Dưới Đôi Cánh Thiên Thần – Chương 8

0

Chương VIIICHIẾC XE MÁY

Năm 1910, cha tôi đổi sang một trại lính mới ở thương nguồn sông Uruguaym, trong khi đó chúng tôi vẫn ở lại Jaguarao với mẹ tôi. Sự chia lìa này là một sự đau đớn và gây một nỗi buồn vô hạn cho tôi. Năm ngoái tôi đã mất em Dilsa, và bây giờ tôi phải xa cha tôi, người mà tôi yêu mến hơn tất cả sau Chúa Giêsu, Đức Mẹ và “Người Bạn Mới”.

Chúng tôi đi tới boong tàu để từ giã cha và rồi chúng tôi sẽ phải leo lên mạn tàu. Khi còi tàu thổi, nỗi buồn trong tôi dâng lên đến nỗi tôi có thể chết đi được nếu phải xa lìa cha tôi. Tôi ôm cổ cha và khóc lớn tiếp. Và khi tiếng còi tàu thổi lần hai với âm thanh u sầu và đơn độc, tôi muốn chết lặng nếu không có bàn tay của “Người Bạn Mới” gỡ tôi ra khỏi bàn tay của cha tôi. Lúc đó, nước mắt tôi đã cạn khô. Tôi nhìn cha và “Người Bạn Mới”. Trong giọng nói dịu dàng của “Người Bạn Mới” tôi hiểu rằng : “Chúa Giêsu nhân lành muốn thế.”

Giả như khi ấy tôi có ở lại với cha, tôi cũng sẽ không thể làm được điều gì. Và vì yêu Chúa Giêsu và “Người Bạn Mới” hơn cả cha tôi, nên khi coi tàu thổi lần chót, tôi can đảm rời boong tàu mà không khóc. Khi tàu rời bến tôi vẫy chiếc khăn mùi soa từ biệt cha, người mà trước đây vài phút, tôi đã nghĩ không thể nào có thể lìa xa được.

Sau vài tháng ở địa điểm mới, cha tôi được phép trở về thăm Jaguarao. Lúc đó cha tôi đem về cho tôi một món quà to và đẹp : một chiếc xe máy nhỏ. Tôi có thể đi quanh đường phố. Đó là niềm vui lớn nhất đối với tôi. Mỗi ngày sau khi trở về nhà và làm bài tập xong, tôi đem xe ra chạy từ ngã tư này tới ngã tư kia. Vì chỗ tôi ở là những con đường chẳng bằng phẳng để chạy xe, nên tôi cứ phải quẹo luôn. Một ngày Chúa nhật kia, Zita, đứa bạn tôi đến thăm tôi. Nó có một chiếc xe đạp nhỏ. Nó nói với tôi : “Chúng mình hãy chạy tới quảng trường chính đi. Đây là chỗ lý tưởng để chạy xe. Đường rất bằng phẳng, dài và rộng, chạy xe đã lắm. Dân chúng ở Jaguarao thường có thói quen tụ họp ở quảng trường này vào các chiều Chúa nhật, và thứ năm. Ban nhạc kèn đồng và các nhóm hoà nhạc vừa được thiết lập ở trung tâm quảng trường ngày. Có những cuộc diễu hành dài của các cô, các bà và trẻ con từ ngoại ô đi vào thành phố. Trong khi đó đàn ông và thanh niên ngồi ở quán hay tụ họp thành từng nhóm ở các quầy bán thực phẩm. Trẻ con chơi đầy trên lưng ngựa gỗ.

Mẹ tôi cho phép tôi đi chơi với Acacia và Zita. Đó là lần đầu tiên tôi dự những buổi gặp mặt đông người ngoài trời. Khi chúng tôi tới quảng trường, tôi đạp bàn đạp và đi chung quanh quảng trường. Tay lái quẹo thật êm ru trên con đường bằng phẳng vì không phải tránh ổ gà. Tôi về nhà với một niềm vui khôn tả. Tôi hẹn với Zita sẽ trở lại quảng trường đó vào chiều Chúa nhật kế tiếp chúng tôi hoà vào dòng xe chạy quanh ngoài quảng trường.

Năm 1909, cha Godogredo Evers được phân công giải tội cho các học sinh trong trường. Cha cũng là một trong các thầy giáo của các nam sinh ở trường Ginasio, nơi thường được gọi là Ginasio Espirito Santo.

Trường ngày nằm ngay trước quảng trường chính của tỉnh. Một chiều thứ bảy khi tôi đi xưng tội, vị linh mục tài đức này nói với tôi : “Cecy, cha không thích con dành các chiều thứ bảy để chạy xe quanh quảng trường, con hiểu chứ ? Tôi rất hiểu nhưng sau đó tôi quên bẵng đi. Ngày thứ bảy đã tới, theo thói quen, tôi lạy chạy xe xuống đó, vì đây là thú tiêu khiển của tôi. Ngay lúc đó tôi thấy cha giải tội ngồi ở trên một lan can xây nhô ra từ một cửa sổ của trường học. Cha bị che một nửa vì cái chấn song, nhưng vẫn nhận ra tôi và vẫy tay chào tôi. Thứ bảy kế tiếp, cha lại nói với tôi lần nữa về việc tôi chạy xe ở quảng trường. Nhưng rồi hôm sau ngày Chúa nhật, các bạn tôi lại đến rủ tôi đạp xe với họ. Tôi lại quên lời cha giải tội. Nhưng “Người Bạn Mới” cũng không phản đối nên tôi cứ đi. Vì thế, tôi lại thêm một lần vui với các bạn.

