Những môn đệ tiên khởi của Thánh Đa Minh : Chân phước Ceslas Odrowaz

0

CHÂN PHƯỚC CESLAS ODROWAZ 1 

Cha Abraham Bzowski, O.P. (có biệt danh theo tiếng Latinh là Bzovius) quê tại Ba Lan là một sứ giả uyên bác, đã cho chúng ta biết chân phước Ceslas là em của thánh Giaxintô như vừa mới đề cập đến trong bài trước. Mặc dù trong sắc phong thánh của Giaxintô chỉ nói Ceslas là người bà con thân thuộc (consanguineus – cùng huyết tộc), nhưng nhiều tác giả đáng tin cậy cũng có cùng ý kiến như cha Bzowski. Dẫu sao đi nữa, từ “cùng huyết tộc” trong chỉ dụ của Đức Giáo hoàng có thể là một sự sơ ý, hay là chuyện đó chỉ muốn nói rằng hai bên chỉ có quan hệ họ hàng với nhau mà thôi. Thực vậy, có ý kiến chung cho rằng chân phước Ceslas là em của Giaxintô, và là con thứ hai của ông bà Eustachius Odrowz. Nếu quan điểm này đúng, thì người sinh vào khoảng năm 1186 hay 1187.

Do đó vì mục đích ngắn gọn và vì tránh sự lặp lại không cần thiết, xin độc giả xem lại phần đầu bản tóm tắt của thánh Giaxintô. Thánh nhân và chân phước Ceslas nhất định thuộc cùng một gia đình. Như vậy, nếu chúng tôi kể lại nguồn gốc, gia tộc xã hội, tiểu sử của người ở đây thì chỉ lặp lại mà thôi.

Bất cứ những ai viết về Ba Lan và Bohemia dưới bất kỳ hình thức nào thì họ đều ca ngợi nhân đức, việc làm và các phép lạ của chân phước Ceslas. Tuy nhiên, nếu muốn viết chi tiết đầy đủ về cuộc đời, những lao công và sứ vụ truyền giáo của người tại các vùng đất phía Bắc, dù cho những điều này đã làm danh người nổi tiếng trên thế giới, thì quả là rất khó vì nguồn tài liệu quá ít. Một trong những lý do chính của việc thiếu tài liệu này là sự ác ý về tôn giáo. Ví dụ chúng ta biết rằng bản chép tay cổ xưa ghi lại chút ít sự nghiệp của chân phước này được lưu giữ tại Tu viện Đa Minh ở Breslau khoảng hơn 300 năm. Thật đáng tiếc khi những đồ đệ của Luther thắng thế ở Silesia, thì tài liệu quý giá này cũng như các tài liệu quý giá khác đã bị họ đốt hết.

Nhóm cải cách Tin lành này dường như vui thỏa trong việc phá hủy bất cứ thứ gì chống lại giáo lý của họ. Họ bày tỏ ước muốn hủy bỏ tất cả những ký ức về chân phước Ceslas. Không còn nghi ngờ gì nữa, nguyên nhân của thái độ này là khi còn sống, nhờ lòng nhiệt thành, đời sống thánh thiện và lời rao giảng của mình thánh nhân đã chiến đấu chống lại tội lỗi và sai lầm, đồng thời khi qua đời, những phép lạ của người đã ngăn cản mạnh mẽ những giáo lý mới mẻ của họ. Chính vì sự phá hủy man rợ đó, chúng ta không còn nguồn gốc nguyên thủy để viết về tiểu sử của người anh em giảng thuyết nổi tiếng này.

May mắn thay, những sử gia Ba Lan vào thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, đặc biệt là cha Bzowski (hay Bzovius) thu thập lại được những bản viết tay đầu tiên về thánh nhân và về công việc người làm. Họ cũng tìm kiếm ở Breslau, nơi đã diễn ra nhiều cuộc tìm kiếm, một vài bản thảo nhỏ viết bằng tay chưa bị kẻ thù dốt. Có hai nguồn khác nữa được lưu giữ tại thánh đường thánh Adalbert của Dòng tại Breslau, từ đó các tác giả có thể về Ceslas Odrowaz. Những bức tranh được khắc ghi trên bia mộ của người cũng miêu tả những sự kiện quan trọng trong cuộc đời của người. Chúng ta có thể cảm ơn Thiên Chúa vì những tài liệu nghệ thuật thánh này đã không bị phá hủy, mặc dù chúng không đầy đủ và không làm thỏa mãn, tuy nhiên chúng được coi như là những tài liệu lịch sử. Cha Bzowski (hay Bzovius) đã phác thảo một nét ngắn gọn về cuộc đời của vị chân phước này với những tài liệu mà ngài đã thâu thập được.

Giaxintô và Ceslas, vì là những con người chân thật của Thiên Chúa, nên họ kết hợp mật thiết với nhau bằng đức ái và lòng mến Chúa hơn là mối liên hệ huyết tộc. Họ được lãnh nhận sự giáo dục trong một môi trường như nhau. Ngay từ đầu, cả hai được chuẩn bị vào hàng giáo sĩ. Cả hai đã cùng học chung, làm việc chăm chỉ và luyện tập các nhân đức cũng như nhau và chỉ khác biệt nhau về tuổi tác.

