
Tiến sỹ Tâm lý Trần Mỹ Duyệt
Trong tình yêu người ta gọi vợ, chồng bằng nhiều mỹ từ rất tình tứ, lãng mạn và cũng rất dễ thương như anh, em, ông xã, bà xã, chồng, vợ, nhà tôi, anh yêu, em yêu. Nhưng có một từ mà rất ít người đã hiểu đầy đủ ý nghĩa khi sử dụng nó, đó là “mình”. Nghe đơn sơ, mộc mạc, nhưng diễn tả một cách hết sức thâm thúy và ý nghĩa tương quan vợ chồng. Có lẽ trong cách xưng hô chỉ có người Việt Nam mới có từ này.
Chữ “mình” trong văn chương Việt Nam không chỉ là một tiếng xưng hô thông thường mà còn mang đậm tính triết lý, sự kết nối và hòa quyện giữa hai tâm hồn, giữa cái tôi và cái ta của vợ chồng.
1. Cái tôi nội tâm
Khi dùng để tự xưng hoặc gọi chính mình, tiếng mình mang ý nghĩa độc thoại nội tâm, tự vấn hay kể về con người của mỗi người. Nó nói lên một cách rõ ràng rằng, chính tôi chứ không phải là ai khác. Tự trong thâm tâm, người nói cũng nhận thức rõ ràng về con người của mình, về những gì mình đang suy nghĩ, trăn trở, và hoài vọng. Tóm lại, là tôi đây.
2. Với người đối diện
Nhưng khi dùng để nói với người khác và về người khác, chữ mình sẽ thay cho từ anh, em, bạn, ông, bà… Đây là lối xưng hô thân mật, âu yếm, xóa tan khoảng cách người nói và người nghe. Thí dụ: “Chiều hôm nay, chúng mình đã có một buổi hẹn hò đẹp và đáng nhớ.”
3. Sự hòa nhập và đồng nhất
Trong xưng hô thường ngày, chữ mình loại bỏ ranh giới giữa hai người. Nó đem lại sự hòa nhập giữa hai con người, giữa mình và tôi, giữa anh và em, giữa ông và tôi.
Lúc cơm lành canh ngọt, vợ chồng âu yếm gọi nhau “Mình ơi”, nghe đậm đà tình tứ, trân quí xem người bạn đời như một phần của chính thân thể mình. “Mình ơi, hôm nay em mệt, mình nấu cơm, rửa chén giùm em!” Nghe khó lòng từ chối.
Ở một vài địa phương miền Nam, thường nghe nói hai chữ “mình ên.” Từ “ên” dùng chung với “mình” nghe rất dễ thương: “Hôm nay tui đi có mình ên à!” Nó toát lên một nét văn hóa của miền sông nước phù sa.
“Mình với ta tuy hai mà một. Ta với mình tuy một mà hai.” Hai câu thơ ca ngợi tình cảm gắn bó, sự hòa hợp và thấu hiểu sâu sắc giữa hai tâm hồn. Hai con người riêng biệt nhưng có chung nhịp đập trái tim, chung chí hướng hoặc tình yêu thương lớn lao nên không còn khoảng cách. Dù đã hòa quyện làm một khối thống nhất gắn bó, mỗi người vẫn là một cá thể độc lập với tình cảm chân thành dành cho nhau.
Mình. Một ngôn ngữ của tình yêu, diễn tả tình yêu, và là thứ ngôn ngữ của những đôi tình nhân, những cặp vợ chồng, những người phối ngẫu nên dùng để sống và xưng hô với nhau!
4. Văn hóa Thánh Kinh
Chữ “mình” trong hôn nhân chỉ mang ý nghĩa tâm linh thực sự khi được Thánh Kinh diễn tả qua cảnh Adam nói với và về Eva: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!” (Sáng Thế Thế hay Sáng Thế Ký 2:23). Xương của tôi và thịt của tôi chứ không phải của ai khác hoặc thuộc về ai khác. Tại sao Adam lại gọi Eva là xương và thịt của ông? Chúng ta hãy nghe Thánh Kinh kể tiếp trong Sáng Thế Ký: “Non est bonum esse hominem solum: faciamus ei adjutorium simile sibi.” (2:18)
“Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó.” [1]
“Không tốt, nếu người chỉ có một mình. Ta sẽ làm cho nó cái gì trợ giúp đương đối với nó.” [2]
“It is not good for the man to be alone. I will make a suitable partner for him.” [3]
Kinh Thánh dùng cụm từ “người trợ giúp tương xứng” (Ezer Kenegdo) để chỉ về sự xuất hiện của người phụ nữ khi Thiên Chúa tạo dựng nên người phụ nữ (Eva) để làm bạn đời với người đàn ông (Adam). Cũng theo Thánh Kinh thuật lại thì Thiên Chúa làm cho Adam ngủ say, lấy một chiếc xương sườn của ông để tạo nên Eva rồi đem lại cho ông. Khi tỉnh dậy, thấy Eva, Adam đã thốt lên: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!” (Sáng thế ký 2:23)
Thánh Giêrônimô (Jerome) trong bản dịch Kinh Thánh sang tiếng Latinh kinh điển Latin Vulgate đã dịch cụm từ “ezer kenegdo” trong sách Sáng thế ký 2:18 là “adiutorium simile sibi.”
