, vì phải sống chung với nhóm người trẻ và thường dễ bị cuốn vào gương xấu cùng những cám dỗ xác thịt, nên Phêrô phải đối diện với những cạm bẫy mới. Nhưng người đã cẩn trọng để chống lại những nguy hiểm đang rình rập quanh mình. Việc chuyên chăm cầu nguyện, tránh xa những người và những dịp có thể làm người sa ngã, việc biết mình yếu đuối và chuyên cần học hành là những phương cách mà Phêrô tìm kiếm để bảo vệ mình. Phêrô vẫn giữ được con tim thuần khiết là nhờ vào sự quan phòng che chở không ngừng của Thiên Chúa, như đã từng che chở cậu khi còn ở nhà. Sự quan phòng này còn đưa Phêrô đến một môi trường thánh thiện hơn, nơi người bắt đầu chuẩn bị cho công việc mà Thiên Chúa dành cho người sau này.

Lòng nhiệt thành giảng thuyết của thánh Đa Minh và hương thơm thánh thiện mà các anh em tiên khởi lan tỏa khắp nước Ý, đặc biệt giữa những người dân Bologna, đã gợi cho chàng sinh viên trẻ tuổi này một phương thế cứu độ mà cậu không thể bỏ qua được. Chàng sinh viên Phêrô đã thấy có nhiều sinh viên và giáo sư nữa vào Dòng. Cậu Phêrô xem đây như là một bến bờ bình an, nơi mà cậu sẽ được che chở khỏi hiểm nguy của thế gian, đồng thời đời sống của cậu có thể sẽ sinh lợi cho tha nhân. Vì vậy, Phêrô đã thỉnh cầu thánh Đa Minh nhận mình vào Dòng trong khi chỉ mới 16 tuổi. Lời ước nguyện của cậu được cha thánh đón nhận và đồng ý ngay. Từ đó chúng ta thấy Phêrô bắt đầu một cuộc đời hãm mình, điều mà cậu liên tục thực hiện cho đến chết.

Sự ra đi của cha thánh Đa Minh không còn cho Phêrô cơ hội để được nghe những lời giáo huấn tuyệt vời nữa. Tuy chỉ trong vài tháng nhưng cậu đã học hỏi cách tốt nhất từ chính mẫu gương và các bài giáo huấn của cha thánh. Nhờ luôn trung kiên với ơn thánh, vị tử đạo tương lai này không ngừng tự mình huấn luyện bằng chính những nguyên tắc của Vị Sáng Lập thánh thiện và tin chắc cha thánh vẫn hiện diện trong tinh thần của Dòng. Để xua đuổi hết mọi lo âu, Phêrô giữ đúng tất cả những điều luật Dòng.

Phêrô đã cố gắng không chịu thua ai trong việc giữ kỷ luật tu trì. Nếu chỉ xét về khía cạnh thể lý, thì việc kiêng thịt, chay tịnh, cầu nguyện suốt đêm, và những phương tiện khổ chế khác được áp dụng ở Tu viện thánh Nicôla tưởng hẳn đã làm thỏa lòng chàng tập sinh này. Nhưng bằng lửa nhiệt tâm nơi tâm hồn, người đã tìm cách điều chỉnh chính mình. Do vậy, cùng với những khổ chế chung trong Tu viện, Phêrô đã thêm vào những hình thức khác cho riêng mình, và thực hiện những phương cách ấy đến độ sức khỏe cậu suy kiệt. Ai nấy đều tin rằng các việc đạo đức của người tập sinh nhiệt thành này đã khiến cậu trở nên ốm yếu. Tuy nhiên, Thiên Chúa, Đấng muốn những việc làm của người tôi trung này tôn vinh Người, đã sớm hồi phục sức khỏe cho cậu. Không lâu sau đó, cậu đã tuyên khấn.

Bây giờ Phêrô hiểu thấu đáo các mưu mô của quỷ dữ và biết cách tránh xa chúng. Cậu nhận thức rằng Satan thỉnh thoảng thôi thúc tâm trí của những tâm hồn đạo đức thực hiện những bài tập khổ chế để tạo ra ảo tưởng nơi họ. Điều này sẽ không làm đẹp lòng Thiên Chúa một khi những phương thức ấy không được hướng dẫn bởi lòng vâng phục hay sự chín chắn. Vì lý do này, Phêrô trở nên chừng mực hơn trong cách giữ việc khổ chế, và đưa ra những cách thức lượng giá lành mạnh để kiềm chế tính xác thịt mà không làm tổn hại đến sức khỏe. Tuy nhiên, điều mà phêrô xem là chừng mực, hay thậm chí đơn giản, thì đối với người khác lại là rất nhiệm nhặt. Dẫu thế, ơn ích và sự an ủi nội tâm được ban khi cầu nguyện, dường như làm người thoải mái để gìn giữ thân xác dưới kiểm soát của tinh thần, và nâng tâm hồn để biết rõ hơn sự trọn lành của Thiên Chúa.

Chính vì thế, khi hưởng nếm sự tự do làm con cái Đức Kitô, cậu tập sinh Phêrô đã ra sức học hỏi sự khôn ngoan của Thiên Chúa và suy niệm Kinh Thánh. Cộng đoàn trong Tu viện thánh Nicôla có nhiều tiến sĩ nổi tiếng vốn là những giáo sư sáng giá của Đại học Bologna. Những giáo sư này đã trở thành các môn sinh của thánh Đa Minh. Điều họ có thể học được từ cha thánh là bí quyết kết hợp cầu nguyện với học hành và làm nên một thể thống nhất cho việc phục vụ tha nhân nhằm hoán cải các linh hồn. Sau khi đã khấn Dòng, một vài người trong số họ đã dấn thân trong việc giảng dạy để hướng dẫn tha nhân, chống lại lạc giáo, và mời gọi những kẻ tội lỗi trở lại. Để thánh hóa mình, những giáo sư khác đã ở lại âm thầm trong Tu viện để huấn luyện các anh em trẻ. Vì vậy, khi đào tạo các thần học gia và nhà giảng thuyết tương lai, họ đã góp phần vào những vinh thắng mà các môn sinh của họ một ngày nào đó sẽ chinh phục những kẻ thù của đức tin và của đạo Công giáo.

Chỉ có Phêrô Vêrôna mới biết rõ cách tận dụng những cơ hội được tạo ra cho mình. Sau khi tránh khỏi các gương mù và những xáo động của thế gian, người tận hưởng sự bình an và tĩnh lặng trong Tu viện để dồn mọi khả năng cho việc học, điều mà người ta có thể tìm thấy trong các trường Đại học tốt nhất. Được kín múc từ mẫu gương của nhiều anh em nổi tiếng, những người khao khát đạt đến đỉnh cao của sự hoàn hảo, Phêrô luôn thực hành các nhân đức và khổ chế, chú tâm vào việc học mỗi ngày. Đặc biệt, người đã tiến bộ nhanh chóng lãnh vực Thánh khoa.

Với một môi trường thuận tiện cùng những đức tính như thế, vị tử đạo tương lai này hoàn tất việc học của mình và được tiến cử lên chức linh mục. Bác ái, khiêm nhường, nhiệt thành cứu các linh hồn, cùng với tính trong trắng đơn sơ, đã làm nổi bật các đức tính của vị linh mục trẻ không kém gì kiến thức sâu rộng mà người đã lĩnh hội được. Những đức tính của Phêrô có được là nhờ vào lời cầu nguyện hơn là kiến thức khoa bản. Chính vì vậy, cha Phêrô liền được ban cho khả năng hoàn trọn ơn gọi của mình trong hết mọi lãnh vực, tức là hướng dẫn các tín hữu chống lại mọi giáo thuyết sai lạc. Người đã thành công trong việc bảo vệ Giáo hội khỏi những hoen ố bởi sự suy đồi đạo đức nơi các tín hữu, cũng như gìn giữ những giáo huấn của Giáo hội trước mọi chống đối của các bè phái khác.

Chúng ta giả định độc giả biết rõ về lịch sử của thánh Đa Minh, và nhờ đó biết rõ những lập trường lệch lạc cũng như giáo huấn sai lạc của phái Albi. Vì vậy, bản phác thảo ngắn gọn về thánh Phêrô tử đạo này không thể đưa ra bất cứ trình thuật chi tiết nào về những phái lạc giáo mà người phải biện bác trong những cuộc tranh luận với các dị giáo ở Ý. Thực tế cả hai vị thánh này đều chống lại những sai lầm giống nhau. Vì đội quân của Hoàng đế Frederic I và sự ly khai không khoan nhượng do những chính sách của ông khi cổ xúy việc chống lại Đức Giáo hoàng Alexander III nên có thể chính sự suy đồi đạo đức vốn tiêm nhiễm ở Pháp vào thế kỷ XII đã từ đó lây lan qua các nước Bắc Âu, dần dần sang nước Đức, và cuối cùng thâm nhập vào nước Ý.