Thiên Chúa đã quảng đại với người em không thua gì so với người anh qua việc Người phú ban cho Ceslas một thiên hướng về đời sống nhân đức. Giống như Giaxintô, Ceslas đã cho thấy điều này ngay từ hồi còn nhỏ. Đương nhiên song thân luôn săn sóc cả hai như nhau. Thực vậy, những câu chuyện về đời sống thời niên thiếu của hai đứa trẻ này hầu như giống hệt nhau.

Khi có trí khôn, Thiên Chúa đã dành cho Ceslas một vài dấu hiệu chắc chắn. Nhờ sự dạy dỗ ban đầu tại gia đình và nhờ ơn Chúa, nên Ceslas đã vượt qua tiến trình giáo dục Đại học tại Praha và Bologna, mà tâm hồn không bị hoen ố hay giảm đi khát vọng cao thượng. Người đã lãnh được bằng tiến sĩ giáo luật và thần học. Người không để cho những vinh quang hay địa vị xã hội của gia đình lấy đi lòng khiêm nhường.  Khi từ Ý trở về nhà, người tỏ ra là một con người từ tốn, ham thích cầu nguyện, và làm việc nghiêm túc như khi còn trẻ.

Vì những đức tính kể trên, có lẽ đúng hơn là vì những hiểu biết của người cho nên chân phước Vinh Sơn Kadlubek, lúc đó làm Giám mục Kraco’w, đã bổ nhiệm vị Linh mục trẻ tuổi này về Nhà thờ Chính tòa. Ít lâu sau người được bổ nhiệm làm kinh sĩ. Người đã làm gương cho rất nhiều người. Những điều này kết hợp với lòng nhiệt thành, chẳng bao lâu người đã được chọn làm Bề trên kinh sĩ đoàn tại Sandomir. Ở đó, người là một con người nhiệt thành nhất, đầy tràn ơn Thánh Linh nên người tiếp tục lối sống như vậy. Người cố gắng làm việc để đời sống tu trì thêm tốt và tỏ ra là cha của người nghèo. Vị thế của người cùng với gia sản vốn có khiến người có nhiều khả năng giúp đỡ người nghèo. Hơn thế nữa, vì muốn có nhiều tiền hơn, người hạn chế chỉ tiêu của mình, và tiết kiệm những gì mà người khác cho là cần thiết để giúp đỡ người nghèo. Người cũng quan tâm đến các công việc từ thiện khác nữa. Tóm lại, người là một Giáo sĩ gương mẫu.

Mặc dầu khắc khổ với chình mình, nhưng vị kinh sĩ trẻ này bao giờ cũng hòa nhã với người khác. Là một con nguòi rộng lượng, cha không bao giờ muốn lợi dụng vị thế chú của mình là Đức cha Ivo Odrowaz đang giữ chức trưởng ấn tại Ba Lan để làm lợi lộc cho riêng mình. Giả như người sử dụng uy thế này để tạo ảnh hưởng thì người cũng dùng nó để bảo vệ những người vô tội, để ngăn ngừa sự bất công, bảo vệ Giáo hội, hay trong cách thức nào đó để làm vinh danh Thiên Chúa. Vì thế, người ta nhìn người không những là một Linh mục gương mẫu mà còn làm nhiều việc tốt lành nữa. Người kết hợp sự khôn ngoan cùng với tài phán đoán của mình để phân xử công bằng. Hết mọi người đều lui tới để xin người hướng dẫn.

Nhờ đức tính và tài khéo của mình chứ không phải vì là “con ông cháu cha” mà Ceslas được chọn vào đoàn tùy tùng của Đức cha Ivo Odrowaz, chưởng ấn tại Ba Lan khi Đức cha được chọn làm Giám mục Kraców, và được chỉ định để tới Rôma. Câu chuyện về chuyến hành hương này đã được kể lại trong khảo luận của anh trai Ceslas là thánh Giaxintô, cho nên chúng tôi không nhắc lại ở đây. Vì thế, chỉ cần nói rằng người đọc có thể khó quên cách mà vị tân Giám mục của Kraców cùng đoàn tùy tùng của ông, và Đức cha Anrê von Guttenstein, Giám mục Praha tiếp xúc với thánh Đa Minh. Họ đã chứng kiến phép lạ về việc cha thánh làm cho bạn trẻ Napoleon Orsini sống lại như thế nào. Đồng thời họ đã cảm kích về Vị Sáng Lập Dòng Anh Em Giảng Thuyết như thế nào; cách mà hai vị Giám mục xin một vài Anh Em Giảng Thuyết tới địa phận của họ. Sau đó, xảy ra như dự định là Ceslas và những người bạn của mình gia nhập Dòng Đa Minh như thế nào. Đây là một điểm son của lịch sử.

