Ngày xưa bên Mẹ Anna – Chuyện bây giờ mới kể

0

Sr. Agnès Hoàng Thị Hòa

Hôm nay được viết về Mẹ Anna Nguyễn Thị Ninh nhân dịp kỉ niệm ngày giỗ của Mẹ, con cảm nhận như một cơ hội rất tuyệt vời để con hồi cố đến một kỷ niệm khó quên với Mẹ trong đời tu của con.

Đẹp lắm một ước mơ cho những ai hơn một lần dệt mộng. Kỉ niệm ấy khởi đi từ một giấc mơ hồng của một người thiếu nữ đang vo tròn niềm hy vọng thành đạt của một đệ tử thư sinh. Nhưng giấc mơ hồng bị đánh thức khi từ tháng 03 năm 1975 trở đi, ngày ngày chúng con tới trường trong sự hoảng loạn này, những tin báo dồn dập đến: trường này trường kia bị pháo kích, nổ mìn … gây đổ nát trầm trọng. Bài hát tiêu biểu: “Ai nghe chăng tiếng than của trường Cai Lậy, đang quằn quại …” như một điềm báo về số phận trường Khiết Tâm, Biên Hòa của chúng con cũng bị đóng cửa trong một ngày gần nhất…

Biến cố 1975 đến…

“Lạy Chúa con như người thợ dệt,
Đang mải dệt đời mình,
Bỗng nhiên bị tay Chúa,
Cắt đứt ngay hàng chỉ…” (Is 38, 12).

Không được chuẩn bị để đón nhận biến cố sầm sập đến: mất mát, đóng trường và có nguy cơ giải tán cả Hội dòng nữa. Con bước đi trong thất vọng trước mọi tình huống trước mắt. Là một đệ tử còn non yếu đời tu, con thật sự hoảng loạn khi con chứng kiến ngày đoàn dân giải phóng tiến vào Sài Gòn một cách dễ dàng sau lệnh ngưng bắn, tất cả đã mở ra một trang sử hoàn toàn mới và có thể nói rất bất ngờ đối với con. Thật não nuột và lặng người trước một CHẤM HẾT rợn rùng.

Một “chấm hết” của đời thư sinh mà con đang trên đà háo hức dồn bao nỗ lực…

Một “chấm hết” đời tận hiến mà con hết lòng ước ao tìm kiếm và ngày từng ngày kiên định trong sự dẫn dắt từng bước của Chúa.

Bâng khuâng khi nhận được thời hạn nghỉ phép theo quyết đinh của Mẹ Bề trên: “Với các chị khấn và Học viện thì nghỉ ở gia đinh cho tới khi được gọi về; còn đối với các em đệ tử thì thời gian vô hạn… và tạm thời là giải tán hoàn toàn.” Thuở đó, con phải trở về với gia đình khi lệnh giải tán nhà đệ tử đã ban hành. Bước chân vu vơ khiếp đảm, con đối diện với một tương lai cực kỳ đen tối trong nội tâm con. Con ra đi mang theo ánh mắt Mẹ, như thẳng nhìn con đế thắp lửa nội tâm; như vấn vương bàn tay vô hình Mẹ ngày ngày như muốn vỗ nhẹ trên đôi vai gầy yếu của con: cố lên con nhé!.

Ở nhà quê một thời gian, con bắt buộc phải ghi danh đăng ký lao động hợp tác xã như bao nhiêu thanh niên thiếu nữ khác đang độ tuổi lao động. Tới một ngày quyết định, ba con cho biết toàn quốc phải đăng ký hộ khẩu. Ba con muốn biết con sẽ chọn đăng ký vào hộ khẩu nào: ở gia đình hay là ở nhà Dòng, con phải chọn một trong hai. Một thoáng suy tư hằn lên khuôn mặt của người con gái mới lớn, con thưa với ba: “Ba để từ từ, con sẽ trả lời chính xác với ba sau khi con hỏi ý kiến nhà Dòng.”