Các thành phố thuộc lãnh địa của Giáo hội không thể thoát khỏi sự lây nhiễm bởi giáo phái Cathari hay phái tân Manikê vốn đã lan rộng khắp mọi nơi. Vào năm 1207, Đức Giáo hoàng Innocent III đã trục xuất họ khỏi Viterbo và ra vạ tuyệt thông tất cả những ai nhận, tiếp tay, hay theo các giáo phái này. Công đồng Latêranô IV đã ban hành những sắc lệnh mới yêu cầu truy tìm những kẻ hủy hoại đức tin và trừng phạt họ môt cách nghiêm khắc. Vua Frederic II cũng công bố từ hai đến ba chiếu chỉ liên quan đến vấn đề đó. Vào ngày 22 tháng 02 năm 1224, vị Hoàng đế này viết như sau:

“Những ai bị Giáo hội kết án, dù xảy ra bất cứ ở đâu, khi bị điệu đến tòa phán xét dân sự, sẽ bị trừng phạt thích đáng. Những ai đã bị bắt và cảm thấy sợ chết, ước muốn trở lại với Giáo hội Công Giáo, vẫn phải bị giam giữ chung thân để họ có thể ăn năn hối cải. Các thẩm phán sẽ buộc phải đảm nhận và canh chừng sát sao tất cả những người bị Tòa tra kết tội dị giáo. Nếu bị Giáo hội chính thức kết tội với danh tội này, họ sẽ phải bị xử tử. Những ai cổ xúy dị giáo cũng bị xử y như vậy, trừ phi họ không dung túng dị giáo sau khi đã nhận được thông cáo. Những ai theo dị giáo hay đến một chỗ khác an toàn hơn cho việc cổ xúy ấy sẽ bị trừng trị một cách thích đáng.

Chúng tôi cũng kết án tử hình những ai vốn đã từng thề bỏ dị giáo để được tha mạng nhưng lại trở mặt. Chúng tôi khai trừ dị giáo, trừ khử những người che chở cho họ và những kẻ bị tước mọi quyền kháng cáo. Và chúng tôi quyết tâm rằng dị giáo sẽ bị quét sạch khỏi đế quốc này. Vì tôi xúc phạm đến chính Thiên Chúa thì lớn hơn tội phạm đến Hoàng đế, nên chúng tôi truyền rằng con cái của dị giáo, đến thế hệ thứ hai, sẽ bị tước hết nhưng quyền lợi hiện hành và tất cả dịch vụ công ích, trừ phi chúng tố cáo cha mẹ của chúng. Hơn nữa, chúng tôi tuyên bố rằng các Anh Em Giảng Thuyết và Anh Em Hèn Mọn, được bổ nhiệm vào đế quốc của chúng tôi để chăm sóc các vấn đề về đức tin, sẽ nhận được sự che chở đặc biệt của chúng tôi”.

Nhưng cả những lời đe dọa của Giáo hội cũng như những luật lệ khắt khe của nhà vua cũng không thể giảm bớt con số hay sự nguy hại của phái Manikê. Thỉnh thoảng, vì sợ bị trừng phạt, nên các giáo phái này đã tuyên truyền những sai lạc của họ một cách lén lút hơn. Khi nảy sinh sự đối kháng giữa giáo quyền và thế quyền thì dị giáo sẽ tiếp tay cho những kẻ chống Tòa thánh để họ tự do công kích những tín điều về đức tin. Thỉnh thoảng chính họ là cái cớ gây ra những ly gián như thế hay duy trì sự xung khắc này. Họ là những công dân xấu, những thần dân tệ hại, những kẻ thù công khai của đạo và là những kẻ thù ẩn mình của chính quyền. Chính vì vậy, các nhà cầm quyền dù là quốc gia hay giáo hội đều quan tâm đến việc dẹp bỏ sự nhũng nhiễu từ phía họ, vì tất cả mọi người đều có lý do tương tự là sợ bạo lực của họ. Thực tế, bạo lực này đã nhiều lần xảy ra.

Thực vậy, trong khi mọi người đang tìm cách đối phó với giáo thuyết Manikê thì Thiên Chúa quan phòng xếp đặt để đưa Phêrô Vêrôna từ chỗ yên tĩnh đến chiến đấu chống lại những mưu đồ của lạc giáo và ngăn chặn sự bành trướng những lầm lạc của họ. Cha Phêrô với tài hùng biện đã hướng dẫn dân chúng và thuyết phục họ tin vào những chân lý mà người giảng dạy. Đáng khâm phục hơn, người có biệt tại chạm đến các cõi lòng và làm cho cả những kẻ cứng đầu nhất cũng phải khuất phục. Đây chính là điều khiến các Bề trên gửi cha Phêrô đi khắp nước Ý như là một người tông đồ. Cha Phêrô không muốn tầm hoạt động của mình bị giới hạn.

Dân Bologna là những người đầu tiên nhận được hoa trái trong sứ vụ giảng thuyết của cha Phêrô. Sau đó, người cũng gặt hái được nhiều thành công tương tự khi rao giảng Lời Chúa qua các vùng Romagna, Marca d’Ancona, Tuscany, lãnh thổ của người Milan, và gần như tất cả các tỉnh thành của Ý. Ở bất kỳ chỗ nào, công việc của người cũng mang lại những sự hoán cải đáng khâm phục. Những người xưa nay vốn là kẻ thù thì tha thứ cho nhau. Nhiều kẻ tội lỗi khét tiếng đã từ bỏ con đường xấu xa của mình. Nhiều người theo dị giáo đã sửa chữa những lầm lạc của họ và được công đoàn Giáo hội đón nhận; nhưng chúng ta không biết liệu song thân của Phêrô có trong số những người này hay không. Chưa đầy hai mươi năm, lời tiên báo của một trong những người bác theo dị giáo của Phêrô giờ đây đang dần thành hiện thực.

Những gì đi ngược lại với luật của Chúa, những kẻ làm ô danh đạo Kitô thì đều là kẻ thù đối với nhà truyền giáo này. Đặc biệt chính cha Phêrô đã tuyên chiến chống lại phái Manikê. Người sẽ chống lại họ cho đến hơi thở cuối cùng. Người đã vạch trần những quá khích và tội lỗi của họ. Số người mà cha Phêrô thuyết phục từ bỏ những đạo lý lầm lạc của phái Cathari tăng nhanh đến độ không thể tin được rằng chính Thiên Chúa đã chọn người cách đặc biệt để dẹp tan giáo phái bất hạnh này, một giáo phái phi lý và bướng bỉnh nhất trong các phái dị giáo. Thực vậy, tính ương ngạnh của những người sùng mộ và ủng hộ đạo lý của dị giáo cho thấy dị giáo là một mối nguy lớn. Đối với những người theo giáo phái dị giáo, cái chết của một linh mục Công giáo dường như là một tế phẩm mà họ lấy làm tự hào trước mọi người, và vì họ tin rằng họ có thể mong đợi phần thưởng từ Thiên Chúa.

Vị thánh Phêrô Vêrôna của chúng ta không phải là không biết những mưu đồ và niềm tin của họ, nhưng còn biết rõ cả sự giận dữ mù quáng thái quá của họ. Những điều làm cho người khác sợ thì chính người lại không sợ. Được đầy tràn tinh thần hăng say của các tông đồ và theo gương các Ngài, cha Phêrô cảm thấy vui vì có thể chịu đau khổ với Đức Kitô. Mỗi lần cha Phêrô dâng Máu Thánh trên bàn thờ thì người cũng ước mong đổ máu mình ra vì đức tin. Đó là hồng ân người luôn xin Chúa ban qua lời cầu và sự hy sinh để có được ân phúc lớn nhất này.

Chính vì những khát khao thánh thiện của cha Phêrô nên Thiên Chúa đã chuẩn bị một vương miện dành cho người. Tuy vậy, trước tiên Thiên Chúa muốn cha Phêrô vượt thắng những thử thách liên quan đến đức hạnh của Cha. Nhưng những thử thách ấy rốt cuộc lại làm cho đức hạnh của cha tỏa sáng rực rỡ hơn. Chẳng hạn như một ví dụ sau đây:

Thiên Chúa đã ban ơn cho cha Phêrô trong khi người đang giảng thuyết ở thành phố Como thuộc lãnh địa Milan. Vì lòng khiêm nhường và bác ái, cha Phêrô phải giữ bí mật tuyệt đối trong thời gian dài, dù cho điều đó đưa đến lời cáo buộc chống lại người. Rất nhiều người dân đã tìm đến với người để xin xưng thú, xin lời khuyên răn, hay tìm sự an ủi. Trong số họ có vài người phụ nữ. Người ta nghe thấy giọng phụ nữ trong phòng cha Phêrô, điều này làm cho một vài cha đoán chắc rằng cha Phêrô đã để các phụ nữ này vào phòng mình và họ đã cáo tội này với các Bề trên của cha. Trong những hoàn cảnh ấy, lời cáo buộc này có vẻ là thực.

Chỉ cần một vài lời giải thích của cha phêrô là Bề trên có thể hoàn toàn miễn tội cho người. Nhưng lời giải thích ấy hẳn sẽ đánh mất đi ích lợi thiêng liêng. Vì sự khiết tịnh cũng giống như tính khiêm nhường, nên vị Tu sĩ thánh thiện  này không thể tự buộc tội về những điều mình không làm, cũng chẳng hề nói lên sự vô tội mà không đánh mất đi phẩm chất vâng phục của người. Cũng có thể nếu sự thật được phơi bày thì nó sẽ gây rắc rối cho những anh em trong cộng đoàn, những người đã nhanh chóng tố cáo mình. Vì thế, cha Phêrô đã quyết định bắt chước sự im lặng của Đức Kitô và để cho Thiên Chúa giải oan vào lúc thuận tiện.

Vị Bề trên của cha Phêrô nghĩ rằng sự im lặng là một lời thú tội, nên cấm cha không được thi hành chức vụ giảng thuyết nữa. Vị tử đạo tương lai này sau đó được gửi đến Tu viện Jesi, một thành phố nhỏ ở Marca d’Ancona, tọa lạc trên ngọn núi gần sông Esino. Vị tôi trung của Thiên Chúa đã vâng lời mà không phàn nàn điều gì. Cho dầu bị hiểu lầm trước bao nhiêu người, nhưng cha vẫn đi đến chỗ “nghỉ hưu sớm” một cách vui vẻ, vẫn kiên định chịu đựng và giữ im lặng cho đến cùng.

