Linh đạo Truyền giáo

0

LINH ĐẠO TRUYỀN GIÁO

Theo Ad Gentes, Evangelii Nuntiandi, Redemptoris Missio

Dẫn nhập

 Bất kỳ tôn giáo nào trên thế giới cũng đều có một linh đạo. Linh đạo đó được coi như ‘kim chỉ nam’ hướng dẫn toàn bộ con người của họ, nhờ đó họ có thể đạt tới một chân lý vẹn toàn. 

Hoạt động truyền giáo của Hội Thánh cũng có một linh đạo để hướng dẫn đời sống của người làm công tác truyền giáo. Linh đạo này đã được Công đồng Vaticano II đặc biệt quan tâm khởi đi từ sắc lệnh Truyền giáo[1] (Ad Gentes), và được phác họa một cách rõ nét qua tông huấn Loan Báo Tin Mừng[2] (Evangelii Nuntiandi) của đức giáo hoàng Phaolô VI. Sau cùng, đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đề cập linh đạo truyền giáo một cách trực tiếp trong thông điệp Sứ vụ Đấng cứu thế[3] (Redemptoris Missio).

Linh đạo”, theo nghĩa rộng, là bất cứ giá trị tôn giáo hay đạo đức nào đã được cụ thể hóa như một thái độ hay tinh thần chi phối các hoạt động của con người. Theo nghĩa này, chúng ta có thể nói đến linh đạo Phật giáo, linh đạo Nho giáo, linh đạo Lão giáo, linh đạo Ấn giáo… Còn theo Kitô giáo, “linh đạo” là ‘sống theo Thần Khí’ (Rm 8,4). Lối sống này có liên quan đến thái độ bên trong của con người. Người mang sứ vụ rao giảng Tin Mừng sống “linh đạo truyền giáo” là sống theo tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho chúng ta tham dự một cách trung thành và tin tưởng vào sứ mạng của Chúa Kitô[4]

Mọi Kitô hữu, nhờ bí tích rửa tội, được mời gọi để sống thực tại Kitô giáo và sứ mạng của Giáo Hội, vì sứ mạng của Giáo Hội là sứ mạng của chính Chúa Kitô, Đấng đã truyền cho các tông đồ sứ mạng mà Ngài tiếp nhận từ Cha, nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần (x.Lc 4,18). Vì thế, người làm công tác truyền giáo cần phải sống ơn của Chúa Thánh Thần như Đức Kitô, cũng như mọi hoạt động truyền giáo của Gíao Hội phải được thúc đẩy bởi Chúa Thánh Thần.

Sau đây là một vài gợi ý về ‘linh đạo truyền giáo’ theo các tài liệu hướng dẫn của Hội Thánh.

1.  Luôn sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần

     Đó là mối quan tâm đặc biệt mà Đức Gioan Phaolô II đã nói trong thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Độ: là người hoàn toàn vâng phục Thần Khí, tức là người “để cho Thần Khí uốn nắn bên trong, hầu luôn trở nên giống Đức Kitô hơn”[5]. Về kinh nghiệm này, thánh Phaolô trong thư Roma giải thích như sau: người tuân theo các thôi thúc của ân sủng là người “bước đi trong Thánh Thần”, là người được Chúa Thánh Thần tác động (x. Rm 8,4.14).  Như thế, cả cuộc đời tại thế của Đức Giêsu là một chuỗi vâng phục theo sự thúc đẩy của Thánh Thần: khởi đi từ biến cố Nhập thể (x. Lc 1, 35), rồi Người được Thần Khí dẫn vào hoang địa để chịu cám dỗ 40 đêm ngày (x. Mt 4,1); và đang khi chịu phép thanh tẩy tại sông Gio-đan, Người được đầy Thần Khí (x. Lc 3, 22), sẵn sàng khởi đầu sứ vụ rao giảng và vâng phục Người hoàn toàn cho đến chết.  

Trước lời mời gọi của Đức Kitô trong hành trình rao giảng khắp nơi trên đất Do Thái, các Tông đồ cũng vì mến Chúa, nên đã quảng đại đi theo Người loan báo tin mừng. Nhưng Kinh Thánh còn cho biết: họ vẫn chưa hiểu nổi những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, cũng như chưa thể nhận ra những dấu chỉ tình yêu mà Người giành cho nhân loại, nhất là khi Người bước vào con đường đau khổ và sự chết. Chỉ sau khi Đức Kitô phục sinh và trao ban Chúa Thánh Thần, tâm trí các Tông đồ mới được mở ra, lòng tràn đầy niềm vui hoan lạc vì có Chúa ở cùng. Kết quả của lời rao giảng đầu tiên đã có rất nhiều đàn ông đàn bà xin theo đạo (x. Cv 2).