Thế rồi con mạo hiểm quyết định lên đường đi Tam Hiệp. Con trở lại Nhà dòng, bước chân nổi trôi của dặm đường hiểm trở. Trên quãng đường dài gần 400 cây số, mọi chiếc cầu lớn đều bị giật sập vì chiến tranh. Dù đã vài ba tháng sau ngày 30/04/1975, nhưng chưa thể sửa chữa lại cho kịp… Mỗi lần qua cầu lại phải chuyển qua xe “bờ lua” (người địa phương thường gọi chiếc xe chở cây gỗ lớn là xe “bờ lua”). Nhờ xe này sẽ chuyến hành khách qua cầu và hành khách mới có thế đi tiếp được… Phải mất đến một tuần lễ, con cùng một chị bạn mới từ Ban Mê Thuột về tới Nhà Mẹ Tam Hiệp. Đến nhà Dòng rồi nhưng chị canh nhà chỉ để chúng con ở lại nhà khách, chưa cho chúng con vào vì chưa nhận diện được chúng con có đúng là đệ tử của nhà Dòng không? Tuy nhiên cũng thật khó, vì thời đó, ngoài các chị Giáo và quý chị Giáo sư thì không một chị khấn nào biết được đệ tử chúng con cho rõ. Cũng là không may mắn cho chúng con, vì vào thời điểm đó, các chị Giáo của chúng con đã chắp cánh bay xa vào phương trời nào rồi… Lễ xong, chúng con được ăn cơm tại nhà khách rồi nghỉ ở nhà khách. Mãi cho đến 10 giờ sáng mà chúng con vẫn chưa gặp được ai, dù chúng con đã xin gặp Mẹ Bề Trên để bày tỏ nỗi niềm nhưng bao nhiêu lần xin là bấy nhiêu lần bị từ chối. Chúng con hiểu, trong hoàn cảnh tranh tối tranh sáng như thế, phải đề phòng cẩn thận thôi.

Nhưng Chúa đã hiểu được lòng thành của những con người đi tìm thánh ý Chúa. Bỗng nhiên, Mẹ Bề trên Anna Nguyễn Thị Ninh và chị Tổng thư ký Agnès Đinh Thị Lân tình cờ đi ngang qua, hai chúng con đã không bỏ lỡ cơ hội, chạy ngay tới chào Mẹ và xin được gặp Mẹ. Mẹ âu yếm nhìn chúng con và hẹn chút nữa trở về Mẹ sẽ gặp chúng con. Tâm trí chúng con lúc này tuy có phần nhẹ nhõm, nhưng cũng rất hồi hộp, không biết số phận sẽ như thế nào. Khoảng nửa tiếng sau, Mẹ về, chúng con được gặp Mẹ ngay tại nhà khách. Qua câu chào hỏi ngắn gọn, chúng con vào đề luôn: “Thưa Mẹ, chúng con là đệ tử, muốn trở lại Nhà Dòng để tiếp tục tu. Xin Mẹ nhận chúng con.” Ngay lập tức Mẹ bình thản trả lời: “Thôi chúng con cứ tiếp tục ở nhà quê với ba mẹ cho tới khi Mẹ gọi về, vì nhà Dòng bây giờ không nhận ai vào tu hết, các chị Khấn cũng đã giải tán và chưa dám gọi về. Chúng con là đệ tử thì từ từ gọi về sau….” Nghe xong câu Mẹ nói, ai hiểu được lòng trí chúng con này? Rối bời và thất vọng! Bước chân non dại trên đường tu đức đã dẫn con vào một đêm tối kinh hoàng? Trước sự từ chối mà con chưa bao giờ lường trước sẽ xảy ra như vậy. Bởi trong lòng con từng suy nghĩ rằng chắc chắn Mẹ sẽ nhận chúng con thôi, vì khó khăn như vậy mà còn vào xin tu thì mẹ không thể không nhận lời. Nào ngờ mọi sự đã diễn ra trái ngược hẳn. Chúng con như chiếc thuyền nan đi trên dòng nước ngược…

Nhìn chúng con thật lâu, Mẹ hỏi: “Xe cộ kỳ này đi làm sao?” Chúng con được dịp kể lể sự tình… May mà Mẹ nhìn trước được vấn đề, biết chúng con chưa thể về ngay được vì những phức tạp và khó khăn của việc mua vé xe. Thế rồi, Mẹ quyết định cho chúng con ở lại một thời gian ngắn trong Dòng để liên lạc và chuẩn bị mua vé đi về.

Thời gian này, các chị khấn còn lại ở Nhà Mẹ hầu hết là các chị cao niên. Thương nhất là khi các chị có nhu cầu đi bệnh viện, chúng con đã chở các chị đi khám và chữa bệnh bằng xe đạp: có khi đi Biên Hòa, khi thì Hố Nai và có lần đi Tân Mai nữa… Thấy chúng con sai vặt được, và đã đến lúc Hội dòng cần người trẻ để xốc vác một số công việc nên Mẹ Anna Nguyễn Thị Ninh cho phép chúng con được ở lại Nhà Dòng luôn…  Thế là chúng con trở thành những “người sống sót hiếm hoi” của Hội Dòng vào thời điểm đó.