Chúng ta phải thừa nhận rằng cách xử thế của các vị thánh thì khác với cách xử thế của thế gian. Thậm chí những người tuyên bố mình kính sợ và tùng phục Chúa thì cũng khó có thể quên mình để phó thác cho Chúa. Thực vậy, nhiều lý do khiến chúng ta nghĩ rằng khi có vấn đề về thanh danh của một nhà giảng thuyết lừng danh vốn rất có thế giá đối với Giáo hội, thì sự im lặng không đúng lúc sẽ gây ra những gương mù cho người khác. Nó khiến chúng ta tin rằng tính khiêm nhường và sự kiên nhẫn là cần thiết nhưng việc áp dụng có những giới hạn của nó, trong một vài trường hợp, sự thanh minh là một trách nhiệm hoàn toàn chính đáng và lòng đạo đức đích thực có thể dung hòa mọi bổn phận.

Phêrô Vêrona biết rõ những điều đó. Tuy nhiên, vì không sợ Thiên Chúa thử thách, nên cha Phêrô sẽ không bày tỏ sự trong sạch của mình bằng con đường nào khác hơn là con đường mà Thiên Chúa sẽ tỏ lộ cho người. Để không phí thời gian rảnh rỗi, người đã gia tăng việc cầu nguyện, khổ chế, bác ái và khiêm nhường phục vụ anh em, đặc biệt là những người bệnh. Người không bao giờ tìm kiếm sự ủi an nào khác ngoài dưới chân thập giá và việc suy niệm Kinh Thánh. Để chế ngự những tình cảm tự nhiên của mình, cha Phêrô luôn nhắc nhớ đến nhục hình mà Đức Kitô, Đấng Công Chính, phải chịu vì yêu thương chúng ta, và Người đã để lại cho chúng ta một mẫu gương để noi theo.

Những suy nghĩ như thế cùng với đặc sủng mà Thiên Chúa đã ban cho cha Phêrô, đã tạo nên sức mạnh và sự an ủi cho tâm hồn cha. Khi cha không ngờ mình sẽ bỏ nơi ẩn dật này, điều mà cha đã yêu thích từ lúc mới vào Dòng, là lúc người ta biết sự thật là cha vô tội. Sau đó, từ nơi lưu đày cha Phêrô đã được mời làm việc trở lại. Bây giờ chẳng cần nói lên sự thanh minh của cha. Điều đau khổ duy nhất của cha với vấn đề này là phải chứng kiến những anh em trong cộng đoàn đang chịu sự đau khổ vì đã vu khống, hay quá dễ dãi thành kiến chống lại những hành động của cha, vì thế họ phải khiêm tốn nài xin cha tha thứ.

Sau khi được trui rèn bởi ngọn lửa đau khổ, công việc trước kia của cha Phêrô được phục hồi, dường như với cha đây lại là sự chuẩn bị tốt hơn để rao giảng những chân lý Tin Mừng. Thực vậy, Thiên Chúa đã ban cho cha sức mạnh trong hành động và lời nói để chống lại những kẻ thù của Giáo hội. Đức Giáo hoàng Gregory IX đã chỉ định cha làm Tổng Tòa tra. Với địa vị này, cộng với sự trợ giúp của ơn Chúa, cha đã chiến đấu với sai trái và tội lỗi một cách rất hiệu quả. Ở Rôma, Florance, Milan, Bologna, và các thành phố khác miền Lombardy, cha đã gặt hái được nhiều chiến công oai hùng. Cha Thomas Agni kể cho chúng ta rằng những cuộc hoán cải mà cha Phêrô giúp được đã tăng đến con số không ngờ.

Sau mỗi lần diễn thuyết, cha có thói quen ngồi tòa giải tội hay tổ chức các cuộc nói chuyện riêng – gặp gỡ những người tìm hiểu thêm, thỉnh thoảng với những người dị giáo, những người bị tác động bởi bài diễn thuyết và khát khao có sự hướng dẫn trọn vẹn hơn để từ bỏ sai lầm cố hữu của họ. Cha luôn đón nhận những người ấy với một tấm lòng bao dung và kiên tâm lắng nghe họ; vì cha thích thuyết phục để họ nhận ra những chân lý trước khi có thể giao hòa với Giáo hội. Người ta nghĩ rằng Ranieri Sacconi Piacenza, một người theo dị giáo rất nổi tiếng, là một trong số rất nhiều người mà cha Phêrô đã thuyết phục trở lại, sau này ông đã trở thành một con người nhiệt thành hỗ trợ cho việc bài trừ lạc giáo.

Phái Manikê nở rộ cách nhanh chóng ở Florence, đến độ người ta sợ rằng toàn bộ thành phố này sẽ sớm bị tiêm nhiễm bởi những sai lạc độc hại của họ. Sự nhiệt tâm của các vị mục tử hay những cách thông thường của Tòa tra cũng không ngăn cản được đà tiến của họ. Lúc ấy, theo lời yêu cầu của Đức Giáo hoàng, Phêrô Vêrôna thuyết phục được rất nhiều người quý tộc ở Florentine cầm khí giới chống lại dị giáo nhân danh tôn giáo và đất nước của họ. Cha đã giao cho họ một hiệu kỳ có khắc hình thánh giá. Nhờ cách dàn trận khôn ngoan của cha trong trận chiến diễn ra ở Piazza di Santa Felicita gần Arno, những người công giáo không chỉ dành được chiến thắng mà còn gây áp lực buộc phái Manikê và các giáo phái khác phải rút khỏi thành phố. Những thực hành đạo đức tinh ròng, hòa bình và trật tự vốn đã bị hoen ố bởi những người dị giáo, một lần nữa được tái lập trong thành phố này.

Danh tiếng trổi vượt, những nhân đức sáng ngời và vô số các phép lạ đã đặt cha vào một vị trí đảm nhận rất nhiều việc mà ngay cả những quan chức thành phố cũng không dám mơ đến, cũng như làm cho cha cảm thấy hạnh phúc thực hiện những dự án lớn của mình. Ví dụ; vào ngày 15 tháng 09 năm 1234, trong khi đang ở thành phố Milan, cha đã làm cho sắc lệnh chống các dị giáo của Đức Giáo hoàng, chiếu theo Công đồng Latêranô, trở thành những đạo luật của thành phố đó.

Tiếng tăm về tài giảng thuyết của cha Phêrô lẫy lừng đến độ dân chúng ùn ùn kéo tới nghe cha thuyết giảng đông đến nỗi các nhà thờ không còn chỗ trống. Vì vậy, cha buộc phải thuyết giảng ở những chỗ công cộng, trên các ngã đường, ngay cả trên những cánh đồng. Khi người dân biết lộ trình cha sẽ đến giảng, thì các đám đông từ những thành phố và thị trấn đã kéo tới để chứng kiến và nghe cha giảng đạo. Họ chào đón cha bằng tiếng chuông. Để có lời chúc bình an của cha, họ đã chen lấn và chặn cả đường đi của vị truyền giáo này, đến độ cấn thiết phải làm cho cha một tòa kiệu di động do những người lực lưỡng khiêng các để bảo vệ cha khỏi sự chen lấn của đám đông. Sự nhiệt thành của dân cư Milan dành cho vị thánh giảng thuyết này đã làm cho họ nảy sinh ra sáng kiến đặc biệt để bảo vệ cha khỏi nguy hiểm.

Bất cứ nơi nào cha đến,người điếc, người câm, người mù, người phong hủi đau yếu bất kỳ bệnh gì đều được khiêng đến cha Phêrô. Nhờ những lời cầu nguyện của cha, thường tất cả đều được chúc lành. Họ tán dương Thiên Chúa vì quyền năng chữa lành mà Người đã ban cho vị tôi trung của Người là cha Phêrô. Tuy nhiên, chính qua những hoán cải mà cha tác động thì vinh quang Thiên Chúa được tỏ lộ hơn cả; cha Phêrô đã thực hiện những phép lạ lớn nhất là biến đổi những tấm lòng.

Hai nông dân sống ở tiểu quốc Milan, một người là Công giáo ngoan đạo, người kia là một người dị giáo Manikê cứng đầu. Các cánh đồng của họ nằm sát nhau và được chăm bón như nhau, nhưng khác nhau về niềm tin. Khi người Công giáo gieo hạt trên mảnh đất của mình, thì ông ta xin Chúa chúc lành cho công việc của mình, và chờ đợi thành quả do những nỗ lực của mình từ sự  ban phúc bởi trời. Ngược lại, người theo phái Manikê đã phó công việc nặng nhọc của mình cho Satan, kẻ mà ông tin rằng tạo ra được mọi của cải vật chất. Khi biết được hành vi rối đạo này, cha Phêrô đã chỉ trích nghiêm khắc kẻ u mê này và tiên báo rằng ông sẽ bị trừng phạt, cánh đồng của ông sẽ không sinh hoa trái, trong khi ruộng của người Công giáo bên cạnh sẽ bội thu. Người theo lạc giáo Manikê trả lời rằng “tôi hứa với cha nếu đúng như lời cha tiên báo, tôi sẽ bỏ giáo phái của tôi mà đi theo đạo của cha. Nhưng nếu chúng không xảy ra như thế, hãy để tôi tin vào điều tôi luôn xác tín”. Lời tiên báo của vị thánh này đã thành hiện thực, kết quả là ông nông dân theo phái Manikê đã giữ lời hứa và xin gia nhập Giáo hội.