Vì “ezer” mang nghĩa là sức mạnh, sự giải cứu hoặc sự giúp đỡ mang tính cứu giúp. Phần lớn các trường hợp, Kinh Thánh dùng từ “ezer” để mô tả Đức Chúa Trời như Đấng giải cứu đầy quyền năng hoặc Đấng bảo vệ trong những thời khắc khủng hoảng. Nó không mang nghĩa là một người trợ giúp thụ động hay một người làm việc ở cấp bậc thấp hơn. Cũng theo ý nghĩa này, Eva không phải là kẻ hầu hạ của Adam.
Tiếp đến “kenegdo” có nghĩa là tương ứng, đối diện hoặc mặt đối mặt. Nó mô tả sự tương thích hoàn hảo hoặc một người bạn đồng hành bình đẳng, cho thấy hai người đứng ở vị thế ngang hàng, không ai cao hơn hay thấp hơn ai. Bối cảnh trong Kinh Thánh, khi phán rằng việc người nam ở một mình là không tốt Đức Chúa Trời đã dùng cụm từ này khi tạo dựng người phụ nữ đầu tiên. Cụm từ này cũng cho thấy người phụ nữ được tạo dựng để mang lại sự hỗ trợ mạnh mẽ, thiết yếu và cùng chia sẻ trọn vẹn trách nhiệm của cuộc sống. Đúng với ý nghĩa đồng hành: Không đi trước, không theo sau, nhưng cả hai cùng sánh bước song song.
Khi Adam nói Eva “xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” vì Thiên Chúa đã tạo dựng bà từ xương sườn của ông. Do có cùng bản chất, phẩm chất và sự sống, cả hai thể hiện mối liên hệ mật thiết và nên một, chứ không phải là những cá thể tách biệt. Như vậy khi Adam nói Eva là “xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”, ông đã thừa nhận Eva là người bạn đời bình đẳng được tạo ra từ chính sườn mình chứ không phải là người ở vị thế cao hơn hay thấp hơn ông. Hai giới tính được tạo ra để gắn kết, lấp đầy khoảng trống của nhau về cả thể xác, tâm hồn và sứ mệnh quản trị mặt đất.
Tóm lại, “adiutorium simile sibi” trong tiếng Latin hay “ezer kenegdo” trong tiếng Do Thái có nghĩa là sự giúp đỡ, sự hỗ trợ hoặc người giúp đỡ, người trợ tá; là tương tự, giống hoặc tựa như; và là cho chính mình. Các văn bản tiếng Latin có trước thời Thánh Giêrônimô như bản “Vetus Latina” đã từng sử dụng những cụm từ như “adiutorium secundum ipsum” (“một người giúp đỡ tương ứng với ông”). [4]
5. Những mảnh ghép không hoàn chỉnh
Nhưng tại sao đời sống hôn nhân được khởi đầu bằng sự hòa hợp tốt đẹp, bởi một chất tố bền bỉ mà hậu quả lại có thể dẫn đến chia ly, đổ vỡ, và ly dị? Và câu trả lời được tìm thấy từ những lý do sau:
– Chọn lựa sai: Giữa hàng trăm, ngàn, triệu người quanh ta, và trong đó chỉ có một là thuộc về ta, phát xuất và bởi xương, thịt ta. Có thể coi đây là nhân duyên tiền định, có thể coi đây là một ơn gọi, và đơn giản cũng có thể coi đây là một chọn lựa: “Thân gái mười hai bến nước. Trong nhờ đục chịu.” Nếu sự chọn nửa phần kia dựa theo những đòi hỏi và tiêu chuẩn như danh giá, giầu sang, sắc đẹp, sức thu hút và hấp dẫn của đam mê dục vọng, chúng ta sẽ được những mảnh ghép lệch lạc, không phù hợp với chính mình. Điều này không thể đổ lỗi cho số mệnh hoặc duyên số, đó là kết quả của chọn lựa.
