Toàn văn họp báo trên máy bay của Đức Thánh Cha trên chuyến bay trở về từ các quốc gia vùng Baltic

0

Toàn văn họp báo trên máy bay của Đức Thánh Cha trên chuyến bay trở về từ các quốc gia vùng Baltic


Đối thoại với các phóng viên trên chuyến bay từ Estonia về Roma

ZENIT STAFF

Trong chuyến bay ngày 25 tháng Chín, 2018, từ Tallinn, Estonia, trở về Roma, kết thúc chuyến Tông du đến Lithuania, Latvia và Estonia (22-25 tháng Chín, 2018), Đức Thánh Cha Phanxico gặp gỡ các ký giả trên máy bay trong một cuộc họp báo, được ghi chép và dịch lại dưới đây. Ông Greg Burke, Giám đốc Văn phòng Báo chí Vatican, điều phối cuộc trao đổi.

* * *

Văn bản chính

Ông Greg Burke:

Xin chào (buổi tối) Đức Thánh Cha. Trước hết xin cảm ơn người. Ba quốc gia trong bốn ngày thật không dễ dàng chút nào, nó khá mệt … Một phần nào đó nó cũng hơi giống như bốn quốc gia trong bốn ngày, vì ngày đầu tiên là sự ngạc nhiên về Trung quốc, và chúng ta đã thực hiện điều này: chúng ta đến gần với Trung quốc. Chúng ta sẽ cố gắng xoay quanh chủ đề này — chúng ta đã nói về vấn đề này rất nhiều lần –, và nói về chuyến đi. Chắc chắn chúng ta sẽ bắt đầu với những ký giả của các quốc gia chủ nhà, nhưng trong cuộc họp báo, chúng ta sẽ tìm cách nói về chuyến đi đến các quốc gia vùng Baltic. Con không biết Đức Thánh Cha có muốn nói điều gì trước không.

ĐTC Phanxicô:

Trước hết, cảm ơn anh chị em vì công việc anh chị em đã làm, vì với anh chị em cũng vậy, ba quốc gia trong bốn ngày không hề dễ dàng. Nó rất mệt, đặc biệt là phải di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác. Tôi cảm ơn anh chị em rất nhiều vì sự phục vụ anh chị em mang đến cho mọi người về chuyến đi này, nó là điều quan trọng nhất trong việc truyền thông của anh chị em: những gì diễn ra tại đây … Chuyến đi này có những điều rất thú vị, và tôi mong muốn có những câu hỏi liên quan đến vấn đề này.

Ông Greg Burke:

Xin cảm ơn người. Đầu tiên là Saulena Ziugzdaite, thuộc cơ quan Bernardinai.LT, của Lithuania:

Saulena Ziugzdaite:

Thưa Đức Thánh Cha, xin cảm ơn người về thời gian và toàn bộ chuyến đi này. Khi ở Vilnius người nói về linh hồn người Lithuania, người nói rằng chúng con phải là một cầu nối giữa Đông Phương và Tây Phương. Nhưng làm cầu nối không hề dễ dàng: nó phải thông qua những người khác. Một số người nói rằng thảm kịch là khi chúng ta đi trên cầu. Có thể một số người cho rằng: tốt hơn là trở thành một phần của Tây Phương cùng với những giá trị của nó. Ý định của người là gì — làm cầu nối có ý nghĩa như thế nào?

ĐTC Phanxicô:

Đúng vậy … Rõ ràng hiện nay các bạn xây dựng một phần, thuộc chính trị, theo Tây Phương, theo Liên minh Châu Âu, và các bạn đã cố gắng rất nhiều để có thể vào được Liên minh Châu Âu. Ngay sau khi có độc lập, các bạn đã thực hiện tất cả mọi sửa đổi, mà điều đó không dễ chút nào, và các bạn đã thành công trong việc gia nhập Liên minh Châu Âu, cụ thể là thuộc về Tây Phương. Các bạn cũng có những mối quan hệ với NOTO: các bạn thuộc về NATO, và điều này có nghĩa là thuộc Tây Phương. Nếu các bạn nhìn về Đông Phương, lịch sử các bạn ở đó — một lịch sử rất khắc nghiệt; một phần thảm kịch lịch sử của các bạn cũng từ Phương Tây mà đến, từ người Đức, người Ba lan, nhưng đặc biệt từ Đức Quốc xã, những điều này từ Phương Tây đến. Và, liên quan đến Đông Phương, từ đế quốc Nga.