Quảng trường dầy đặc người. Tôi thấy cha Godofredo đang ngồi đọc sách hoặc cầu nguyện ở chỗ hôm trước. Cha nhận ra tôi, bởi vì mỗi lần tôi vòng tới chỗ cha ngồi, cha lại nhìn tôi và mỉm cười với vẻ hồn nhiên của tôi. Hai lần cảnh cáo của cha như nước đổ đầu vịt, vào tai này rồi qua tai kia. Bỗng nhiên tôi sực nhớ lại lời cha dặn. Ngay lúc đấy, có một cuộc cãi vã xảy ra ngay dưới chân pho tượng Nữ Thần tại trung tâm quảng trường. Lập tức, mọi người xô nhau chạy tới để xem. Tôi đang ở ngoài tầm quan sát của Acacia bởi vì cô đang đứng đối diện quảng trường khi tôi chạy vòng quanh. Khi tiếng cãi vã nổi lên, các bạn tôi ngừng xe đạp và nói : “Tới coi đi.” Thế là mấy đứa đạp xe tới pho tượng. Tôi cũng hứng khởi ra khỏi xe và chạy theo chúng. Nhưng tôi không thể đi được một bước, vì đôi tay của “Người Bạn Mới” đang nắm vai tôi. Tuy nhẹ thôi, nhưng tôi không thể đi được. Tôi quay đầu qua bên phải và nhìn thấy người. Tất cả xảy ra rất nhanh. Lúc này tôi đang ở trước quảng trường Ginasiô. Tôi thấy mặt “Người Bạn Mới” buồn sầu, đồng thời tôi cũng thấy cha Godofredo đang hối hả chạy xuống bậc thang ở lối cổng chính, rồi băng qua đường để đến với tôi.

Tôi không hiểu gì, vẫn ngạc nhiên và không thể cử động. Khi tới gần tôi, cha Godofredo nói với tôi cách êm ái nhưng nghiêm nghị : “Con phải về nhà ngay lập tức và đừng có trở lại đây nữa. Nếu không con sẽ làm cho Chúa Giêsu buồn.” Lúc đó, tôi mới hiểu được sự quan trọng trong những lời khuyên bảo của cha. Không phải do cha, nhưng là một mệnh lệnh của Chúa Giêsu mà tôi đã không vâng theo. Một nỗi hối hận chân thành tràn đầy linh hồn tôi và tôi bắt đầu khóc. Tôi nói với vị linh mục thánh thiện : “Cha ơi, con không biết Acacia ở đâu và con không biết đường về nhà một mình. Cha có thể đưa con về không ?” Cha Godofredo nhìn tôi một chút. Có lẽ tâm hồn đầy nhiệt huyết tông đồ của cha đã vượt thắng tính tự nhiên, nên một tay cha dắt tôi, tay kia cha đẩy cái xe máy, cha đưa tôi tới góc phố gần nhà để tôi đi về. Để từ giã tôi với lời khuyền : “Con hãy về với sự chúc lành của Chúa Giêsu nhân từ và dưới sự che chở của Thiên Thần Bản Mệnh.” Tôi trả lời : “Con cám ơn cha nhiều lắm. Con sẽ không bao giờ bất tuân nữa.”

Mới đi được vài bước thì tôi nghe Acacia gọi tôi. Tôi đợi cô đi tới. Khi cô tới nơi, tôi nói : “Cháu muốn về nhà và không thấy cô đâu nên cháu nói cha Godofredo dẫn cháu về.” Tôi rất đỗi ngạc nhiên khi thấy mắt Acacia trợn to và giận dữ : “Phải, bà hoàng của tôi ơi ! Bà không biết kính trọng một ai à ? Bà nghĩ rằng cha Godofredo là đầy tớ của bà phải không ?” Tôi hối hận vô cùng vì sự không vâng lời của tôi. Acacia nói chuyện này với mẹ tôi, và mẹ đã kể lại với cha tôi. Ngày hôm sau cha tôi viết một lá thư cho cha Godofredo. Tôi cũng đi với Acacia để đưa lá thư đó. Tôi nhớ rằng tôi đã khóc mấy đêm liền vì hối hận, tôi đã làm buồn lòng Chúa Giêsu nhân từ. Nhưng rồi khuôn mặt “Người Bạn Mới” không còn buồn sầu. Sự nhân từ của người đã cho tôi thấy mình đầy tội lỗi. Thứ bảy sau đó, tôi đi xưng tội và thú lỗi với cha Godofredo. Tôi hứa sẽ không bao giờ tới quảng trường vào các chiều thứ năm và thứ bảy. Với ơn Chúa, tôi đã giữ lời hứa cách trung thành. Chúa nhật tới, thay vì đi xuống quảng trường chính, chiếc xe máy của tôi vẫn ở tại nhà. Tôi đi đến nhà thờ để làm việc đền tội mà cha Godogredo đã dạy tội. Ở đó, trước bàn thờ Đức Mẹ, tôi cầu nguyện bằng kinh Mân Côi cho tất cả các trẻ em ở Jaguarao.

Comments are closed.