– Quyết định liều lĩnh: Sự chọn lựa sai thường dựa trên những quyết định liều lĩnh, những quyết định vội vàng, những quyết định bỏ ngoài những tiêu chuẩn đạo đức, tâm linh, trình độ và khả năng giáo dục, cũng như sự hòa đồng, chấp nhận những khác biệt về tâm lý. “Cứ yêu đại đi, hợp thì ở, không hợp thì bỏ!” Đây là những cám dỗ hết sức nguy hiểm dẫn đến đổ vỡ, thất bại. Tự căn bản, những mảnh ghép ấy không phù hợp, lại được gán ghép bằng những chất liệu tồi, kết quả sẽ là sự đổ vỡ.
-Sai mục đích: Mục đích của hôn nhân như nó đã được Thượng Đế xác định từ đầu: “Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng.” (Sáng Thế 2:18) Rất rõ ràng, rất minh bạch, và rất đầy đủ. Như vậy, người vợ đối với người chồng là một người trợ tá, trợ giúp tương xứng, xứng hợp, đương đối. Không phải là người làm công, không phải là đầy tớ, không phải là kẻ ăn bám, không phải là người đi sau để làm tăng giá trị của kẻ đi trước. Cũng không phải là một chiếc máy đẻ có mục đích duy trì nòi giống, nối dõi tông đường cho một dòng họ. Tất cả những điều gì sảy ra sau và trong đời sống hôn nhân đều phải được xây dựng và nhìn theo hướng này. Và đó cũng là điều mà sẽ đem lại hạnh phúc cho người chồng, cho người vợ, và cho cả hai, vì: “Con người ở một mình thì không tốt.”
6. Không nhận ra giá trị người phối ngẫu
– Không nhận ra giá trị của người phối ngẫu: Những cuộc hôn nhân đổ vỡ, ngoài những lý do từ sự chọn lựa sai lầm, từ một thái độ vô tâm, vô tình và vô ơn đối với tặng vật mà Thượng Đế đã trao ban. Người ta coi thường nhau, làm khổ nhau vì không nhận ra cái giá trị cần thiết của nhau. Do định kiến, do tự ái, do kiêu ngạo, do thiếu chịu đựng và kiên nhẫn nhiều người đã bỏ mất một nửa mảnh ghép hoàn hảo mà Ngài đã chuẩn bị cho họ. Họ đã không nhận ra giá trị đích thực của người phối ngẫu.
– Không trân quí người phối ngẫu: Coi thường, khinh bỉ, bỏ rơi, và loại trừ vì không nhận ra giá trị của món quà, của tặng vật. Đó cũng là hậu quả sai lầm do lựa chọn. Lúc này người phối ngẫu có là gì cũng trở nên vô giá trị trước mắt người chọn lựa, và đổ vỡ, chia ly và đánh mất một mảnh ghép của đời mình là chuyện tất yếu phải xảy ra.
– Thiếu yếu tố hy sinh: Nhưng trên tất cả, cuộc sống hôn nhân là một chuyện tình, chuyện tình giữa tôi và em, chuyện tình giữa hai chúng ta. Nhưng sẽ không có chuyện tình nào bền bỉ, đẹp, lãng mạn, và hạnh phúc nếu thiếu yếu tố hy sinh: “Không ai có tình yêu lớn lao hơn người thí mạng sống mình vì người mình yêu.” (Gioan 15:13) Hạnh phúc hôn nhân sẽ được định giá bằng thước đo này. Nó cũng sẽ nói lên sự bền bỉ và không phân ly của hôn nhân như chính Chúa Giêsu đã xác nhận: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly.” (Matthew 19:6 và Mark 10:9)
Kết luận
“Con người ở một mình thì không tốt.” Nhưng để sống tốt được với nửa ghép còn lại, đòi phải có hy sinh. Vì Thiên Chúa chỉ tạo nên “một trợ tá tương xứng” cho ta, chứ không tạo nên một người để ta thỏa mãn theo cái nhìn của cái tôi ích kỷ và tham lam. Mà người đó cũng chính là “mình”, phát xuất từ xương của xương ta, và thịt của thịt ta.
_________
Tài liệu tham khảo:
1. Kinh Thánh Trọn Bộ Cựu Ước và Tân Ước.
2. Kinh Thánh. Bản dịch của Lm. Nguyễn Thế Thuấn, CSsR.
3. Saint Joseph Edition of The New American Bible.
4. AI Overview