Phêrô Vêrôna trân trọng cách đặc biệt những cuộc trở lại như thế. Cha coi đó như là hoa trái tốt nhất từ sự khổ công của mình, cũng như là nguồn động viên hữu hiệu nhất để duy trì lòng nhiệt thành vốn bị hao mòn do sứ vụ không ngừng của mình. Cha rất ngại ngùng đến những biện pháp khắt khe kết án những kẻ cứng đầu. Thực vậy, cha không bao giờ nại đến những biện pháp khắt khe cho đến khi cha xử dụng hết mọi phương cách ôn hòa khởi đi từ lòng nhân từ và đức ái Kitô giáo. Mặc dù cha chỉ nghĩ đến việc ngăn không cho những người có tội làm thêm điều xấu, sai khi cha đã không thể hướng họ làm điều tốt.

Chi tiết được kể ra sau đây cho thấy sự khôn ngoan của cha Phêrô không thua gì đặc ân về những phép lạ mà Thiên Chúa phú ban cho người. Một người mộ đạo trong phái dị giáo ở Milan từ lâu đã nghi ngờ Phêrô Vêrona và những việc kỳ diệu gán cho cha. Vì thế, dầu hoàn toàn khỏe mạnh, nhưng ông ta giả ốm và yêu cầu người khác khiêng ông tới nhà giảng thuyết lừng danh này. Rất nhiều người theo phái Manikê, vốn đã được biết đến âm mưu của người này, đi theo để có thể chứng kiến vị thánh này sẽ bị bẽ mặt vì không thực hiện được phép lạ. Khi đến nơi, kẻ lừa lọc này giả vờ rất khiêm tốn nói rằng: hỡi người thuộc về Chúa, nếu cha có thể làm bất cứ thứ gì với Đấng tạo dựng trời đất, tôi khẩn xin cha cầu nguyện để Chúa cất khỏi những cơn đau quằn quại trong tôi. Cha Phêrô liền trả lời, “vâng, tôi sẽ cầu khẩn Đấng đã tạo dựng và nhìn thấy mọi loài, nếu căn bệnh của ông không là thật, Người có thể làm đúng như điều ông xin”.

Lời của cha tức thì có sức tác động. Trong phút chốc, kẻ giả vờ bệnh này bắt đầu cảm thấy toàn thân đau đớn. Những kẻ đi theo đã vội vàng đưa ông ta về nhà, nơi mà kẻ nói dối này phải chịu vài ngày trời trong nỗi đau khốn cùng. Các bác sĩ không biết được nguyên nhân tại sao đưa đến bệnh này và phương thuốc chữa trị của họ đưa ra dường như lại càng làm cho ông đau thêm. Cuối cùng khi cơn đau ngày một tệ ra, kẻ đáng thương này bắt đầu nhận ra rằng Thiên Chúa đang trừng phạt mình vì dám lừa Người, ông đến gặp cha Phêrô, thực tâm nhìn nhận sự dối trá của mình và từ bỏ dị giáo. Vì chấp nhận sự thành tâm hoán cải của người dị giáo này, nên cha Phêrô đã hướng dẫn ông theo những chân lý của đạo Công giáo và ghi dấu thánh giá trên ông, đồng thời chữa lành sự đau đớn thể xác nơi ông, giống như cha đã cho ông ta sự lành mạnh về tâm hồn.

Trong số những phép lạ mà Chúa Quan Phòng đã dùng cha Phêrô để cho bao người trở lại, thì câu chuyện sắp kể sau đây tuy khác về bản chất với câu chuyện trước nhưng cũng không kém phần lạ lùng. Sau khi cha Phêrô trở lại Milan, người ta đã dẫn đến trước cha một người theo giáo phái Manikê nổi tiếng. Ông ta là người mà trong giáo phái tôn kính như là một Giám mục và một vị thầy lãnh đạo. Phêrô Vêrôna quyết định thử người này trong một quảng trường rộng lớn của thành phố trước các Giám mục Công giáo, nhiều Giáo sĩ và Tu sĩ, cũng như đông đảo dân chúng. Mục đích của cha trong việc này là ngay cả những người cứng rắn nhất bảo vệ phái Manikê phải từ bỏ những lầm lạc của mình khi họ chứng kiến mình bị đối chất một cách công khai, trong khi chính nhà lãnh đạo của họ lại phải chịu khuất phục bởi sức mạnh tuyệt đối của chân lý.

Việc kiểm chứng này diễn ra rất lâu, và thời tiết oi bức gây khó chịu cực kỳ cho đám người rất đông đang vây quanh đó để chứng kiến sự việc này. Phần vì để che dấu sự bối rối của mình bằng cách đánh lạc hướng sự chú ý của thính giả, hoặc là do sự xấu hổ tủi nhục thúc đẩy, người theo phái Manikê tự dưng la toáng lên: “này thằng mạo danh độc ác kia, nếu người là vị thánh giống như bao người nghĩ, thì tại sao người lại để họ chết cháy dưới cái nắng gay gắt này? Tại sao ngươi không xin Chúa của người cho mây đến để che đi cơn nắng như thiêu đốt này?” Phêrô ôn tồn trả lời không chút dè dặt rằng “tôi sẽ cầu xin điều đó nếu ông hứa với tôi từ bỏ giáo phái của ông, khi ông chứng kiến lời cầu của tôi được ứng nghiệm”.

Ngay lúc đó dấy lên tiếng ồn ào xôn xao giữa các phe. Nhóm Manikê la lớn tiếng để kẻ ngụy Giám mục của họ chấp nhận lời đề nghị ấy; vì khi đó trời không một bóng mây, họ cảm thấy cha Phêrô hết đường chạy thoát. Quả thực, họ đoan chắc mình sẽ chiến thắng một cách chắc chắn những người bảo vệ Giáo hội. Ngược lại, những tín hữu Công giáo (một số người không tin tưởng lắm vào cha Phêrô) đã kêu cha tiếp tục phản bác dị giáo này bằng uy           quyền của Kinh thánh, và xin đừng làm thêm những  phép lạ mới nào nữa đối với những kẻ kém tin và phạm thượng này.

Tuy nhiên, đến lúc này, cha Phêrô đã kết thúc cuộc tranh luận. Với một đức tin đầy khiêm cung đối với điều Thiên Chúa đã hứa thì chẳng có gì là Người chối từ, nên cha tuyên bố rằng: “để cho tất cả quý vị biết và đồng thanh tuyên xưng rằng Thiên Chúa toàn năng mà chúng tôi tôn thờ, là Đấng tạo nên những vật hữu hình cũng như những vật vô hình, thì tôi xin Thiên Chúa, nhân danh Đức Giêsu Kitô, Con của Người, hãy gởi một đám mây để bảo vệ chúng con khỏi cái nắng như thiêu đốt này”. Trong khi kết thúc lời cầu nguyện, cha Phêrô làm thánh giá. Các nỗi lo âu của những người con ngoan đạo ngay lập tức cảm thấy an tâm, trong khi các hy vọng phù phiếm của những kẻ đối lập biến mất; vì cùng lúc ấy tất cả đều nhận ra rằng bầu trời bỗng trở nên râm mát cho đến khi cuộc tranh luận kết thúc.

Nếu bằng chứng về các phép lạ có thể thay đổi tâm hồn, thì vài ngàn người theo phái Manikê, vốn đã chứng kiến tận mắt phép lạ cả thể này, hẳn đã nhận biết chân lý mà từ lâu họ đã ngoan cố chống báng. Sự việc xảy ra lúc bấy giờ chính là điều thường hay xảy ra, khi các tông đồ rao giảng Tin Mừng của Đức Kitô cho dân ngoại, vốn đòi xác tín chân lý Tin Mừng bằng các phép lạ lẫy lừng. Rất nhiều người được thay đổi để có được sự sống đời đời (crediderunt quotquot erant praeordinati ad vitam aeternam). Kẻ khác thì bỏ đi một cách ngạc nhiên, nhưng không trở lại. Tuy nhiên, nhờ biến cố này, những người thuộc về Giáo hội thì kín múc được các ơn ích; vì họ được củng cố thêm trong việc tuyên xưng đức tin Công giáo, được hướng dẫn sống tốt hơn và được soi sáng để mau chóng làm cho họ có những cảm thức về sự tôn kính Kitô giáo.

Cha Phêrô đã bảo vệ đạo và phản bác dị giáo không chỉ bằng lời giảng mà còn qua những lời cầu nguyện, sự hãm mình cũng là mẫu gương bác ái Kitô giáo, những điều ấy là phương thế hữu hiệu hơn bao giờ hết. Các phương thế khác cũng là các lề luật khôn ngoan mà cha sử dụng là những chỉ thị cha ban hành đến những giáo phái khác – phái Cathari, phái Puritani (thanh giáo), phái Valđô, phái Passaggini, phái speronisti, và các dị giáo tương tự, mà sau này đã tiêm nhiễm rất nhiều các tỉnh của nước Ý. Bernadine Corio, sử gia Milan, đã ghi nhận rằng các thẩm phán Tòa tra tuân theo cha Phêrô chính thức sử dụng luật của người một cách tự do.

Đức vâng phục đã bó buộc cha Phêrô phải giữ chức vụ Bề trên trong nhiều Tu viện khác nhau – ở Como, Piacenza, Genoa, và các nơi khác. Với cương vị này, cha đã tận tình hướng dẫn anh em của mình giữ đúng kỷ luật tu trì và chuyên chăm học hành, đặc biệt là về Kinh Thánh; vì cha biết rõ rằng nếu không chuyên chăm trong việc này, thì họ khó gặt được hoa trái từ sứ vụ Lời Chúa. Lòng đạo đức thì rất cần thiết cho mỗi tu sĩ. Việc học chắc chắn là không kém phần quan trọng với một anh em Giảng Thuyết – đặc biệt thời đó, giữa những người mà nhóm dị giáo sử dụng tri thức để lôi kéo những người đơn sơ, hay thường làm cho chính những người tín hữu có thành kiến với những chân lý thuộc về đức tin và vì vậy khiến người ta phải tin.