Thánh Đa Minh được Đức Giáo hoàng Honorius III ban đặc quyền cho phép rút ngắn thời kỳ đào tạo Tập viện. Cha cũng có một tài năng kỳ diệu trong việc đào tạo, phát triển tài năng của những Anh Em Giảng Thuyết này. Cha đón nhận chân phước Ceslas và cả đoàn tùy tùng. Họ đã được thu nhận vào Dòng qua lời tuyên khấn sau vài tháng. Tuy nhiên, nhờ ân sùng Thiên Chúa, thời gian ngắn ngủi ấy cũng đủ để làm cho họ trở thành những con người chưa từng có để loan báo Tin mừng Chúa Kitô. Rất có thể nhân vật trong bức phác họa của chúng ta đây đã bắt đầu công việc này trước khi rời khỏi thành phố Rôma. Hẳn rằng người đã dấn thân cho sứ vụ này ở nhiều nơi trên chuyến hành trình phương Bắc, nhờ đó, chúng ta đã lần ra dấu vết của người, cả Giaxintô và những người khác nữa. Nhờ vậy, người đã cộng tác trong việc đào tạo tại các Tu viện Friesach, Carinthia, và ở Kraców.

Cha Herman người Đức đã ở lại làm Bề trên Tu viện Friesach. Ceslas và Henry Moravia vẫn còn lưu lại cùng với Giaxintô ở Ba Lan cho đến khi cộng đoàn Chúa Ba Ngôi được vững vàng. Sau đó họ rời Kracrów đi thiết lập Dòng ở Praha để khơi dậy đức tin ở Bohemia cũng như để giữ lời hứa của cha Đa Minh với Đức cha Von Guttenstein ở Roma một vài năm trước đó. Sự kiện này đã xảy ra vào năm 1222. Đức Hồng y Gregory Crescenzi, đặc sứ Tòa thánh ở Bohemia và Ba Lan, Giám mục Praha, và vua Ottokar của dòng họ Premysls đã chào đón hai người Anh Em Giảng Thuyết và đoàn tùy tùng của họ vòng tay rộng mở.

Thật thế, nhà vua rất hài lòng với việc giảng thuyết và đời sống gương mẫu của những nhà truyền giáo mới này, đến nỗi ông không những nồng nhiệt cổ vũ những nỗ lực của họ nhân danh tôn giáo mà còn trao cho họ một nhà thờ ở ngoại ô Praha, bên cạnh một Tu viện đủ lớn cho hàng trăm Tu sĩ mà ông đã bỏ tiền ra xây. Những anh em mới đến với Dòng, bị thu phục bởi đời sống của Ceslas và Henry đã nhanh chóng gia nhập đầy Tu viện. Về phía Ceslas, trong vai trò như một Bề trên, người đảm nhận trách nhiệm chính trong việc chuẩn bị và huấn luyện những người anh em này cho sứ vụ. Việc Tu viện tại Praha trở thành khuôn mẫu như là mẹ của các Tu viện khác cho thấy người đã thành công như thế nào. Dù ở Bohemia hay bất cứ chỗ nào khác, các Tu viện mới thiết lập đều bắt chước kiểu mẫu của Tu viện mẹ này.

Chân phước Ceslas Odrowas đã không do dự về việc thu nhận và trao tu phục cho các giáo sĩ hay giáo dân, những người trẻ tuổi hay những người có phần đứng tuổi, miễn là người nhận thấy đó là tiếng gọi từ Thiên Chúa. Những ai đã là linh mục hay ứng viên linh mục, người nhanh chóng cho gia nhập vào sứ vụ tông đồ giảng thuyết với mình. Công việc cứu độ các linh hồn lan rộng cùng với con số các anh em tu sĩ không ngừng gia tăng. Những nỗ lực của người và thành quả từ những nỗ lực ấy ở Praha và Bohemia là một bản đối chiếu với những gì Giaxintô đã làm ở Kraców và Ba Lan. Trong năm năm, Tu viện ở ngoại thành đã trở nên quá nhỏ bé không đủ chỗ chứa để đáp ứng cho những ai muốn tìm kiếm ơn gọi tu trì theo chuẩn mực của thánh Đa Minh và dưới sự hướng dẫn của chân phước Ceslas.

Vua Ottakar I một lần nữa đã hào hiệp hỗ trợ cho Ceslas. Nhà vua này không chỉ ban cho người ngôi thánh đường thánh Clement tử đạo trong thành phố, vốn được xây dựng bởi Wladislaw (hay Wratislaw), người cai trị Bohemia trước đây; mà hơn thế nữa, ông giao lại cho người anh em giảng thuyết nổi tiếng này một miếng đất lớn hơn miếng đất đầu tiên bên ngoài phạm vi thành phố. Một thánh đường lớn đã được xây dựng trên miếng đất này. Vua Ottokar cũng đã xây dựng thêm một Tu viện rộng rãi hơn so với Tu viện trước của các cha. Cho nên vào năm 1227, chân phước Ceslas đã chuyển cộng đoàn của người gồm một trăm anh em và hai mươi sáu người đã chịu chức linh mục đến đây. Wenceslas I là thái tử và là người kế vị vua Ottokar dường như cũng không thua kém cha mình trong việc làm bạn hữu với vị đặc sứ Chúa Kitô và với các anh em của người. Cha Bzovius đã diễn tả về những ân lộc phong phú của cả hai vị vua và những nhà quý tộc dành cho việc trang hoàng ngôi thánh đường thánh Clement, cũng như cho biết họ đã chu cấp những nhu cầu thiết yếu như thế nào cho những nghi lễ.

