Lòng Thương Xót Chúa

0

Ts. Trần Mỹ Duyệt

Thương xót (mercy), theo tự điển Anh-Việt của Nguyễn Văn Khôn dịch là: Lòng thương người, thương hại, thương xót, lân ái, từ bi.

Theo Longman Dictionary of American English. New Edition định nghĩa: Mercy: kindness, pity, and a willingness to forgive.

Nhưng những định nghĩa trên, chỉ diễn tả về các hành động mà con người có thể làm để bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ, hoặc an ủi với những mất mát, đau thương, buồn phiền của nhau. Nó chú trọng nhiều đến lãnh vực thể lý, tâm lý, hoặc vật chất. Nhưng khi nói đến Lòng Thương Xót Chúa (Misericordia, Mercy, Miséricorde) là nói về một hồng ân đặc biệt của Thiên Chúa đối với nhân loại.

Trong Cựu Ước, dân Isarel cảm nhận được lòng thương xót của Thiên Chúa, vì Ngài luôn chung thủy, thương yêu, tha thứ sau mỗi lần họ phạm tội và từ bỏ Ngài (x. Is 54,8-10)…Trong Tân Ước, Chúa Giêsu là hiện thân của Thiên Chúa giàu lòng thương xót… [1]

Ở thời đại chúng ta hôm nay, trước bao nỗi thống khổ tinh thần cũng như thể xác. Trước bao bất hạnh, bất công, chết chóc, và đau thương mà con người gây ra cho nhau. Trước bao tiếng kêu cầu của những tâm hồn nhỏ bé, đơn sơ, và nghèo khó vọng tới trời cao, khiến Thiên Chúa đã trả lòng Ngài bằng cách mở rộng trái tim của Chúa Giêsu. Trái tim không ngừng đập. Trái tim đã bị đâm thâu vì tội lỗi con người, để nhân loại chạy đến tìm nơi nương náu. Lòng Thương Xót Chúa (The Divine Mercy) là một hành động biểu lộ tình thương, lòng từ bi của Thiên Chúa, một ân huệ được đặt trên sự tín thác và lòng khoan nhân. Theo thần học Kitô giáo, nó xuất phát từ lòng sùng kính đã được Chúa Giêsu mặc khải khi hiện ra với Thánh Nữ Faustina Kowalska.” [2]   

Lòng Thương Xót Chúa là gì?

Lòng Thương này khác với cách nói và lối diễn tả của con người. Để hiểu được lòng thương này, chúng ta phải để mình “rơi” vào vực thẳm tình yêu của Thiên Chúa. Phải bước ra từ cung lòng Ngài, như một đứa trẻ được sinh ra từ lòng người mẹ.

Âm “cha trong chữ “ra-cha-mim” được phát âm giống như tiếng Tây Ban Nha “ja” của chữ “Jalapeño.” “Ra-cha-min” là danh từ, nhưng nó cũng có thể được dùng như một động từ, thường xuyên trong các lời cầu nguyện. Khi là động từ, nó được phát âm: “ra-chem”, – “xin thương xót”.

Trong tiếng Do Thái, rachem, có nghĩa là dạ con, tử cung của người phụ nữ. Nó tượng trưng một tình yêu không biên giới của người mẹ dành cho con mình. Một tình yêu xuất phát từ thẳm sâu lòng bà. Điều này, đặc biệt, khiến cho phái nam phải học và kính trọng thiên chức làm mẹ của phái nữ. Nó cũng giúp thêm để mọi người có kinh nghiệm thế nào về lòng thương xót.

“Ra-chem,” còn mang ý nghĩa như một lệnh truyền, đòi hỏi hoặc ra lệnh từ người khác. Như vậy, khi “cầu xin” lòng thương xót Chúa, không chỉ là kêu cầu Chúa, mà một hình thức nào đó, ta “buộc” Chúa phải nhìn đến chúng ta. [3]

Chính Thiên Chúa đã mặc khải những chi tiết trên để cho biết Ngài yêu thương nhân loại như thế nào? Và lòng Ngài thổn thức ra sao khi nhắc đến chúng ta:
“Ép-ra-im có phải là đứa con Ta yêu dấu,
Một đứa con Ta rất mực mến yêu?
Vì mỗi lần nhắc tới nó,
Ta lại thấy nhớ thương,
nên lòng Ta bồi hồi thổn thức,
Ta thương nó, thương nó thật nhiều, – sấm ngôn của Đức Chúa.” (Jeremiah 31:20) [4]