Phêrô Vêrona được xem là một tiến sĩ uyên bác và điều đó là có lý. Tuy vậy, cha không ngừng cập nhật kiến thức qua việc cầu nguyện, suy niệm, hay đọc Kinh Thánh. Gương tốt mà cha đã để lại cho anh em chứng tỏ rằng anh em cần phải dùng phương thế nào để kiện toàn đời sống của mình và trở nên hữu ích cho Giáo hội. Dù đã có bằng tôn sư thần học, nhưng cha Phêrô cũng không bao giờ cho phép mình ngừng học. Việc học không bao giờ ngăn trở cha là người tiên phong trong việc giữ kỷ luật tu trì. Cha biết rõ cách để kết hợp đời sống kỷ luật trong đời tu với đời sống hoạt động tông đồ.

Con người cha Phêrô là như thế đó, cha có được vinh dự khi Đức Hồng Y Sinibaldo De Fieshci lên ngôi Giáo hoàng với tước hiệu Innocent IV vào năm 1243. Một trong những quan tâm hàng đầu của vị tân Giáo hoàng này là phải đẩy mạnh lòng cản đảm và tăng cường lòng nhiệt thành của những người đã dành trọn tâm huyết để phục vụ Giáo hội, đang chiến đấu trên mặt trận đức tin. Trước hết, vị Giáo hoàng này xác nhận, thậm chí ban thêm, các quyền mà vị tiền bối của người đã ban cho cha Phêrô. Hơn nữa, Đức Giáo hoàng giao cho cha Phêrô một vài sứ mạng, vốn lại càng tăng thêm uy tín và lòng mộ mến dành cho người.

Các cha Dòng Tôi Tớ Đức Bà (The Servite Fathers) vừa mới bắt đầu thành lập Dòng của họ ở Tuscany. Đức Giáo hoàng Innocent IV đã hoài nghi, dưới hoàn cảnh thế này, không biết rằng có nên châu phê một Dòng mới hay là dẹp bỏ luôn. Vì thế, Đức Giáo hoàng đã quyết định nhờ đến sự khôn ngoan của Phêrô. Do vậy, người đã phái cha đến Florence cùng với lời dặn dò cẩn thận xem nguồn gốc, tinh thần, và luật lệ về lời thỉnh cầu của Dòng này, điều tra cẩn thận đời sống, tu phục và sự giảng dạy của những người đã vào Dòng, và mục đích mà họ nhắm đến là gì. Archangelo Gianni, người chép sử của Dòng Tôi Tớ Đức Bà, cho chúng ta một vài nguồn thông tin quan trọng tại sao Đức Giáo hoàng có thiên kiến về dự phóng của những nhà sáng lập dòng của họ. Thứ nhất, các bản tường trình gửi về Rôma hoặc là sai lầm hoặc không có thiện cảm. Thứ hai, Công Đồng Latêranô đưa ra sắc lệnh cấm thiết lập các Dòng mới. Thứ ba, tình trạng điêu tàn ở Ý, vốn do nhiều yếu tố gây lên, như các cuộc nội chiến, rất nhiều các giáo phái nảy sinh vì sự giả hình và lạc đạo của họ.

Những tai họa mà Gianni ám chỉ đến, từ lâu đã lan khắp bán đảo Ý. Các thảm họa này dường như đã lên đến đỉnh điểm trong suốt kỳ trống tòa giữa cái chết của Đức Giáo hoàng Gregory IX và cuộc bầu cử Đức Giáo hoàng Innocen IV. Thời gian này khủng hoảng đến độ mọi thứ đang mở đường cho sự nghi kị và gây ra nỗi sợ hãi. Những người ác độc, bề ngoài xem ra có vẻ sùng đạo để che đậy lạc giáo của mình, và truyền bá những lầm lạc sao cho ít nguy hiểm đến số phận của họ. Một số người tới xin châu phê nhưng có một số người không phải xây dựng Hội thánh nhưng là để phá đổ Hội thánh. Vì vậy, để có thể đưa ra một phán quyết và hành động chính xác cho trường hợp của Dòng Tôi tớ, Đức Giáo hoàng Innocent đã phái cha Phêrô tới Tuscany, vì Đức Giáo hoàng cảm thấy rằng khi đưa ra quyết định an toàn thì phải theo bản báo cáo của một người công minh và sắc sảo mà chính ngài đã biết rất rõ.

Để có thể hoàn thành tốt hơn sự tín nhiệm mà Đức Giáo hoàng trao cho, và xứng đáng thực thi sứ mệnh này, trước tiên cha Phêrô tham vấn Đức Tổng Giám mục Florence về vấn đề này. Sau đó, cha tự mình điều tra mọi thứ theo ý định và sự hướng dẫn của Đức Giáo hoàng. Một mặt, cha Phêrô nhận ra mối nguy của lời đề nghị chứng minh những tổn hại cho sự an bình của Giáo hội; mặt khác người nhận thấy mối nguy cơ mà người găp phải đó là sự hy sinh lợi ích của những con người vô tội tự do những kẻ ác tâm vu khống. Do đó, người phải cận trọng hơn cũng như để tâm kỹ lưỡng hơn trong mọi vấn đề.

Sau khi điều tra cẩn thận về các nguyên tắc và đời sống của các cha Dòng Tôi Tớ Đức Bà, cha Phêrô mới tin tưởng ý chí ngay lành và lòng đạo đức chắc chắn của họ. Người cảm thấy vui mừng vì Tu hội mới là do những con người thánh thiện thực hiện dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh vốn thường hứng khởi các Đấng sáng lập Dòng tu; điều này sẽ xây dựng đời sống các tín hữu; và càng làm cho các tín hữu tăng lòng sùng mộ Nữ Vương Thiên Đàng. Lời khẳng định và hưởng ứng chân thành của cha Phêrô không chỉ bác bỏ mọi báo cáo sai lầm trước đó, mà còn xóa tan mọi nghi ngờ và thành kiến từ Đức Giáo hoàng Innocent. Chính vì thế, điều này bảo đảm rằng Dòng Tôi Tớ Đức Bà có được sự bảo vệ của Đức Giáo hoàng cũng như những đặc ân của Tòa thánh ban cho. Quả thực, sự châu phê Dòng Tôi tớ gần như dưa trên bản tường trình của cha Phêrô.

Rõ ràng lòng sùng mến riêng của cha Phêrô dành cho Mẹ Thiên Chúa làm cho Đức Giáo hoàng châu phê, vì Đức Giáo hoàng luôn muốn thân thiện với những ai đặc biệt được thánh hiến cho Đức Mẹ. Trong buổi nói chuyện riêng tư, chẳng hạn như trong các bài giảng của cha Phêrô, người đã khơi dậy lòng sốt mến của các tín hữu nhờ vào những tình cảm riêng của người dành cho Đức Maria Đồng Trinh. Vì tầm ảnh hưởng có lợi cho Dòng Tôi Tớ Đức Bà, nên Phêrô Vêrôna được xem là Đấng sáng lập thứ hai của Dòng. Sau khi cha Phêrô được phong thánh, họ đã chọn người làm vị thánh bảo trợ cho Dòng.

Vua Frederic II, người thường là cái gai đối với Giáo hội, đã băng hà và ngày 03 tháng 12 năm 1250. Vào ngày 13 tháng 07 năm 1251, Đức Giáo hoàng đã viết một chiếu thư cho cha Phêrô và một anh em khác trong Dòng là Vivian Bêgamô, trong đó viết những lời như sau:

“Sau khi Thiên Chúa đưa Giáo hội thoát sự độc tài của hoàng đế Frederic, người đã khuấy rối sự yên bình của tầng lớp dân chúng, và ông đã phò sự sai lầm, đặc biệt ở nước Ý, thì chúng tôi đã quyết định tăng cường Tòa tra ở đây để lưu tâm nhiều hơn nữa, vì sự dữ đang đến gần chúng ta. Do vậy, chúng tôi yêu cầu cha Phêrô đến Cremona, nơi cha sẽ triệu tập một hội nghị công đồng Giáo phận, để cha dốc sức cắt bỏ tận gốc rễ lạc giáo. Cha cứ dựa theo luật của Giáo hội để chống lại những kẻ mà cha cho là làm bại hoại, hay bị cáo buộc là theo lạc giáo, trừ phi họ thừa nhận hoàn toàn theo những đòi hỏi của Giáo hội. Nếu cần, cha có thể trao họ cho chính quyền. Nếu bất cứ ai muốn thề bỏ dị giáo của họ, cha hãy xóa tội cho họ, sau khi đã tham khảo ý kiến của Giám mục Giáo phận; nhưng cha luôn phải cận trọng để đảm bảo rằng họ thật lòng trở về.