Trong khi đó Đức cha Von Guttenstein, người mà thánh Giaxintô đã gửi hai cha Ceslas và Henry đến Praha theo như lời yêu cầu của ông, đã qua đời vào ngày 30 tháng 7 năm 1224. Đấng kế vị là Peregrinus, nổi danh là người rất hào hiệp trong việc thiết lập Tu viện mới, đã bị thu hút  bởi đời sống của vị chân phước và cộng đoàn của người đến nỗi ít lâu sau khi làm Giám mục đã nài xin Đức Giáo hoàng Honorius III chấp thuận cho ông từ chức và cho phép ông được trở thành một Tu sĩ Giảng Thuyết. Người bạn chân thành của Dòng là Đức Giáo hoàng Honorius đã không bao giờ từ chối bất cứ điều gì mà ngài nhận thấy sẽ có ích lợi cho Dòng. Vì thế, với sự chấp thuận của Đức Giáo hoàng, Giám mục Peregrinus đã lãnh nhận tu phục Dòng Đa Minh. Và bộ tu phục mà ông đã mặc suốt mười lăm năm và đã gây cảm phục cho nhiều người, cho nên nhiều người trong hội kinh sĩ đã đi theo mẫu gương của ngài.

Chúng ta cũng không quên cha Adrian, người đã từng coi sóc nhà thờ thánh Clement ở Praha rất hiệu quả trong tư cách một Bề trên. Vì sự nhiệt thành, đời sống thanh khiết và tài hùng biện của cha mà chân phước Ceslas (hẳn nhiên là trong tư cách của một Giám tỉnh hay người đại diện cho thánh Giaxintô) đã cử cha đến Bosnia để thiết lập Dòng ở đó. Không có một phần đất Đông Âu nào mà thấm máu của các Anh Em Đa Minh nhiều như vậy. Ở Bosnia, cha Adrian và hai mươi sáu người trong số các anh em cùng làm việc với chân phước Ceslas cùng một lúc đã lãnh nhận triều thiên tử đạo từ những nhóm người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ.

Bây giờ chúng ta đến với một sự kiện khác cho thấy nhân vật của bức phác họa này đã hấp thụ sâu sắc thế nào tinh thần và tư tưởng của Đấng sáng lập Dòng. Thánh Đa Minh như sẽ được nhắc lại rằng cha đã thực sự bắt đầu sứ vụ nền tảng của mình qua việc thiết lập Tu viện nữ ở miền Prouille nước Pháp. Ở Praha, nhiều phụ nữ đạo đức ước mong giao phó đời họ dưới sự linh hướng của chân phước Ceslas. Để đáp ứng nguyện vọng này, người đã cho xây dựng một Tu viện và đào tạo họ trong một cộng đoàn vốn được xem là nổi tiếng với những bà góa và quả phụ dâng mình cho việc phục vụ Thiên Chúa trong bốn bức tường Tu viện. Tu viện cũng nổi tiếng vì số đông các chị em cũng như đời sống thánh thiện của họ. Sau khi Ceslas qua đời, Margaret ái nữ của Quận công Leopold nước Áo, là một quả phụ, phu nhân của vua Henry người Rôma, đã đến nương ẩn những ngày đời còn lại ở đó. Với sự khiêm nhường, bà nhất định xin được làm trợ sĩ.

Khi người Anh Em Giảng Thuyết nhiệt thành này thấy rằng mình không còn cần thiết tại Praha, người đã rời khỏi thành phố này và Bohemia để đi đến với những người mà mình đã huấn luyện trong sứ vụ tông đồ và trở lại quê hương. Tại Breslau, thủ đô của Silesia, Đức cha Lawrence Doliveta và hàng giáo sĩ cùng các quan chức thành phố và mọi người dân đã chào đón vị đặc sứ của Chúa Kitô, người mà tên tuổi đã trở nên thân thuộc. Điều này chưa phải là tất cả song cả Đức Giám mục và các gíao sĩ đã làm gương cho giáo dân bằng cách thường xuyên đến nghe Ceslas giảng.

Để Giáo hội có thể tiếp tục tận hưởng hoa quả của những người lao công như thế, Đức Giám mục Doliveta đã trao tặng cho chân phước Ceslas ngôi nhà thờ thánh Adalbert. Sát bên ngôi thánh đường này, người ta đã xây dựng một Tu viện. Ở đây, cũng như những gì đã làm ở Praha, con người thánh thiện này đã không chậm trễ việc quy tụ nhân sự và chuẩn bị cho họ sứ vụ cứu độ các linh hồn. Nhiều người đã mau chóng trao phó cuộc đời mình dưới sự hướng dẫn của người. Ban ngày, người giảng dạy cho công chúng. Ban đêm, người dành trọn thời gian cho việc cầu nguyện trước bí tích Thánh Thể. Tu viện thánh Adalbert được mọi người xem như là ngôi nhà của những người công chính và thật sự là nguồn cảm hóa thế giới.