Để xây dựng những cầu nối đòi phải có sức mạnh; sức mạnh không chỉ thuộc về Phương Tây, nó cho các bạn sức mạnh nhưng chỉ cho bản sắc riêng của các bạn. Tôi thấy là tình hình của các quốc gia vùng Baltic luôn nằm trong sự nguy hiểm, luôn luôn. Những lo sợ về sự xâm lăng … vì chính lịch sử nhắc các bạn điều này. Và anh rất đúng khi nói rằng điều này không hề dễ dàng, nhưng nó là một trò chơi mà chúng ta phải chơi mỗi ngày, bước này sang bước khác: bằng văn hóa, bằng đối thoại … Nhưng nó không dễ. Tôi tin rằng trách nhiệm của tất cả chúng ta là phải giúp các bạn trong vấn đề này. Còn hơn cả giúp các bạn, phải gần gũi với các bạn, và phải chân thành.

Ông Greg Burke:

Xin cảm ơn Đức Thánh Cha. Câu hỏi tiếp theo đến từ Gints Amolins, thuộc đài phát thanh Latvijas Radio (Latvia)

Gints Amolins:

Xin chúc Đức Thánh Cha ngày tốt lành. Ở các quốc gia Baltic, người thường đề cập đến tầm quan trọng của cội nguồn và bản sắc riêng. Ở Latvia và cả ở Lithuania và Estonia, có rất nhiều người đã ra đi tìm đến những quốc gia thịnh vượng hơn và nhiều người đã bỏ rơi cội nguồn của họ ở đâu đó. Rồi cũng có những vấn đề về nhân khẩu học, như ở Châu Âu nói chung, vì tỷ lệ sinh rất thấp. Như vậy, trong tình hình như hiện nay đất nước chúng con có thể, hoặc phải làm gì, những người lãnh đạo đất nước chúng con phải làm gì, và kể cả từng cá nhân mỗi người chúng con? Phải giải quyết vấn đề này như thế nào?

ĐTC Phanxicô: 

Ở quốc gia quê hương của tôi, tôi không biết người nào từ Estonia và Lativa, nhưng người nhập cư Lithuania thì rất nhiều. Có rất nhiều người ở Argentina. Và họ mang đến đó văn hóa của họ, lịch sử của họ và rất tự hào về nỗ lực hai chiều để hòa nhập vào quốc gia mới nhưng vẫn giữ được bản sắc riêng của họ. Trong những lễ hội của họ, có những trang phục truyền thống, những bài hát truyền thống và luôn luôn như vậy, mọi lúc họ có thể, họ đều trở về quê hương để thăm viếng … Tôi nghĩ rằng sự phấn đấu để giữ bản sắc riêng làm cho họ trở nên mạnh mẽ, và các bạn có được điều này: các bạn có một bản sắc riêng rất mạnh — một bản sắc được trui rèn trong sự đau khổ, trong sự bảo vệ, trong công việc, trong văn hóa.

Và phải làm gì để bảo vệ bản sắc riêng của một người? Phải nhờ đến nguồn cội, điều này rất quan trọng. Bản sắc riêng là một điều thuộc cổ xưa, nhưng nó phải được truyền đạt lại. Bản sắc riêng được lồng ghép vào tư cách thành viên của một dân tộc, và tư cách thành viên trong một dân tộc được truyền đạt lại. Những nguồn cội được truyền đạt lại cho các thế hệ mới, và điều này được thực hiện qua giáo dục và qua đối thoại, đặc biệt giữa người lớn tuổi và người trẻ. Và các bạn phải làm điều này vì bản sắc riêng của các bạn là một gia tài. Mỗi bản sắc riêng là một gia tài nhưng chỉ thuộc về một dân tộc. Đây là những gì tôi nghĩ trong đầu, tôi không biết đã trả lời được câu hỏi của anh chưa.