Chúng tôi mong muốn tất cả những điều trên đây được xúc tiến. Vì thế, cha Phêrô phải công bố khai và dứt khoát rằng, nếu bất kỳ một thành phố hay cộng đồng, bất kỳ bá tước hay những kẻ có quyền lực nào khác ngăn trở những nỗ lực của chúng ta trong vấn đề này, chúng ta sẽ dùng đến thanh kiếm của Giáo hội để chống lại. Vì vậy, chúng tôi yêu cầu điều đó cho những vị vua, hoàng tử, và đội thập tự chinh để trời đất có thể cùng nhau trừng phạt sự xa đọa của họ, vì điều quan trọng hơn hết là bảo vệ đạo ở ngay tại quê hương hơn ở những vùng đất xa lạ”4.
Từ đó cha Phêrô trở thành một chiến sĩ đức tin chống lại những kẻ nỗ lực làm ô danh hay phá hủy sự tinh tuyền của đạo. Lửa nhiệt thành không bao giờ tàn rụi nơi cha. Những cuộc luận chiến với các lạc giáo diễn ra thường xuyên, hầu như liên tục; sự cẩn trọng của cha cũng giống như thế. Trong suốt hơn hai mươi năm cha không ngừng hướng dẫn và thúc đẩy dân chúng, vừa kêu gọi họ vâng phục Tòa thánh, hoặc vừa giúp những kẻ chẳng may thất trung hòa nhập lại cộng đồng. Tuy vậy, dường như những mệnh lệnh tích cực của Đức Innocent, như đề cập ở trên, đã cho cha một sự thôi thúc mới và làm cho cha càng khát khao hơn để hy sinh bản thân vì Giáo hội.

Đồng lòng với Giám mục Cremona, cha Phêrô đã thực hiện  những  phương sách khôn ngoan nhất để đưa đất nước thoát khỏi chất độc của lạc giáo. Hội nghị cấp Giáo phận được tổ chức nhằm mọi người đều tham gia, để các mục tử và các giáo chức khác có thể cùng thực thi một tinh thần chung hầu có được kết quả mỹ mãn. Cha Phêrô tuy khắt khe trong việc dùng luật nhưng không bao giờ bỏ lơ những lời dạy hiền hòa của Tin Mừng. Nhưng, khi cần, người cũng không ngại dùng đến quyền hành đã được trao để nhổ tận gốc cỏ lùng ra khỏi lãnh địa của Chúa, hoặc ít ra ngăn không cho nó lấn chiếm hạt giống tốt.

Thiên Chúa làm cho danh thơm tiếng tốt của cha Phêrô được mọi người biết đến qua những phép lạ và ơn tiên tri mà người đã làm. Tất cả để củng cố cho sứ vụ của cha, và làm cho dị giáo suy yếu. Con số từ bỏ dị giáo và trở lại hiệp thông với Giáo hội ngày càng tăng, nhờ nhận ra những lỗi lầm, hay lo sợ bị trừng phạt.

Những nhà lãnh đạo của phái Manikê thì không như vậy. Đồ đệ của họ tìm mọi cách để duy trì sự tồn tại. Đối lại những phép lạ của cha Phêrô, những môn đệ và những người theo Simon, một pháp sư, đã dùng những bùa chú của Satan, kẻ mà họ sùng bái như một nguyên ủy đệ nhất và kẻ tạo dựng mọi vật chất hữu hình. Họ đã tìm mọi cách để ngăn các tín đồ của họ bỏ đạo. Đôi lúc họ còn tạo ra những mặc khải giả; chỗ khác họ cố gắng củng cố những kẻ lưỡng lự để không sợ sự phán xét của Thiên Chúa và con người, cả bằng những lời tiên báo hão huyền hay những lời sấm giả tạo đầy dối trá. Vị giảng thuyết Phêrô đã đập tan những thái quá của những kẻ lừa lọc này, và làm cho những tín hữu bị lạm dụng lâu năm ngộ ra những hư ảo và ác ý từ những mưu toan của họ.

Phương thế cuối cùng của những người lãnh đạo nhóm Manikê là thận trọng né cha Phêrô, không nghe người thuyết giảng nữa, và tìm mọi cách ngăn chặn những ai đi theo người để nghe thuyết giảng. Vì vậy, nhờ vào đức hạnh và danh tiếng về phép lạ của mình, cha Phêrô thuyết giảng nơi nào thì nơi đó thu hút nhiều đoàn chiên đi theo để nghe giảng. Trong khi nhiều tín hữu theo người như thế thì các nhà lãnh đạo Manikê ngăn chặn họ. Vì thế, mỗi khi biết cha Phêrô đang thuyết giảng ở vùng lân cận, các nhà lãnh đạo thường tìm cách cho các tín hữu trong vùng mình làm một việc gì đó để giữ chân họ lại trong nhà; nguyên nhân là họ sợ các tín hữu nghe cha Phêrô thuyết giảng về sự sáng chân lý mà đi theo, nhưng về phần mình thì các nhà lãnh đạo không muốn nhận ra ánh sáng chân lý đó.

Một sự việc rắc rối đã xảy ra trong làng La Gatte, hay gọi là Delle Gatte, gần Bergamo. Những người Dị giáo ở đó đông đến nỗi gần như gia đình nào cũng đều ủng hộ họ hoặc không dám tuyên xưng niềm tin Công giáo cách công khai. Cha Phêrô đã đến viếng thăm vùng này và mời gọi dân chúng nghe người thuyết giảng hoặc tổ chức cuộc tọa đàm với người. Cha Phêrô cam kết với họ rằng đôi bên hoàn toàn tự do không chỉ để bảo vệ giáo lý mà còn giữ gìn tôn giáo của họ, nếu cha không chứng tỏ cho họ thấy giáo lý của họ là sai lầm. Nếu cha Phêrô không chứng tỏ điều đó thì lời khẩn nài, khuyên nhủ và cầu nguyện của cha cũng vô hiệu. Tất cả những dị giáo đều khăng khăng từ chối tranh luận với cha mà cũng chẳng thèm nghe cha thuyết giảng.

Dù vậy, một người sáng suốt như cha Phêrô thì lấy làm tiếc cho sự mù quáng của những người dị giáo này, nên cha không tỏ ra cộc cằn với họ. Tuy nhiên, cha Phêrô đe dọa có một tai họa sẽ sớm xảy ra; bởi vì, dưới sự tác động của Thấn Khí, cha đã dựa vào lời của Ngôn sứ Giôna mà tiên báo về sự hủy diệt gần kề của thành Babylon nhỏ bé này rằng: “Còn bốn mươi ngày nữa, Ninivê sẽ bị phá đổ”. Vài năm sau đó, khi tội lỗi của người dân làng La Gatta đã tràn lan, thì nơi ẩn náu của quân rối đạo bị tàn phá tận căn. Thomas Agni, một sử gia đương thời như đã đề cập ở trước, nói về việc tiên đoán này như là chứng kiến tận mắt những điều mà cha Phêrô đã tiên báo. Agni khẳng định với chúng ta rằng những điều rủi ro như thế cũng xảy ra ở nhiều nơi khác, sau khi vị truyền giáo Phêrô Vênôra đưa ra những lời tiên báo tương tự, nhưng Agni lại không cho chúng ta biết tên của những địa danh đó.

Vì những người Manikê ngày càng ngoan cố nên lòng hận thù và sự điên cuồng của họ mỗi lúc một gia tăng. Họ ý thức rằng nếu không bỏ đi tội lỗi hay lầm lạc của mình thì sẽ không hy vọng gì hiểu được con người mà họ coi như là roi vọt phá hủy phe của mình. Vì thế, họ âm mưu giết cha Phêrô. Những người đứng đấu trong mưu đồ tai tiếng này là Stêphanô Confalonieri, Manfred Critoro thuộc Giussano, một làng nhỏ giữa Milan và Como, Guido Sacchella, và Giacôbê della Chiusa. Họ thỏa thuận trả cho những sát nhân với giá 40 lire Ý thời bấy giờ, tiền được trao cho Tôma Giussano. Để thực thi phi vụ này, họ đã chọn Phêrô Balsamone, thường gọi là Carino, và ông ta chọn thêm Albertino Porro nhằm hỗ trợ cho mình thực hiện phi vụ này.

Ý đồ của những kẻ mưu mô đến được tai cha Phêrô. Có thể cha biết được một phần tin này từ những người bạn ngấm ngầm tỏ ra chống đối người. Nhưng hoàn cảnh và giây phút tử đạo của cha Phêrô, mà nhiều lần người nói với công chúng, thì chỉ có Chúa mới cho người biết được rõ ràng. Vì là người chiến sĩ tôi trung của Giáo hội, nên cha Phêrô không hề cảnh giác đề phòng chống lại cạm bẫy mà những người lãnh đạo phái Manikê âm mưu hãm hại cha. Trái lại, vì chỉ đặt niềm tin vào Thiên Chúa, nên cha Phêrô tiếp tục thuyết giảng và can đảm đi đó đây để thi hành sứ vụ tông đồ của mình. Điều đó đã tạo nên nét đặc trưng cho suốt cuộc đời của cha. Người cảm thấy rằng tốt hơn là mình nên chuẩn bị cho chết bằng cách lao động đến hơi thở cuối cùng, để tôn vinh Thầy Chí Thánh, Đấng bảo vệ niềm tin và là sự cứu độ cho những ai khao khát Người.

Trong khi thuyết giảng ở Cesena, tỉnh Momagha, nơi cha Phêrô thực hiện nhiều phép lạ cũng như nhiều cuộc hoán cải, người nói với thính giả rằng anh chị em sẽ không còn thấy tôi nữa, vì sau tuần lễ Phục Sinh, những người dị giáo sẽ ám sát tôi. Từ nơi đó, cha Phêrô đến Milan. Cũng ở Milan, vào ngày Chúa Nhật Lễ Lá, ngày 24 tháng 03 năm 1252, cha giảng một bài cho khoảng mười ngàn người nghe, và cha đã thốt lên: “ Tôi biết chắc rằng những người Manikê đang âm mưu giết tôi và họ đã ứng tiền trước cho phi vụ này. Hãy để họ làm những điều họ mong muốn. Khi chết tôi sẽ làm hại cho họ hơn khi tôi còn sống.” (Agant quid velint, plusquam vivus fecerim, mortuus faciam contra eos).