Trong suốt mọi hoạt tông đồ, Thiên Chúa đã ban cho vị chân phước của chúng ta quyền năng làm những phép lạ. Người đã dùng quyền năng này để mở rộng vinh quang Thiên Chúa, cho điều thiện hảo của tôn giáo, và cho sự đối thoại với những người tội lỗi cũng như những người chưa tin. Ai ai cũng tin thác vào lời cầu nguyện của người bởi vì họ chưa tin rằng Thiên Chúa sẽ làm bất cứ điều gì người xin. Tại Breslau, người nhận được ơn tiên tri. Đã hơn một lần người tiên báo sự trừng phạt từ trời để sửa trị những tội ác của con người. Trong bải giảng, người thường báo trước tai họa không thể tả xiết xảy ra trên miền đất này vì người Tartar. Người cũng thường nói với  Quận công Henry II miền Silesia, con trai của Henry I và bà thánh Hedwige về tai họa sắp xảy ra này. Luôn tiện, chúng ta nên thêm rằng những lời linh hướng mà người hướng dẫn đã giúp ích cho bà rất nhiều trong đời sống thánh thiện và kết quả là bà đã được phong thánh.

Theo thói quen, khi Ceslas đã huấn luyện các anh em trẻ một cách đầy đủ cho công việc tông đồ thì người giao phó công việc gần nhà cho họ, và mở rộng hoạt động của mình ra xa hơn nữa. Cứ thế, người đi qua các miền Moravia, Saxony, Prussia và Pomerania theo mọi hướng. Người giảng thuyết và đã mang lại nhiều hiệu quả. Một trong những thử thách lớn của người là làm dịu đi cá tính hung hăng của những người dường như được sinh ra cho chiến tranh. Những cuộc chinh chiến đã chiếm hết đầu óc, tư tưởng và cuộc đời của họ. nên họ chẳng có đạo nghĩa gì. Điều này cũng đưa đến mọi hình thức vô luân. Người anh em giảng thuyết của chúng ta đã dạy cho họ làm thế nào có thể hòa hợp nghề nghiệp của mình với việc thực hành nhân đức nhờ việc giữ vững đời sống tôn giáo theo chuẩn mực Kitô giáo.

Thử hỏi xem liệu với tất cả sự thánh thiện lạ thường, sự nhiệt thành nồng cháy và tài hùng biện lạm mê mẩn mọi người của Ceslas, nếu như Thiên Chúa không ban cho người quyền năng và các phép lạ, thì vị sứ giả của Chúa Kitô này có thể gặt hái được những thành quả như vậy hay không. Khi tham cứu đến lịch sử của nhà truyền giáo này, cha Bzowski cho chúng ta biết rằng người chữa lành mọi kẻ ốm đau bệnh tật, cho kẻ điếc được nghe, người mù được sáng, kẻ câm nói được, dùng áo choàng của mình như con thuyền băng qua dòng sông chảy siết và hơn một lần cho kẻ chết sống lại. Trong số những điều kỳ diệu được đề cập ở trên, đặc biệt có việc liên quan đến đứa con trai duy nhất bị nạn chết đuối dưới dòng sông Oder. Niềm tin tưởng của người mẹ đau khổ vào những lời cầu nguyện của Ceslas đã đưa bà đến nài xin sự trợ giúp của người, và kết quả là con trai của bà đã được cứu sống.

Những kỳ công như thế rất tự nhiên như thế mang lại cho người tôi tớ trung thành của Thiên Chúa tiếng tăm xa gần. Nhờ những điều kỳ diệu ấy, nhiều người chưa tin đã gia nhập Giáo hội. Kẻ không tin cũng phải im miệng. Những người tội lỗi được hoán cải. Với người mộ đạo, họ nhận được những phép lạ kỳ diệu. Thật may mắn là trong cơn giận dữ của những người thường được gọi là những kẻ cải cách, họ đã thất bại trong việc phá hủy những bia đá và chữ viết trong nhà thờ thánh Adalbert ở Breslau, bởi vì họ chứng thực sự thật về tất cả những điều mà chúng ta đã kể lại.

Cũng như trong trường hợp của thánh Giaxintô, với chân phước Ceslas, nhiều cuộc hoán cải đã được thực hiện. Điều này cùng với sự nhiệt thành cho ơn cứu độ các linh hồn, người đã truyền cảm hứng cho các anh em được lãnh nhận tu phục trong Tu viện người đã xây cất. Tất cả đều góp phần làm rạng danh Thiên Chúa hơn là những phép lạ của người. Chúng ta chỉ đề cập đến những Tu viện ở Praha và Breslau, lần lượt là thủ đô của Bohemia và Silesia. Nhưng cha Bzowski đoan chắc với chúng ta rằng người đã xây cất nhiều Tu viện khác nữa và những Tu viện ấy luôn đầy ắp những tay thợ gặp tâm linh nhiệt thành. Những Tu viện này cùng với những Tu viện khác được thánh Giaxintô và các môn đệ của người xây dựng hồi đó, đã trở thành Tỉnh Dòng Ba Lan. Thánh Giaxintô chắc chắn là vị Giám tỉnh tiên khởi của Tỉnh Dòng này. Tuy nhiên, Ceslas cũng điều hành Tỉnh Dòng này một thời gian trong cương vị Giám tỉnh. Sự ân cần ấy khơi lên lòng nhiệt thành hầu chiếm được các linh hồn cho Thiên Chúa cũng như làm lan tỏa vinh quang Người, là một đặc điểm rõ nét nơi chức vụ Giám tỉnh của người. Điều này đã mang lại thành quả tốt đẹp. Trong khi rất nhiệm nhặt với bản thân, người lại đối xử tử tế với những người dưới quyền. Người đã đặt ra một nguyên tắc “khuôn vàng thước ngọc” đó là không bao giờ ra một mệnh lệnh nào mà không nêu gương trước.