Ông Greg Burke:

Cảm ơn Đức Thánh Cha. Và bây giờ là Evelyn Kaldoja, từ nhật báo Postimees (Estonia)

Evelyn Kaldoja:

Xin cảm ơn. Con muốn đặt câu hỏi bằng tiếng Anh. Trong bài giảng hôm nay, cha nói rằng có một số người đang la ó và đe dọa sử dụng vũ trang và sử dụng quân đội v.v… và v.v… Cân nhắc đến vị trí chúng ta đang ở đây, trên cùng Quảng trường đó nơi NATO đã gửi quân đội đến để bảo vệ Estonia. Nhiều người nghĩ đến tình hình của các biên giới phía đông Châu Âu. Cha có lo lắng về những căng thẳng trong vùng đó và về người Công giáo trên cả hai phía của các biên giới Châu Âu không?

ĐTC Phanxicô:

Đe dọa vũ trang. Ngày nay, chi tiêu toàn cầu cho vũ trang thật kinh khủng. Tôi nghe nói rằng với tổng chi phí cho vũ trang trong một tháng thì đủ để cung cấp lương thực cho tất cả những người bị đói trên toàn thế giới trong suốt một năm. Tôi không biết điều này có đúng không, nhưng nó thật kinh khủng. Ngành công nghiệp, thương mại vũ trang, cũng là buôn lậu vũ trang là một trong những vấn đề tham nhũng lớn nhất. Và trước vấn đề này thì có cái luận lý về sự phòng ngự. Vua Đa-vít có thể thắng được chỉ bằng một nỏ bắn đá và năm viên đá, nhưng ngày nay chẳng có Đa-vít nào cả. Tôi nghĩ rằng để bảo vệ một đất nước, chúng ta cần một quân đội bảo vệ hợp lý và không gây hấn — hợp lý và không gây hấn. Bảo vệ theo cách này là phù hợp, và thậm chí nó là một điều vinh dự được bảo vệ quê hương như vậy. Vấn đề xảy ra khi nó gây hấn, không hợp lý, và những cuộc chiến tranh biên giới nổ ra. Chúng ta có quá nhiều ví dụ về những cuộc chiến tranh biên giới, không chỉ ở Châu Âu này, nhưng cả ở các Châu Lục khác: họ đánh nhau để giành quyền lực, để thuộc địa hóa một quốc gia. Theo tôi nghĩ, đây là câu trả lời cho câu hỏi của chị. Ngành công nghiệp vũ trang ngày nay thật đáng xấu hổ đứng trước một thế giới đang chết đói. Thứ hai, nó phù hợp, hợp lý khi có quân đội để bảo vệ các biên giới, vì điều này là vinh quang; vì phải có chìa khóa cho cửa của căn nhà — để bảo vệ.

Ông Greg Burke:

Cảm ơn Đức Thánh Cha. Câu hỏi tiếp theo của nhóm Đức: Stefanie Stahlhofen, thuộc cơ quan thông tấn Công giáo Đức CIC (Đức)

Stefanie Stahlhofen:

Thưa Đức Thánh Cha, trong buổi gặp gỡ đại kết tại Tallinn cha nói rằng trước những vụ bê bối về tình dục, giới trẻ không nhìn thấy một sự kết án cụ thể về phía Giáo hội Công giáo. Ở Đức, một câu hỏi tương tự nổi lên về các sự lạm dụng tình dục ngày nay và cách xử lý của Giáo hội như thế đối với nhiều trường hợp.

ĐTC Phanxicô:

Tôi sẽ nói về vấn đề này sau. Trước hết tôi sẽ trả lời những câu hỏi về chuyến đi. Đây là thông lệ. Tuy nhiên, nó sẽ là câu hỏi đầu tiên sau những câu hỏi về chuyến đi.

Ông Greg Burke:

Chúng ta nói về chuyến đi …

Một phóng viên từ đài Phát thanh Truyền hình Lithuania.