Tóm lại, khi nói về lòng thương xót Chúa. Chúng ta không chỉ hiểu đó là một tình yêu phát xuất từ trái tim, đặc biệt, trái tim bị đâm thâu trên thánh giá của Chúa Giêsu, mà còn cần hiểu thêm rằng, tình yêu này đã và đang cưu mang, nuôi dưỡng, bao bọc, và sinh ra chúng ta. Đây là một tình yêu bao gồm cả tâm lý, thể lý, và tâm sinh lý. Thiên Chúa khi tuôn đổ và ban lòng thương xót của Ngài cho nhân loại. Ngài muốn cho chúng ta hiểu rằng, Ngài không còn gì hơn để làm, cũng như để bày tỏ lòng Ngài với nhân loại.

Chỉ có Thiên Chúa mới thấu hiểu và lột tả được vực thẳm “xót thương” vì Ngài là Thiên Chúa của tình thương. “Thiên Chúa là tình yêu.” (1 Gioan 4:8)

Ngài là người khách thương dấu mặt luôn luôn quan tâm, lo lắng không chỉ linh hồn, mà cả thân xác và những nỗi nhọc nhằn của chúng ta. Ngài có đó khi tất cả mọi người quay lưng và bỏ rơi chúng ta. Câu truyện được kể trong Phúc Âm Thánh Luca (10:25-37), về một người đi từ Giêrusalem tới Giêricô, giữa đường bị cướp trấn lột và đánh nửa sống, nửa chết. Có thầy tư tế và thầy Levi cả hai bất ngờ đi qua con đường, và cả hai đều nhìn thấy cảnh tượng này, nhưng lần lượt cả hai đã bỏ đi. Cuối cùng có một người Samarita đi qua, ông đã thấy và đã ra tay giúp đỡ. Trước hết ông xuống ngựa, lau sạch các vết thương bằng dầu và rượu. Sau đó đã vực nạn nhân lên ngựa đến một quán trọn gần nhất, ông đã chi trả trước số tiền cần thiết cho chủ quan để ông này chăm sóc cho người bị cướp, ngoài ra còn dặn rằng, với số tiền ứng trước đó nếu thiếu hụt bao nhiêu, khi về ông sẽ hoàn trả.

Đối với nhân loại bị thương tích – do Satan kẻ cướp giật các linh hồn – thì Chúa Giêsu chính là người thương gia của Chúa Cha đi ngang qua trần gian. Người là kẻ ngoại, có nghĩa là đến từ trời. Người không phải là những người Do Thái theo nghĩa cùng đồng chủng loại với chúng ta. Người đã xuống khỏi ngựa (ngai trời), rửa sạch những vết thương tội lỗi bằng dầu và rượu vô cùng quí giá là máu và nước của Người chảy ra từ trái tim bị đâm thâu, băng bó những vết thương đó bằng chính tình yêu của Người. Quán trọ là Giáo Hội. Người đã đem chúng ta về với nhà của mình, trong vòng tay Cha nhân hiền trên trời.   

Và cũng qua đó, Chúa Giêsu mặc khải cho nhân loại về tình thương vô biên của Thiên Chúa. Người đã cưu mang nhân loại tội tình trong trái tim nhân từ của Người. Người muốn chúng ta nhìn nhận ra ơn huệ cao quý này cho phần rỗi của mỗi người, phần rỗi chung nhân loại. Chúa nhật II sau Phục Sinh là một ghi nhớ đó.

Lễ kính Lòng Thương Xót Chúa:

Trong một mặc khải, Chúa Giêsu đã nói với nữ tu Faustina: 

“Các linh hồn đừng sợ đến gần Cha, ngay cả khi tội lỗi nó đỏ tươi như máu. Lòng thương xót Cha rộng rãi vô biên đến nỗi trí khôn của con người hoặc của thiên thần cũng không có thể đo lường được. Mọi thụ tạo đều phát sinh từ những vực sâu thẳm của lòng thương xót rất mực dịu dàng của Cha. Những linh hồn mật thiết với Cha sẽ suy niệm tình yêu và lòng thương xót Cha đến muôn đời. Lễ Kính Lòng Thương Xót xuất phát từ những tầng sâu thẳm dịu dàng của Cha. Cha mong muốn lễ này được cử hành vào Chúa Nhật sau lễ Phục Sinh. Nhân loại sẽ không được bình an cho đến khi chúng quay về Suối Nguồn Tình Thương của Cha”. [5]    