Giai đoạn trú ngụ ở Silesia của người anh em giảng thuyết vĩ đại này là điều mà các sư gia quan tâm chú ý hơn cả. Rất có thể là từ khía cạnh con người, đó là giai đoạn xem ra người được nổi danh hơn cả cũng như là để nhớ mãi tên tuổi của người. Dù nhìn dưới khía cạnh nào đi nữa, dường như đây là một sự quan phòng của Thiên Chúa; và sự giải cứu của người đối với thành phố Breslau khỏi bị phá hủy hoàn toàn, là sứ vụ cuối cùng của người.

Những người Tartar đã ngắm nghía một thời gian dài thứ quyền lực bá chủ cho chủng tộc của họ. Để đạt được mục tiêu đó, họ đã tích lũy một đội quân khổng lồ. Cùng lúc ấy, khoảng năm trăm ngàn người của họ đã bắt đầu tiến về phía Tây, với ý định tàn phá Châu Âu. Trong khi đó một lực lượng tương tự như thế đã tuyên chiến ở phía Đông và đang chinh phạt vương triều Trung Hoa. Những bộ lạc du mục này đã băng qua Dnieper vào năm 1240. Họ tràn qua nước Nga, Bulgari, Slovania, Ba Lan, Hungari và nhiều quốc gia khác. Ở mọi nơi họ đánh bại những ai chống lại và để lại sự hoang tàn khủng khiếp cho những nơi đó. Câu chuyện này là một trong những chương buồn nhất của thế giới. Vào năm 1241, người con trai hào hiệp của bà thánh Hedwige là Quận công Henry II đã thất trận ở Wahlsalt, sau khi đội quân dũng cảm của Ba Lan dưới sự chỉ huy của ông bị đánh tan tác.

Sau đó, đội quân man di Á Châu như một cơn lũ đã quét qua vùng Silesia. Một trong những nguyên tắc của chúng là phải cố gắng tàn sát tất cả không thương tiếc một ai, bất cứ mọi phái tính và lứa tuổi. Ai càng kháng cự, bọn chúng tỏ ra càng hung bạo hơn. Có lẽ Henry điều hành cuộc kháng cự này và những lực lượng Ba Lan của ông đã dám đương đầu với bọn tàn ác dã man này. Dù sao đi nữa Silesia cũng bị hao tổn. Các thành phố chỉ còn là đống tro tàn hay sự đổ nát. Các nhà thờ bị cướp phá, mạo phạm và đốt cháy. Mọi đàn ông, đàn bà và trẻ em đều bị chết vì gươm. Lãnh địa của công tước rơi vào một tình trạng rối loạn của sự lộn xộn, u buồn, khổ đau và tuyệt vọng.

Có lẽ khoảng 14 năm trước, Ceslas đã tiên báo một tai họa như thế. Người nói với họ chỉ tiết điều người dân sẽ phải chuẩn bị đón nhận tai họa này, hoặc muốn tránh khỏi nó bằng cách thế là phải sống Kitô giáo. Như tai họa của ngôn sứ Giêrêmia trong trường hợp ở Giêrusalem, khi cơn nguy này gần kề thì lời cảnh báo của người càng trở nên mạnh mẽ hơn. Chắc chắn rằng, khi cuộc tấn công ồ ạt này đến biên giới quốc gia, nhiều người đến giao hòa với Thiên Chúa vì nỗi sợ hãi gây ảnh hưởng làm điều tốt hơn là vì tình yêu.

Khi kẻ thù hung hăng ngày càng đến gần thì xem ra không có quyền lực nào của con người có thể kháng cự nổi. Điều đó đã gây nên nỗi khiếp đảm chung cho mọi người. Vì thế, các công dân Breslau phải chạy nhanh vào thành. Khi vào thành, họ mang theo những tài sản vô giá của mình. Những đồ dùng không thể mang được thì họ chất thành đống và đốt đi vì sợ rằng tất cả những đồ đạc đó sẽ rơi vào tay những bọn người man di. Những tài sản quý giá của thành phố Silesia đã khiến cho những người Tartar ao ước muốn chiếm đoạt. Tuy nhiên, khi quân địch đột ngột vào thành phố này và chỉ nhìn thấy những đống tro tàn đang cháy âm ỉ, điều ấy đã càng làm cho cơn giận của họ nổi lên không thể tả. Bất cứ ai mà chúng gặp ở ngoài thành thì đều bị giết không thương tiếc.