Edvardas Spokas:

Con sẽ nói bằng tiếng Anh. Trong cả ba quốc gia, cha đều trình bày đến vấn đề mở lòng: mở lòng đối với người di cư, mở lòng với người khác. Nhưng ví dụ ở Lithuania đã có một sự mâu thuẫn trong vụ một cô gái chào Đức Thánh Cha khi người hạ cánh, ngay trước máy bay; quả thật, cô gái này không có diện mạo người Lithuania. Cô ấy một phần giống người Ý, với làn da hơi sậm … Câu hỏi của con là: trong những quốc gia Baltic, có phải người ta chỉ muốn nghe những điều người ta thích nghe mà cha nói, hay họ lắng nghe những gì cha muốn nói với họ? Họ có lắng nghe thông điệp của cha về sự mở lòng không?

ĐTC Phanxicô:

Thông điệp về sự mở lòng đối với người nhập cư là rất phù hợp cho dân tộc của anh; không có những ngọn lửa theo chủ nghĩa dân túy mạnh ở đó, không có. Estonia và Latvia cũng có những người với tâm hồn rộng mở muốn hội nhập những người nhập cư, nhưng không nhiều, vì như vậy thì không thực hiện được, hội nhập họ với sự khôn ngoan thận trọng của chính phủ. Chúng tôi đã nói về vấn đề này với hai vị nguyên thủ nhà nước, và họ đụng chạm đến vấn đề, chứ không phải tôi. Và trong các bài diễn văn của các Tổng thống, anh thường nghe thấy các từ “lòng hiếu khách,” “mở lòng.” Điều này cho thấy với ý chí chung về biện pháp thì có thể thực hiện được, vì không gian, công việc, v.v… ; — điều này rất quan trọng — với biện pháp không là mối đe dọa chống lại bản sắc của một người. Đó là ba điều mà tôi hiểu về việc di cư của ở đây. Và điều này làm tôi xúc động: thận trọng và suy nghĩ kỹ về sự mở lòng. Tôi không biết anh có nghĩ khác không.

Edvardas Spokas:

Câu hỏi của con là sự đón nhận thông điệp của đức thánh cha như thế nào?

ĐTC Phanxicô:

Tôi tin là tốt, theo ý nghĩa tôi đã nói đến. Vì ngày nay vấn đề người di cư trên khắp thế giới là một vấn đề nghiêm trọng — và không phải chỉ là di cư ra nước ngoài, mà cả trong nước, trong các Châu lục; không dễ nghiên cứu được nó. Trong mỗi quốc gia, trong mỗi vị trí, trong mỗi nơi, nó có những ý nghĩa bao hàm khác.

Ông Greg Burke:

Cảm ơn Đức Thánh Cha. Chúng ta kết thúc những câu hỏi về chuyến đi.

ĐTC Phanxicô:

Rất tốt. Tôi muốn nói đôi điều về một số điểm của chuyến đi mà tôi đã sống những cảm xúc đặc biệt.