Từ Milan cha Phêrô đến Como, nơi cha giữ chức vụ Bề trên. Những kẻ âm mưu để cho Lễ Phục Sinh trôi qua êm đẹp. Vào ngày thứ Bảy trong tuần Bát Nhật Phục Sinh, ngày 06 tháng 04 năm 1252, cha Phêrô rời Tu viện lúc tờ mờ sáng để tản bộ về lại Milan. Vì kiệt sức do ăn chay lâu ngày, người yếu đi sau cơn sốt kéo dài ba ngày, nên buộc cha phải đi bộ chậm lại. Lúc bấy giờ Carino đang ở lại Como ba ngày, khi biết được cuộc khởi hành của Cha Phêrô thì ông liền hăm hở bám theo. Trên đường đi, có Porro đang chờ sẵn, rồi nhập cuộc cùng với Carino, Porro là đồng bọn với Carino trong phi vụ này. Cha Phêrô đi được khoảng nửa đường là đến một khu rừng rậm, gần nơi gọi là Barlasina.

Trước hết Casino đâm cha Phêrô một nhát bằng dao nhỏ, hoặc bằng một hung khí nhọn nào đó, việc ra tay này làm cho đầu cha bị một vết thương sâu và rộng. Với vết thương này, Phêrô không đi được nữa, và chỉ làm sao cho khỏi bị thương thêm. Trong khi người bị nạn phó thác đời mình cho Thiên Chúa và đọc Kinh Tin Kính của các Thánh Tông Đồ, thì kẻ sát nhân lao tới đâm người nữa. Khi thấy cha Phêrô không thể nào gượng nổi được nữa mà chỉ dùng ngón tay để viết những từ đầu của Kinh Tin Kính bằng máu của người, thì Carino lấy dao găm đâm sâu một nhát vào ngực cha. Cha Phêrô qua đời một vài ngày sau đó.

Thánh Phêrô tử đạo vĩ đại đã chết như thế đó để bảo vệ Giáo hội. Người là môn đệ trung tín nhất của Thiên Chúa cũng như một con người có kiến thức uyên thâm. Khi đó, người đã 47 tuổi. Người đã nhận áo dòng từ tay thánh Đa Minh được khoảng 31 tuổi, đi theo đường lối và bắt chước các nhân đức của cha Đa Minh. Cả hai vị thánh này dường như luôn mang trong mình ước vọng tử đạo. Thánh Đa Minh đã có công trạng của một người tử đạo. Chính vương miện đã được đội trên đầu Phêrô Vêrona.

Như cha Phêrô đã tiên báo, trước hết, thi hài của vị chứng nhân tử đạo này được đưa đến Đan viện thánh Simplican, ở khu vực ngoại ô Milan. Ngày kế tiếp, vị Tổng Giám mục Leo di Perego, O.S.F. đã cùng đi với tất cả các Giáo sĩ trong thành phố này, cả triều lẫn dòng, và theo sau với một đám đông tín hữu, đi đến nhà thờ thánh Eustorgio để tham dự buổi mai táng trọng thể ngay giữa các anh em của vị thánh này, các Anh Em Dòng Giảng Thuyết. Đây là sự kiện rất buồn đối với Milan và Dòng Giảng Thuyết, tuy nhiên, từ sự kiện này, cả thành phố và Dòng Gỉang Thuyết đã nhận được nhiều niềm vinh dự.

Carino, một kẻ giết người, liền bị bắt ngay sau đó và bị tống vào tù. Nhưng hắn sớm trốn thoát và chạy đến Forli, gần núi Appennimo. Vị quan tòa bất tín phụ trách người tù nhân này đã bị đưa đến tòa án của Tổng Giám mục Leo di Perego, và đã bị sa thải. Tuy nhiên, Carino cuối cùng đã tỏ ra khó chịu về tội ác của mình, nhưng may thay hắn không đi vào con đường tuyệt vọng. Sau đó, hắn tuyên bố từ bỏ lạc thuyết của mình trong tay của một cha Đa Minh, nhưng chưa hết. Cũng vị linh mục này đã đón nhận con người khốn khổ này vào Dòng của mình, và trao cho anh ta áo dòng với cương vị là một thầy trợ sĩ. Anh ta có thể được chỉ định vào một vị tốt hơn để làm việc đền tội vì những việc làm xấu xa của mình. Từ đó cho đến cái chết của mình, kẻ phạm tội được hoán cải đó đã thực hành việc xám hối và hãm mình một cách anh dũng, cho nên người ta nghĩ rằng anh ta qua đời trong danh thơm đức hạnh.

Carino không phải là người duy nhất, hoặc có lẽ không phải là người đầu tiên, mà cuộc hoán cải của anh đã ứng nghiệm lời tiên báo của thánh tử đạo Phêrô. Ngay tức khắc tiếng vang về những phép lạ được làm tại nơi phần mộ của người tại Nhà thờ thánh Eustorgio, cùng với sự  chuyển cầu của người trước ngai tòa Thiên Chúa, đã đưa ra một lý do chính đáng để nói rằng, như một Samson khác, thực sự khi chết thánh Phêrô đã đánh tan quân Philitinh nhiều hơn khi còn sống. Tuy nhiên, có một sự khác biệt là người Do thái này, Samson, đã tiêu diệt những người gây ra cái chết cho chính mình ; trong khi vị chân phước tử đạo Phêrô Vêrôna đem lại cuộc hoán cải cho những người đã từng là kẻ thù của mình chỉ duy nhất một lý do là vì tâm trí họ chưa nhận được ánh sáng đức tin soi chiếu.

Trong sự liên hệ trên, cha Tôma Agni đã kể lại một vài sự kiện quan trọng đã ghi chép được. Cha Agni nói, trước cái chết của nhà truyền giáo này, những người theo phái Manikê trong thành phố Milan và các vùng lân cận đông đến nỗi đi đến đâu họ cũng thường tỏ ra kiêu ngạo. Ngay lập tức, sau cái chết tử đạo của Phêrô, họ đã bị xuống dốc trầm trọng nên không dám thừa nhận mình là một người theo phái Manikê. Một số người của phái này đã bị thúc ép bỏ nhà trong sự xấu hổ và bị đánh đuổi bởi những người Kitô hữu là những người mà trước đó run sợ trước sự hiện diện của họ. Một số đông đã từ bỏ dị giáo một cách công khai. Nhiều người lãnh đạo của họ bày tỏ dấu hiệu cải hóa thành thực ; không bằng lòng với một tín hữu thông thường, bởi vậy họ xin gia nhập Dòng Giảng Thuyết. Một số người trong nhóm họ đã trở nên những con người bảo vệ lừng danh  cho đức tin. Họ là những con người được chuẩn bị tốt để chống lại chủ nghĩa Manikê bởi vì họ đã từng được rèn luyện về những sai lầm của giáo phái này, cũng như về những mưu mẹo mà các thành viên của chủ nghĩa này đã sử dụng để làm lóa mắt và quyến rũ những người dân này.
Điều này đã ứng nghiệm những gì cha Phêrô đã tiên báo. Sự kiện đã xảy ra như vậy xác nhận thị kiến tiên tri của người. Chắn chắn rằng cuộc hoán cải của nhiều người theo phái Manikê này như là đáp lại những lời cầu nguyện của cha. Việc họ bị xụp đổ là thành tựu lớn của niềm tin và là sự phá hủy của một trong số những dị giáo ghê tởm nhất.

Giacôbê della Chiusa, một trong số những người âm mưu chống lại những hoạt động của thánh Phêrô, thường hay khoe khoang rằng ông ta đã tốn một ngàn đồng tiền Lia (tiền Ý) cho cuộc mưu sát Ranieri Sacconi Piacenza là người thẩm tra tại Pavia lúc đó. Nhưng sau cuộc tử đạo của Phêrô Vêrôna, con người độc ác này đã từ bỏ tính khoe khoang khoác lác của mình. Ông không được may mắn để theo mẫu gương của những người bước theo niềm tin và gia nhập vào Giáo hội. Ông chỉ nhằm thoát mạng lưới công lý của người đời, vì thế chính ông đã tự nguyện rời bỏ quê hương và sống quãng đời còn lại với một cuộc sống không hạnh phúc trong cảnh tối tăm.

Vì sợ nếu không trừng trị đích đáng, tội ác sẽ trở nên nghiêm trọng hơn trong tương lai, nên Đức Giáo hoàng Innocent IV ban hành những qui định nghiêm khắc. Theo đó, người ta mở một cuộc truy xét kĩ lưỡng đối với tất cả những ai đã nhúng tay vào cuộc thảm sát cha Phêrô. Đồng thời, Đức Giáo hoàng gởi một tông thư cho Tổng hội của Dòng Anh Em Giảng Thuyết, vì lúc bấy giờ Tổng hội đang họp ở Bologna vào tháng 5 năm 1252. Trong văn kiện này, Đức Giáo hoàng tuyên dương lòng nhiệt thành, sự can đảm, niềm tin sâu sắc và những phẩm hạnh của cha Phêrô Vêrôna, người mới tử đạo; đồng thời ca tụng đức độ và lòng mộ đạo của cha Đa Minh người mà uống chung một chén với cha Phêrô.