Khi đã cướp bóc mọi thứ, những kẻ xâm chiếm ấy đã tập trung tấn công thành này bằng mọi cách. Cuộc tấn công này càng gia tăng dữ dội. Dường như các Kitô hữu bị bao vây chẳng có niềm hy vọng hay cơ hội nào để thoát khỏi. Một khi thành trì của họ đã bị xâm chiếm thì điều tốt nhất mà họ có thể mong đợi kẻ thù nhẫn tâm này là được chết vì gươm. Trong những hoàn cảnh khó khăn như vậy, phương cách cuối cùng là người dân đã tìm kiếm sự bảo vệ bằng những lời cầu nguyện khấn nài với vị chân phước Ceslas Odrowa là người đang ở giữa họ. Và Celas đã cầu xin Thiên Chúa thay cho những người đồng hương của mình.

Được vây quanh bởi các anh em của mình, vị Tu sĩ Giảng thuyết thánh thiện này đã dâng thánh lễ nhằm dâng chính mình cho Thiên Chúa như là một sự hy sinh cho thành phố này. Sau đó người xuất hiện trên những thành lũy vừa khi quân Mông Cổ trèo lên những bức tường thành. Bất thình lình, một tia sáng như là một quả cầu lửa lao xuống từ trên và bay lượn trên đầu người. Từ đó, nó phóng ra những tia lửa vào những hàng quân thù địch này làm cho chúng phải sợ hãi kinh hoàng khủng khiếp. Nhiều quân lính bị thiêu hủy bởi tia sáng này. Còn những người khác, mặc dù đã lật đổ vô số các ngai vua và giẫm nát các đoàn quân dưới chân đã bỏ chạy tán loạn.

Nhiều người Tartar bỏ chốn đã bị bắt làm tù nhân. Lời chứng mà các tù nhân đã cung cấp cho chúng ta biết liên quan đến sự kiện này, vẫn được giữ lại trong các bản ghi chép ở Breslau. Martin Kromer – Giám mục Heisberg (hoặc Ermland) và Gioan Dlugosz, hay Loginus – Tổng Giám mục Lemberg, cả hai đều là những sữ gia Ba Lan nổi tiếng, và các tác giả Công giáo khác nói về sự kiện này như là một sự che chở nhẫn tiền của Thiên Chúa và nó như là một lời chứng xác đáng về sự thánh thiện của chân phước Ceslas. Ngay cả Joachim Curaus, một sử gia Tin lành, cũng tin vào sự thật này và đã đề cập trong tác phẩm “Annales Silesiae” của ông. Đáng tiếc là vì thành kiến của mình, ông đã bỏ qua danh tánh Ceslas và nói bóng gió rằng sự trợ giúp siêu nhiên này được thực hiện là nhờ những lời cầu nguyện của một số người Tin lành ở giữa những người bị vây hãm, mặc dầu giáo phái của họ chỉ ra đời khoảng 300 năm sau đó. Lý luận của Curaus thì cực kỳ vô lý khi cho rằng bà thánh Hedwige là một người theo phái Tin lành. Bà đã chết hai thế kỷ rưỡi, thiếu đúng một thập kỷ, trước khi Martin Luther chào đời. Ở hai vần đề này, Curaus là một trường hợp rõ nhất về lòng nhiệt thành đã bị lầm đường lạc lối.

Trong biên niên sử của Tu viện thánh Adalbert ở Breslau chúng ta tìm thấy một lời phát biểu khác đáng quan tâm nhất đối với các sử gia và các độc giả sách thiêng liêng. Nhiều người trong số những người Tartar Mông cổ đã bị bắt làm tù nhân trong trận đánh ở Breslau, họ đã chịu ảnh hưởng bởi phép lạ từ lời cầu nguyện của Ceslas. Và dĩ nhiên họ đã trở thành những tín hữu Công giáo rất tốt. Chân phước Ceslas đã đón nhận một số người trong số họ vào Dòng. Về sau những người này cùng với những Tu sĩ Giảng Thuyết khác đã nỗ lực hết mình để đưa những người đồng hương của họ và Giáo hội. Tuy nhiên, vị thánh này không còn sống để chứng kiến sự cải hóa, lòng nhiệt thành của những con người man di ngông cuồng nhất này.

Vị đặc sứ thánh thiện của Chúa Kitô đã trút linh hồn trong tay Chúa trong một Tu viện tại Breslau vào ngày 15 hoặc ngày 16 tháng 07 năm 1242. Vào ngày trước khi qua đời Ceslas đã linh cảm trước điều ấy nên người đã gọi anh em ở cộng đoàn Breslau đến bên cạnh mình và nói với họ rằng người sẽ từ biệt họ vào ngày hôm sau. Với những cảm xúc vui mừng và lòng biết ơn vì những ân huệ đã được Thiên Chúa ban cho mình, người nói với các anh em về ơn gọi của họ, về những bổn phận, nghĩa vụ mà ơn gọi này đòi hỏi. Ơn gọi của họ là do Thiên Chúa ban tặng, cho nên nếu họ bền chí đến cùng thì sẽ sống hạnh phúc. Ceslas đã để lại cho họ tinh thần mà chính người đã hấp thụ từ thánh Đa Minh. Người khẩn khoản yêu cầu họ tiếp tục nỗ lực cứu giúp các linh hồn và hăng say chuẩn bị những người khác tiếp tục công trình này.