Sự thật về lịch sử của các bạn, về lịch sử của các quốc gia vùng Baltic: một lịch sử của những cuộc chiếm đóng, của những chế độ độc tài, của tội phạm, của những cuộc lưu đày … Khi tôi đến thăm Viện Bảo tàng ở Vilnius: “viện bảo tàng” là một cụm từ làm chúng ta nghĩ đến Louvre … Không phải. Nhà Bảo tàng đó trước đây là một nhà tù; nó là một nhà tù trong đó những người bị giam cầm, vì lý do chính trị hoặc tôn giáo, bị lấy đi mạng sống. Và tôi đã nhìn thấy những ô ngục giam giữ kích cỡ vừa bằng cái ghế ngồi này, trong đó tù nhân chỉ có thể đứng, những phòng tra tấn. Tôi đã nhìn thấy những phòng tra tấn, nơi mà trong thời tiết giá rét ở Lithuania, người ta bắt những tù nhân cởi hết quần áo và xối nước vào họ, và họ phải đứng ở đó giờ này sang giờ khác, nhằm bẻ gãy sức chịu đựng của họ. Rồi tôi vào trong phòng lớn, căn phòng hành hình rộng lớn. Các tù nhân bị đưa đến đó bằng vũ lực và bị giết chết, bằng một phát súng bắn vào sau gáy. Rồi xác của họ được một băng chuyền đưa ra một xe tải và quăng xác họ vào rừng. Người ta giết trên dưới 40 người một ngày. Cuối cùng, có đến gần 15.000 người bị giết. Đây là một phần lịch sử của Lithuania, nhưng cũng là của những quốc gia khác. Những gì tôi nhìn thấy ở Lithuania. Rồi tôi đến một chỗ gọi là Great Ghetto, nơi hàng ngàn người Do thái bị giết. Và cũng cùng buổi chiều hôm đó, tôi đến Đài Tưởng Niệm những người bị kết án, bị giết, bị tra tấn và bị trục xuất. Ngày hôm đó — tôi nói sự thật với anh chị em — người tôi nặng trĩu; nó khiến tôi phải suy nghĩ về sự tàn ác. Nhưng tôi nói với anh chị em rằng, dựa trên thông tin mà chúng ta có, thì sự tàn ác đó chưa kết thúc. Ngày nay cũng có những sự tàn ác tương tự ở rất nhiều nơi giam giữ, nó được tìm thấy ở rất nhiều nhà tù; sự quá tải của một nhà tù cũng là một hệ thống tra tấn, một cách sống mất hết phẩm giá. Một nhà tù ngày nay không cho người bị giam giữ một viễn cảnh hy vọng, thì đã là một sự tra tấn. Rồi chúng ta nhìn thấy trên truyền hình sự tàn ác của ISIS; những kẻ khủng bố: viên phi công người Gio-đan đó bị thiêu sống, những người Ki-tô hữu Cốp-tíc kia bị chặt đầu trên bãi biển Lybia, và rất nhiều người khác. Ngày nay sự tàn ác vẫn chưa kết thúc. Nó tồn tại khắp nơi trên thế giới. Và tôi muốn gửi thông điệp này đến anh chị em là những ký giả: đây là một sự ô nhục, một sự ô nhục nặng nề của văn hóa và xã hội chúng ta.

Một điều nữa mà tôi nhìn thấy ở ba quốc gia này là lòng thù hận [của chế độ cũ] đối với tôn giáo, bất kể đó là tôn giáo nào. Lòng thù hận. Tôi gặp một Đức Giám mục Dòng Tên của Lithuania hay Latvia, tôi cũng không nhớ rõ nữa, ngài đã bị đày đến Siberia suốt 10 năm, sau đó sang một trại tập trung khác … Bây giờ ngài đã già, ngài vẫn cười … Như vậy rất nhiều người nam nữ đã bị tra tấn và bị đày đến Siberia, vì bảo vệ đức tin của họ, đó là bản sắc của họ, và họ đã không trở về hoặc đã bị giết. Đức tin của ba quốc gia này rất mạnh; quả thật đó là một đức tin được sinh ra từ sự tử đạo, và đây nó là điều mà có thể anh chị em đã nhìn thấy khi nói chuyện với mọi người, với tư cách là những phóng viên để lấy tin tức của đất nước.

Ngoài ra, kinh nghiệm đức tin rất quan trọng này đã sản sinh ra một hiện tượng riêng biệt trong những quốc gia này: một đời sống đại kết, mà không nơi nào có được, nó quá phổ biến. Có một tinh thần đại kết thật sự: tinh thần đại kết giữa người Tin lành, người Baptist, người Anh giáo và cả người Chính thống giáo. Chúng ta đã nhìn thấy trong Nhà thờ Chính tòa ngày hôm qua, trong buổi gặp gỡ đại kết tại Riga, ở Latvia: một điều tuyệt vời; những người anh em, thân mật, cùng nhau trong một nhà thờ … gần gũi. Tinh thần đại kết đã đâm rễ ở đó.