Vì vậy, Đức Giáo hoàng tiến hành kêu gọi những thành viên của Dòng tiếp tục hăng say chống lại dị thuyết và những thế lực đen tối. Đức Giáo hoàng nhắc nhở các Tu sĩ Dòng Đa Minh rằng chính bậc sống của các vị làm chứng cho việc bảo vệ niềm tin. Người nói với các vị rằng trong một cuộc chiến, thay vì đau buồn với những người đã hạ gục các nạn nhân sáng giá, anh em không nên khao khát điều gì khác cho bằng giành được triều thiên tử đạo như các người đã làm, và đem lại niềm vui chiến thắng cho Giáo hội bằng cách đổ máu đào để làm chứng cho chân lý mà các người đã rao giảng.

Tiếp theo những lời nói đó Đức Giáo hoàng còn thêm một cử chỉ để an ủi Dòng về sự mất mát quá lớn của một người anh em. Chắc chắn rằng điều đó tạo cho các cha một sự hứng khởi mãnh liệt để tiếp bước theo gót của cha Phêrô Vêrôna. Một ủy ban được đưa ra để điều tra những phép lạ do vị tử đạo Phêrô Vêrôna thực hiện cả khi còn sống cũng như khi đã qua đời. Cuộc điều tra này khám phá Phép lạ nhiều hơn so với con số dành cho người. Vì thế, Đức Giáo hoàng Innocent IV quyết định không trì hoãn dù là một năm trước khi đặt tên cha Phêrô vào các sổ bộ các thánh. Lễ phong thánh diễn ra vào ngày 25 tháng 03 năm 1253, tại quảng trường trước Nhà thờ Đa Minh, ở Perugia. Vì vậy, ngày Lễ Truyền Tin là một ngày mà trước đây cha Phêrô sùng kính thì chính trong ngày đó cha lại được dân chúng tôn vinh trên bàn thờ. Đức Giáo hoàng đến Perugia vào dịp đó và được các giáo sĩ và nhiều Giám mục bao quanh.

Tuy nhiên, việc tôn kính thánh Phêrô Vêrôna được đặc biệt kính nhớ trong Dòng Anh Em Giảng Thuyết và trong Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ. Đó là trường hợp cá biệt ở Ý, là nơi người sinh ra, hoạt động và qua đời. Nhiều Nhà thờ, Nguyện đường và các Hiệp hội được thành lập để tôn vinh người.

Paul Morigia, trong tác phẩm Santuario di Milano, cho chúng ta biết về một Giáo đường được xây dựng tại chính Barlasina và được thánh hiến cho Thiên Chúa dưới danh xưng của người. Bàn thờ chính của Giáo đường đặt trên nơi vị thánh nhân chịu tử đạo và dùng chính máu mình viết những chữ đầu tiên trên trong Kinh Tin Kính các thánh Tông Đồ. Từ sử gia này, chúng ta còn được biết rằng thánh Charles Borromeo đã tỏ lộ sự sùng mộ sâu xa đối với người chiến sĩ đức tin này ít là một dịp khi người viếng thăm ngôi Giáo đường này, Tổng Giám mục Giáo phận Milan đã đi chân trần bước vào Giáo đường đó. Trong cuốn sách nhan đề De Felicitae Patavina, Angelo Portinari cho chúng ta biết, năm 1323, một Hiệp hội được thành lập ở Padua để tôn vinh thánh Phêrô tử đạo ; và mỗi năm và ngày đại lễ kính thánh nhân, một cuộc rước kiệu trọng thể được cử hành để tạ ơn việc chấm dứt xung đột trong thánh phố và khôi phục hòa bình nhờ sự ảnh hưởng của nhà giảng thuyết lừng danh này.

Những sự kiện như thế cho chúng ta thấy lòng sùng mộ đối với thánh Phêrô tử đạo sống mãi và sâu sắc như thế nào. Tầng lớp Giáo sĩ thuộc Tòa tra tôn giáo Tây Ban Nha sớm chọn làm thánh bổn mạng của mình. Theo lời thỉnh cầu của các vua Công giáo, Tòa Thánh đã phục hồi va củng cố lòng sùng mộ này vào năm 1633.

Người dân Ý đã bày tỏ tinh thần ganh đua để kiếm được các thánh tích của Phêrô, vừa để biến đổi những người lạc giáo, vừa giữ chúng trong việc tuyên xưng đức tin. Thí dụ, những vật kỷ niệm của vị thánh tử đạo được trưng bày tại Cesena, Corno, Piacenza, Vêrôna, Palermo (thuộc Sicily) và nhiều vùng khác của Ý. Có một số ở Pragua, mà hoàng đế Charles IV chiếm được tại Milan năm 1355 và hiến tặng cho Nhà thờ thuộc thủ đô Bohemia. Trong Nhà thờ Đaminh cổ kính, thuộc Tu viện thánh Giacôbê, ở Paris, hai ngón tay vẫn còn da của vị thánh này được trưng bày vì lòng sùng mộ của tín hữu.

Thi thể thánh tử đạo vẫn được gìn giữ và được tôn kính trong Nguyện đường thánh Eustorgio tráng lệ ở Milan.(50) Các hoàng thân, quý tộc của nước Pháp, Đức, Anh và Ý (đặc biệt là Tổng Giám mục Giáo phận Milan) theo gương vua và nữ hoàng đảo quốc Cyprus dâng những tặng phẩm quý giá để xây cất thành một cái đền cho nơi cất giữ các thánh tích của thánh Phêrô. Cứ mỗi lần cải táng (1253, 1340, 1651 và 1736) thì nhiều phép lạ đã xảy ra. Tuy nhiên chúng tôi không cố gắng tường thuật chi tiết những phép lạ này ở đây. Tương tự, chúng tôi cố gắng không tường thuật về những điều này trong sắc chỉ phong thánh của người. Đủ để nói được rằng, trong bộ tác phẩm «Hạnh các thánh » (Acta Sanctorum), tập thứ ba dành cho tháng 4, khi đề cập đến thánh tử đạo Phêrô đã trình bày bảng liệt kê dài về những việc làm kỳ lạ mà người đã thực hiện.

Có lẽ vì lời tiên báo của vị thánh tử đạo chúng ta, tiên báo sự thất bại và mức độ phong nhiêu của nhóm Manikê đối với Giáo hội Công giáo, đã phổ biến một phong tục ở Ý là làm phép những cành hay những nhánh nhỏ của các cây vào ngày lễ kính của người và rải khắp cánh đồng để ban phúc cho vụ mùa. Dù thế nào đi nữa, phong tục đó vẫn duy trì. Trong tác phẩm « Istoria Ecclesiastica Di Piacenza, Pietro Maria Campi nói rằng phong tục làm phép lá và cành ô liu vào ngày lễ kính thánh Phêrô tử đạo bắt nguồn từ chính thành phố Piacenza, và từ đó phổ biến khắp Ý ; sau này, nó trở nên thông lệ ở nhiều nơi thuộc Giáo hội Công giáo.

Thánh Tôma Aquinô, thánh tiến sĩ Thiên Thần, là người sùng mộ nhiệt thành thánh Phêrô Vêrôna. Năm 1263, người đã viếng thăm mộ phần của thánh tử đạo. Trong khi tại Tu viện thánh Eustorgio, nhà thần học lừng danh và là thi sĩ đã làm đoạn thơ sau đây trong bài tán dương về vận động viên can trường của đức tin, đoạn thơ này sau đó được khắc trên đá cẩm thạch và đặt gần mộ phần của thánh tử đạo :

Nơi đây, người loan báo của Đức Kitô đã yên lặng
Nơi đây, ánh sáng con người đã lịm tắt
Nơi đây, triều thiên tử đạo đã ngã ngục
Người chiến đấu niềm tin thanh khiết.

Tiếng con chiên hân hoan khi được nghe
Ánh sáng thân thương khi được nhìn thấy
Giờ  đây đã ngã gục dưới khí giới
Của kẻ dị giáo.

Đấng Cứu Tinh trao vương miện vị Chiến Sĩ
Khắp dân tộc hát thánh vịnh ca tụng Người
Vì người lấy Niềm tin tô điểm mình
Bằng thiên tuế tử đạo không phai nhòa.

Tôn vinh kỳ công người làm ra
Loan truyền ánh sáng người chiếu giãi
Muôn dân khắp thành đều thực thi
Vì người dõi theo đường lối Chúa.

___________

Ghi chú:

* Xem thêm : John Paul II, Messasge to Cardinal Carlo Maria Martini for the 750th Anniversary of the Martyrdom of St Peter Martyr (25 March 2002), http://www.vatican.va/holy_ father/john_Paul_ii/speeches/2002/april/documents/hf_jp-ii_spe_20020411_message-card-martini_en.html.

3Alberti, Leander, O.P.,and he likelh read Alberti’s Istoria di Bologna, De Viribus Illustribus Ordinis Praedicatorum, and Descrittione di Tutta Italia; Baillet, Adrian, Les Vies Des Saint; Flaminio, John Anthony, Vita Beati Petri Martyris; Fleury, Claud, Histoire Ecclsiastique; Malvenda, Thomas, O.P., Annalium Ordinis Prdedicatorum Centuria Prima; Pio, Michael, O.P., Delle Vite Degli Huomini Illustri del Ordine di San Domenico.

4Bullarium Ordinis Fratrum Praedicatorum,I, 192; Fleury,op.cit., XV11, 470 (Book 83, No. 30); Raynaldi, Oderic, Annales Ecclesiastici, Anno 1251.

 

Trích từ Victor F. O’ Daniel, Những môn đệ tiên khởi của thánh Đa Minh, tập I, Học viện Đa Minh, 2011 trang 9 – 42

 

 

 

Comments are closed.