Đón nhận hồng ân được ở lại Dòng, chúng con trở thành những thành viên nhỏ nhất trong Hội Dòng. Tuy là đệ tử, nhưng chúng con được sinh hoạt và làm việc như các chị khấn. Vừa ngày ngày đi rẫy xa tận Phú Sơn, Tân Mai III, Hưng Bình để trồng tỉa, vừa làm những công việc nặng ở nhà, như tháo gỡ tôn, kèo cột ở những chỗ không cần trong nhà để cho các cộng đoàn đi vùng kinh tế mới… Ngoài ra, chúng con còn đảm nhận một số công việc nặng khác như tưới vườn, làm miến, đan khay, đan cót, đan quạt… Những công việc này liên tay suốt ngày. Khổ một nỗi, việc thì nhiều nhưng mỗi ngày chỉ có cơm hai bữa, vào thời gạo châu củi quế, nồi cơm chỉ thấy toàn bo bo, bắp đỏ, bắp trắng, khoai mì… trộn lẫn vào nhau, phải giỏi lắm mới có thể nấu chín nồi cơm thập cẩm này. Là người trẻ, chưa dạn dĩ với khổ đau thử thách, con cảm thấy mệt nhiều và có phần chán nản. Nói theo kiểu con người, con rất thích đêm về, vì khi đó con sẽ có một giấc ngủ dài xóa tan bao mệt nhọc, nhất là cơn đói cứ dày xéo trong người. Con sợ nhất khi mở mắt đón chào một ngày mới. Khi ánh bình minh ló dạng là khai mở một ngày lao động vất vả, nhưng vẫn chẳng đủ ăn. Mỗi buổi trưa về con sợ nhất giờ cơm biến thành giờ đọc kinh rồi sau đó mãi tới hơn 14 giờ chiều mới có bữa cơm chính. Như vậy, rồi con sẽ bị nhịn cho mãi tới sáng hôm sau mới có bữa cơm khác. Con đã nghe cơn đói hoành hành, vì ở tuổi ăn tuổi ngủ như chúng con mà cảm thấy đói thì quả thật chúng con đang bị thử thách lớn lao. Mẹ đã rất hiểu điều đó vì đã có lần Mẹ hỏi con: “Đã chán tu chưa?” Con trả lời ngay: “Con chưa chán tu, nhưng con đói bụng quá Mẹ ạ!” Con thấy trong đôi mắt dịu hiền cúa Mẹ long lanh dòng nước mắt… Có ngày con hết chịu nổi, ôm bụng đói tới gõ phòng Mẹ để xin Mẹ về… vì con đói bụng quá, sự cồn cào cứ như cơn cám dỗ của ngày thứ Tư Lễ Tro hoặc thứ Sáu Tuần Thánh. Con sợ cơn đói dai dẳng vô thời hạn này không cho phép con sống kiên định trong ơn gọi.

Con hiểu được tấm lòng người Mẹ lúc này, Mẹ đã quay mặt đi để cho con không nhìn thấy hàng lệ chực rơi xuống. Mẹ dịu dàng quá và Mẹ bản lãnh quá. Mẹ nhìn con rồi nhỏ nhẹ nói: “Không việc gì phải về con ạ, đến bữa con ăn thật no hơn một chút nữa thì không bị đói đâu. Nhớ nhé, mỗi bữa cơm con ăn no hơn một chút nữa.”

Chúa đã cho con được an lòng qua lời nói của Mẹ. Mẹ và chúng con cùng cố gắng và bám víu vào sự quan phòng yêu thương của Chúa. Con cứ thế tiếp tục ở lại trong Nhà Dòng. Rồi mọi chuyện cũng qua, mọi khó khăn cũng kết thúc khi cuộc sống dần dần tốt đẹp hơn.

Mẹ ơi!

Nếu ngày đó trước sự thay đổi khá đột ngột về lối sống và về đời tu mà con không thấy gương sáng của Mẹ: hòa đồng với chúng con, cùng ăn chung bát cơm độn, cùng ra vườn lao động, cùng bươn chải kiếm sống từng ngày … thì làm sao con có được một đòn bẩy tinh thần đưa con vào cuộc sống an bình trong đời tận hiến như hôm nay. Còn đó, từng bó hoa do tay Mẹ chăm bẵm, hoa nào đẹp hơn thì để dành cắm cho Chúa; số hoa còn lại thì đem ra chợ bán kiếm thu nhập mỗi ngày. Mẹ ơi, hình ảnh Mẹ luôn hiện sinh trong cuộc sống của con, một Mẹ Bề Trên “điều hành trong bóng tối” với một cách thức “xóa mình” thật tuyệt diệu.

Nhớ tới Mẹ trong ngày giỗ hôm nay, con xin dâng Mẹ vần thơ tri ân cảm mến:

Rẽ sóng thuyền nan nhỏ ra khơi,
Bao nhiêu thách đố vẫy gọi mời,
Chèo ra chỗ sâu mà thả lưới,
Vất vả năm canh trắng lưới thôi.
Con tìm nương bóng nơi tình Mẹ,
Hạnh phúc cho con suốt cả đời,
Mẹ dạy cho con bám vào Chúa,
Chỉ duy Ngài cầm bánh lái thôi.

Comments are closed.

phone-icon