Và có một hiện tượng khác nữa trong những quốc gia này, hiện tượng quan trọng cần phải nghiên cứu, và anh chị em có thể sẽ có thể có nhiều điều thú vị để làm trong công việc, nghiên cứu điều này: hiện tượng truyền đạt văn hóa, bản sắc, đức tin. Thông thường ông bà là người làm công việc truyền đạt này. Tại sao? Vì cha mẹ phải đi làm, cha và mẹ đều phải làm việc, và phải đăng ký gia nhập đảng — hoặc trong chính quyền Xô-viết hoặc trong Đức Quốc xã – và cũng được nhồi nhét chủ nghĩa vô thần. Tuy nhiên, ông bà đã có thể truyền đạt đức tin và văn hóa. Suốt thời gian khi việc sử dụng ngôn ngữ của người Lithuania bị cấm, khi nó bị loại ra khỏi các trường học, khi họ đến tham dự những nghi thức tôn giáo — bất kể đó là người Công giáo hay người Tin lành — họ cầm lên những quyển sách kinh để xem chúng có được viết bằng tiếng Lithuania hay bằng tiếng Nga hay tiếng Đức. Và rất nhiều người — cả một thế hệ khi đó — đã học tiếng mẹ đẻ từ ông bà: chính những người ông người bà đã dạy viết và đọc bằng tiếng mẹ đẻ. Điều này khiến chúng ta phải suy nghĩ và cần phải có những mục viết, những loạt truyền hình nói về sự truyền đạt văn hóa, ngôn ngữ, nghệ thuật, và đức tin trong những thời gian dưới chế độ độc tài và bắt bớ. Chúng ta không thể nghĩ cách khác, vì tất cả mọi phương tiện truyền thông khi đó còn rất ít – chỉ có radio – nhưng do nhà nước nắm giữ. Khi một chính phủ trở nên — hoặc muốn trở nên độc tài, thì điều đầu tiên họ làm là nắm giữ toàn bộ mọi phương tiện thông tin truyền thông.

Tôi muốn nhấn mạnh đến những điều này.

Và bây giờ, tôi muốn nói về buổi gặp gỡ với giới trẻ hôm nay. Giới trẻ đã trở nên bất mãn: ở đây tôi giới thiệu về câu hỏi đầu tiên đi ra ngoài chủ đề của chuyến đi. Giới trẻ bất mãn vì thói đạo đức giả của người lớn. Giới trẻ bất mãn vì chiến tranh; họ bất mãn vì sự mâu thuẫn; họ bất mãn vì sự bê bối. Và về vấn đề bê bối, có vấn đề mà anh đã nhấn mạnh, đó là những vụ lạm dụng tình dục. Đúng là có sự lên án về phía Giáo hội, và tất cả chúng ta đều biết, chúng ta biết những con số thống kê, tôi không nhắc lại ở đây. Tuy nhiên, cho dù giả sử chỉ có một linh mục lạm dụng một thiếu nhi, thì điều này cũng đã là gớm ghiếc, vì con người đó được chọn bởi Chúa để giúp dẫn đưa đứa trẻ về nước Trời. Tôi hiểu rằng giới trẻ rất bất mãn vì sự bê bối rất lớn này. Họ biết rằng nó có ở khắp nơi, nhưng ở trong Giáo hội thì nó đáng hổ thẹn hơn, vì trẻ em phải được dẫn đưa lên tới Chúa, chứ không phải tàn phá. Giới trẻ tìm cách để tạo ra con đường bằng kinh nghiệm. Buổi gặp gỡ hôm nay với giới trẻ rất rõ ràng: họ muốn được lắng nghe; họ muốn được lắng nghe. Họ không muốn những công thức cứng nhắc. Họ không muốn một sự đồng hành mang tính chỉ huy. Và phần thứ hai của câu hỏi này, đó là câu hỏi đầu tiên ra ngoài chủ đề chuyến đi, nó là “Giáo hội không làm những gì đáng lẽ mình phải làm, đó là làm trong sạch sự bê bối này.