Trong suốt 14 lần (1905-1938) hiện ra với nữ tu Maria Faustina Kowalska, Chúa Giêsu đều ao ước thánh lễ này được thiết lập. Danh hiệu Chúa Nhật Lòng Thương Xót (Divine Mercy Sunday) đã làm nổi bật ý nghĩa sau lễ Phục Sinh. Theo nữ tu Faustina, Lễ Lòng Thương Xót đón nhận những lời hứa rất đặc biệt từ Chúa Giêsu. Một trong những lời hứa dành cho những ai có lòng tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa, là linh hồn đó sẽ được về Thiên Đàng ngay sau khi chết mà không phải qua Luyện tội.  

Ý tưởng thực hiện một dấu chỉ tình yêu đã đến, đặc biệt trong thời đại con người đang chìm đắm, hít thở bầu không khí của “nền văn minh sự chết.” Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thiết lập lễ này nhân dịp Ngài tuyên phong hiển thánh cho nữ tu Faustina vào ngày 30 tháng Tư, 2000. Và vào ngày 22 tháng Tư 2001, một năm sau khi thiết lập Chúa Nhật Lòng Thương Xót, Ngài đã tái nhấn mạnh sứ điệp của mình trong thông điệp Phục Sinh:

“Ngày kia, Chúa Giêsu đã nói với Thánh Faustina: “Nhân loại sẽ không được bình an, cho đến khi họ quay về với lòng tín thác vào Lòng Thương Xót Chúa”. Lòng Thương Xót Chúa! Đây là một hồng ân Phục Sinh mà Giáo Hội nhận lãnh từ Chúa Giêsu sống lại và trao ban cho nhân loại”. 

Phụng vụ cử hành Thánh Lễ Kính Lòng Thương Xót khởi đầu bằng lời nguyện: “Lạy Cha trên trời và Thiên Chúa của Lòng Thương Xót. Chúng con không còn tìm kiếm Chúa Giêsu trong kẻ chết, vì Người đã sống lại và đã trở thành Chúa của Sự Sống.” Lời cầu nguyện này liên quan đến tình thương Thiên Chúa như căn bản chính yếu trong dự án cứu độ của Thiên Chúa và nhấn mạnh niềm tin tưởng rằng qua tình thương mà Thiên Chúa đã ban Con duy nhất của Ngài để cứu chuộc nhân loại, sau sa ngã của Adam. [6]

Như lời Người đã hứa, Chúa Giêsu đã đưa về trời người nữ tu nhỏ bé Faustina, đã vinh danh người nữ tu này trên bàn thờ. Và người đầy tớ sốt sắng, hăng say, nhiệt tình với sứ điệp tình thương của Người là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng được Người biệt đãi: qua đời tháng Tư 2005 trong chiều vọng Chúa Nhật Lòng Thương Xót. Ngài được tuyên phong Chân Phước vào Chúa Nhật Lòng Thương Xót, 1 tháng Năm 2011 bởi Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, vị kế nhiệm Ngài, và được tôn phong Hiển Thánh cùng với Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII cũng vào ngày Chúa Nhật Tình Thương Xót, 27 tháng Tư, 2014 bởi Đức Giáo Hoàng Phanxicô. [7]

 ____________

Tham khảo:

1. Lòng Thương Xót. Từ Điển Công Giáo. 500 mục từ, tb lần thứ 1 có sửa chữa. Nhà xuất bản Tôn Giáo.
2. https://en.wikipedia.org › wiki › Divine_Mercy. Divine Mercy – Wikipedia
3. https://hebrew.jerusalemprayerteam.org › Blog.  Hebrew Word of the Day – Mercy, compassion, womb
4. Bản dịch của KINH THÁNH Trọn Bộ CỰU VÀ TÂN ƯỚC, 1998
5. Diary entry 699
6. A Divine Mercy Resource by Richard Torretto 2010 ISBN 1-4502-3236-1 pages 58-59
7.“Pope paves way to beatification of John Paul II”bbc.news.co.uk. January 14, 2011. Retrieved 2011-01-14

Comments are closed.