Món nợ biết ơn của các công dân Breslau và Silesia với chân phước Ceslas thì quá lớn đến nỗi họ không thể quên được. Lòng tin tưởng của họ vào những lời cầu nguyện của người cũng nói lên điều họ. Trong mọi lúc ốm đau, buồn sầu, thử thách và phiền muộn, họ đã trông cậy vào sự chuyển cầu của người trước ngai tòa Thiên Chúa. Bức tranh của người đã được trưng bày để các tín hữu tôn kính. Ở Praha và Bohemia, các tín hữu hầu như đều sùng kính người. Thực vậy, người đã làm nhiều phép la khác nhau ở ngay mộ phần của mình hay những nơi khác. Dĩ nhiên các tín hữu Công giáo đã kẻ rất nhiều những đặc ân mà họ đã lãnh nhận được nhờ lời chuyển cầu người. Nhiều người ngoại đạo cũng cần đến cầu xin sự giúp đỡ của người và những lời cầu xin của họ đã được đáp lời. Điều này họ đã thú nhận với những người bạn có đạo nhưng họ lại cảm thấy e ngại hoặc xấu hổ để nói về điều đó trước những người ngoài Giáo hội. Cha Bzowski khẳng định với chúng ta rằng chính cha đích thân được biết một số những trường hợp như thế. Lý do tại sao họ không trở lại luôn luôn còn là một trong những mầu nhiệm khó hiểu mà chỉ có Thiên Chúa mới biết.

Ở khắp Ba Lan, nhưng đặc biệt ở Silesia, chân phước Ceslas được sùng kính nhiều nhất. Vào năm 1330, Đức cha Nanker von Oxa, Giám mục Breslau đã cho xây cất một nguyện đường tráng lệ để tôn kính người trong nhà thờ thánh Adalbert, nhà thờ của các Tu sĩ Dòng Giảng Thuyết. Sau đó, Đức cha chủ tọa buổi lễ chuyển dời di hài của người một cách trang trọng, trong đó có sự tham dự của nhiều đám đông không chỉ ở thành phố này mà còn nhiều người đến từ Silessia. Sự kiện này đã mang lại nhiều niềm vui lớn. Lòng mến dành cho chân phước Ceslas đã gây ảnh hưởng chống lại việc du nhập những giáo lý của phái Tin lành ở Silesia. Vì lý do này, các anh em Tin lành đã tìm mọi cách để xóa bỏ lòng sùng kính của người dân dành cho người. Mặc dù đã nỗ lực rất nhiều, nhưng họ vẫn không thể ngăn cản, thậm chí phá hủy lòng sùng kính mà người dân dành cho người hay ngắn cản dân chúng đến xin người cầu thay nguyện giúp cho ho trước ngai tòa Thiên Chúa.

Việc phong chân phước cho con người thánh thiện này đã được đệ trình lên Rôma nhiều lần. Cuối cùng, Thánh bộ Phụng tự, sau cuộc điều tra cẩn thận nhất về các nhân đức anh hùng và các phép lạ kỳ diệu của Ceslas đã phê chuẩn  việc sùng kính người. Có lẽ tính cách phi thường của những việc kỳ diệu đã được quy cho người là một phần nguyên do của sự trì hoãn này. Ngày 18 tháng 10 năm 1713, Đức Giáo hoàng Clement II đã ký sắc lệnh công bố người là một chân phước. Sau đó, ngày 18 tháng 07 được chọn là ngày lễ kính người, và được áp dụng cho các Giáo phận của Breslau, cũng như cho Dòng Anh Em Giảng Thuyết trên toàn thế giới. Các ân xá được ban cho các tín hữu đến viếng thăm nhà thờ thánh Đa Minh và dâng những lời cầu nguyện theo ý Đức Giáo hoàng vào ngày lễ này. Trong việc sắp xếp lại những ngày lễ theo sách phụng vụ Dòng Đa Minh, dưới sự hướng dẫn của Đức Biển Đức XV, để cho ngày lễ này phù hợp hơn nữa với những người theo lịch Rôma, thì ngày 17 tháng 07 đã được ấn định là ngày lễ kính chân phước Ceslas.

———

Ghi chú:

1 Acta Sanctorum, XXXI (vol, IV for August), 182 ff; Alberti, fol. 175; Bzovius, Anmales Ecclesiastici, XIII, col. 307 ff, and 497, and Vita Beati Ceslai; Flavigny, Comtesse de, Saint Giaxintôe et Ses Compagnons; Malvenda, 216, 410, 434, 647, and passim; Mamachi, 580; Marchese, 95 ff; Pio, col. 43-44.

Trích từ Victor F. O’ Daniel, Những môn đệ tiên khởi của thánh Đa Minh, tập I Học viện Đa Minh. 2011, tr. 204 – 220.

 

 

 

 

 

 

 

 

Comments are closed.