Chẳng hạn, tôi lấy trường hợp Bản Báo cáo của Pennsylvania, và chúng ta thấy rằng trong những năm đầu của thập niên 70 đã có nhiều linh mục rơi vào tình trạng bê bối này. Rồi trong những thời gian gần đây hơn, họ đã giảm bớt vì Giáo hội nhận ra rằng Giáo hội phải chống lại theo một con đường khác. Trong quá khứ, những vụ bê bối này bị bao che. Chúng được bao che ngay trong gia đình khi mà một người chú xâm hại một đứa cháu gái hay khi người cha xâm hại con. Chúng được bao che vì đó là một điều vô cùng xấu hổ. Đó là cách nghĩ của những thế kỷ trước, và của thế kỷ vừa qua. Có một nguyên tắc trong vấn đề này giúp tôi rất nhiều trong cách giải thích lịch sử: một biến cố lịch sử phải được giải thích bằng phương pháp thông diễn theo thời điểm của biến cố xảy ra, không phải phép thông diễn của ngày nay. Chẳng hạn, vấn đề người thổ dân: trước đây có quá nhiều bất công, quá nhiều sự tàn bạo. Tuy nhiên, không thể giải thích theo lối thông diễn của ngày nay, khi mà chúng ta đã có nhận thức khác. Một ví dụ cuối cùng: án tử hình. Vatican cũng là một Nhà nước, khi nó còn là một Nhà nước của Giáo hoàng, lúc đó vẫn có án tử hình: người cuối cùng bị chém đầu vào khoảng năm 1870, một tội phạm, một thanh niên. Nhưng rồi ý thức luân lý phát triển, ý thức luân lý phát triển. Sự thật là luôn luôn có những con dê tế thần, luôn luôn có những bản án tử hình bí mật: ông già rồi, chỉ thêm phiền toái, tôi không cho ông thuốc uống …, rồi sau đó họ báo: “ông ta đi rồi.” Đó là sự kết án tử của xã hội ngày nay. Tuy nhiên, tôi cho rằng với những điều này thì tôi đã trả lời được câu hỏi. […]

Ông Greg Burke:

Antonio Pelayo thuộc “Vida Nueva” (Tây Ban nha)”

Antonio Peayo:

Thưa Đức Thánh Cha, vài ngày trước một Thỏa thuận đã được ký giữa Tòa Thánh và nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa. Đức Thánh Cha có thể cho chúng con thêm thông tin về vấn đề này, về nội dung của nó? Vì một số người Công giáo Trung quốc, đặc biệt là Đức Hồng y Zen, đã cáo buộc người bán Giáo hội cho Chính quyền Cộng sản Trung quốc, sau quá nhiều năm đau khổ. Câu trả lời của Đức Thánh Cha như thế nào trước cáo buộc này?

ĐTC Phanxicô:

Đây là một tiến trình của nhiều năm, một sự đối thoại giữa Ủy ban Vatican và Ủy ban Trung hoa, để giải quyết vấn đề bổ nhiệm Giám mục. Nhóm Vatican đã làm việc rất nhiều. Tôi muốn nêu lên một số vị: Đức ông Celli, ngài đã đầy lòng kiên nhẫn đi lại, đối thoại, trở lại … năm này sang năm khác! Rồi Đức ông Rota Graziosi, một Đức ông thuộc Giáo triều 72 tuổi vô cùng khiêm nhường, ngài muốn làm một linh mục xứ nhưng đã ở lại Giáo triều để trợ giúp trong tiến trình này. Rồi trong đó có ngài Quốc Vụ khanh, Đức Hồng y Parolin, một người rất nhiệt thành, ngài tận tâm nghiên cứu: ngài nghiên cứu tất cả mọi tài liệu: từng dấu chấm, dấu phẩy, từng dấu nhấn … Và điều này giúp tôi rất an tâm. Và nhóm làm việc này, với những khả năng như vậy, tiến bước. Anh biết rằng khi một hiệp định hòa bình được ký hoặc một cuộc đàm phán, cả hai bên đều phải nhượng bộ một điều gì đó; đây là quy luật; cả hai phía. Tiến trình này đi theo cách như vậy: tiến tới hai bước, lui một bước, tiến tới hai bước, lui một bước … ; nhiều tháng trôi qua không có cuộc nói chuyện nào với nhau, và rồi … Thời gian là của Chúa, cũng tương tự như thời gian của người Trung quốc: chậm chậm … Đây là sự khôn ngoan, sự khôn ngoan của người Trung quốc. Hoàn cảnh của các Giám mục trong tình trạng khó khăn được nghiên cứu từng trường hợp một, và cuối cùng, các tài liệu được chuyển lên bàn của tôi và chính tôi là người chịu trách nhiệm ký, về trường hợp của các giám mục. Liên quan đến Thỏa thuận, các bản nháp được chuyển đến tôi, chúng tôi thảo luận, tôi đưa ra ý kiến, những người khác tranh luận và rồi tiến tới. Tôi nghĩ đến sự chống đối, đến những người Công giáo đã chịu đau khổ: thật vậy; họ sẽ phải đau khổ. Luôn luôn có sự đau khổ trong một thỏa thuận. Nhưng họ có đức tin rất mạnh và họ viết, học gửi thông điệp, khẳng định rằng những gì Tòa Thánh, những gì Phê-rô nói, là những điều Chúa Giê-su nói: đức tin “tử đạo” của những con người này ngày nay đã vững mạnh. Họ là những con người tuyệt vời. Tôi đã ký Thỏa thuận, những Thư Ủy quyền (Plenipotentiary Letters) để ký Thỏa thuận. Tôi là người chịu trách nhiệm. Những vị khác mà tôi bổ nhiệm, đã làm việc trong suốt thời gian hơn mười năm. Nó không phải là một việc làm không có chuẩn bị; nó là một hành trình, một hành trình thật sự.

Và bây giờ là một giai thoại nho nhỏ và một sự thật lịch sử, hai câu chuyện trước khi kết thúc. Trước đây lúc có một bài báo nổi tiếng đăng về một vị cựu Sứ thần Tòa Thánh, hàng giám mục trên toàn thế giới viết gửi cho tôi nói rằng các ngài chia sẻ tình hiệp thông, rằng các ngài cầu nguyện cho tôi; người tín hữu Trung quốc cũng viết, và chữ ký trên lá thư này là của Đức Giám mục – chúng ta hiểu là vậy – của Giáo hội Công giáo truyền thống và của vị Giám mục của Giáo hội Yêu nước: cùng chung, cả hai, và tín hữu của cả hai giáo hội. Việc này cho tôi một tín hiệu từ Thiên Chúa. Và điều thứ hai: chúng ta không quên rằng ở Châu Mỹ La tinh — tạ ơn Chúa là điều này đã qua! — chúng ta quên rằng trong 350 năm chính các vua của Bồ Đào nha và Tây Ban nha bổ nhiệm giám mục. Và Giáo hoàng chỉ trao quyền cai quản. Chúng ta quên rằng trường hợp của Đế quốc Áo-Hung: Marie Therese thấy mệt mỏi với việc ký những bổ nhiệm Giám mục và trao quyền lại cho Vatican. Những thời gian khác, tạ ơn Chúa là những điều này ngày nay không còn lặp lại! Tuy nhiên, trường hợp hiện nay không phải là việc bổ nhiệm Giám mục: đó là cuộc đối thoại về các ứng viên sau cùng. Nó được thực hiện qua sự đối thoại, nhưng việc bổ nhiệm là của Roma; sự bổ nhiệm là của Giáo hoàng, điều này rất rõ ràng. Và chúng ta cầu nguyện cho những sự đau khổ của một số người không hiểu hoặc những người mà sau lưng họ là nhiều năm phải sống trong bí mật.

Cảm ơn anh chị em rất nhiều! Họ nói là bữa tối đã sẵn sàng và chuyến bay không dài lắm. Cảm ơn anh chị em rất nhiều! Cảm ơn anh chị em rất nhiều vì công việc của anh chị em. Và xin cầu nguyện cho tôi.

Ông Greg Burke:

Xin cảm ơn Đức Thánh Cha. Chúc Cha ngon miệng và thời gian nghỉ ngơi dễ chịu.

© Libreria Editrice Vatican

[Văn bản chính: Tiếng Ý] [Bản dịch (tiếng Anh) của Virginia M. Forrester của ZENIT]

[Nguồn: zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 28/9/2018]

Comments are closed.