Sứ vụ truyền giáo hôm nay của Giáo Hội cũng không ngoài con đường mà cộng đoàn các Kitô hữu tiên khởi đã trải qua, nghĩa là các nhà truyền giáo ngày nay cũng gặp nhiều khó khăn, thử thách khi thi hành sứ vụ đem Tin Mừng đến cho mọi người. Nhưng dù có khó khăn đi nữa, thì Thánh Thần – Đấng tùy ý ban phát các đoàn sủng và sức mạnh – sẽ ban cho họ ơn can đảm để trung thành với Tin Mừng, và trở thành những chứng nhân sống động của Đức Kitô, đến nỗi họ coi thường tính mạng, sẵn sàng đón nhận đau khổ cho đến hơi thở cuối cùng vì danh Đức Giêsu Kitô.

Như thế trọn cuộc đời của Đức Kitô đã để cho Thần Khí uốn nắn và hướng dẫn, để Người hoàn tất sứ mạng cứu chuộc mà Chúa Cha đã trao cho Người. Còn chúng ta, những người mang thân phận mỏng dòn, yếu đuối và bất lực… càng phải để cho Người uốn nắn biết bao! Nếu không, chúng ta sẽ không thể rao giảng[6].

2.    Sống tinh thần ‘sai đi’ của Đức Kitô

Những ai được mời gọi làm chứng cho Chúa phục sinh, thì cũng được mời gọi để sống tinh thần ‘sai đi’ của Đức Kitô. Tinh thần đó đã được nhắc đến qua các thông điệp, tông huấn và sắc lệnh của Giáo Hội.

Thật vậy, vấn đề được quan tâm đầu tiên là sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa, để hoàn toàn dấn thân phục vụ rao giảng Phúc Âm[7]. Nhưng kết quả của việc dấn thân và phục vụ này, còn tùy thuộc rất nhiều nơi nhà truyền giáo, nhờ thấm nhuần đời sống và sứ mệnh của Đức Kitô, hoặc được Chúa Thánh Thần thúc đẩy và củng cố. Để đứng vững trong ơn gọi đặc biệt này, Công đồng mời gọi các nhà truyền giáo biết từ bỏ chính mình, và từ bỏ những gì mình có, để “trở nên mọi sự cho mọi người” (1Cor 9,22)[8]

Như vậy, việc “từ bỏ” được xem như một trong các điều kiện để người môn đệ có thể thi hành sứ vụ như Đức Kitô. Trong thư gửi tín hữu Philiphê, thánh Phaolô đã quảng diễn tấm gương “từ bỏ” của Đức Kitô như sau: “Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì, địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2, 6-7).  Việc ‘trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ’ của Đức Kitô không chỉ vì Người muốn làm theo ý Chúa Cha (x.Pl 2,8), mà còn cho thấy Người muốn nên một với con người, để dẫn đưa con người về cùng Thiên Chúa.  

Theo gương Đức Kitô, nhà truyền giáo cũng sẽ bước đi trên cùng một con đường với thày mình, mà đích điểm chính là thập giá. Nên khi bước vào con đường hẹp của Tin Mừng, người môn đệ phải dấn thân từ bỏ tất cả, nhất là việc tìm kiếm những thỏa mãn trong tiền tài, danh vọng, tiện nghi, lợi lộc và các sở thích vật chất để phục vụ Tin Mừng. Vì theo thánh Phaolô, những nết xấu do tính xác thịt chi phối dễ nổi loạn chống lại tinh thần; và “ai bị tính xác thịt chi phối, thì không thể vừa lòng Thiên Chúa” (Rm 8, 8).  Trái lại, người sống theo Thần Khí, tức là sống khiêm nhường, đơn sơ, nhịn nhục, quên mình, hy sinh, bác ái…, thì hướng về những gì thuộc về Thần Khí, tức là có sự sống và bình an (x. Rm 8,5-6).  Vì thế, thánh Công đồng khuyên nhủ các nhà truyền giáo luôn biết sống khiêm nhường, sẵn sàng từ bỏ mình để thực sự trở nên người môn đệ đích thực của Chúa Kitô[9].

Ngoài sự “từ bỏ” bằng ý chí, sống tinh thần “sai đi” của Đức Kitô còn đòi hỏi một sự từ bỏ ngặt nghèo hơn nữa, đó là thời gian, tình thân thiết với gia đình, người thân, bạn bè, láng giềng và cả quê hương xứ sở, để lên đường phục vụ trong Thánh Thần tại các miền truyền giáo xa xôi, hẻo lánh. Đức Gioan Phaolô II đã nhìn vấn đề này trong chiều kích sứ vụ, nên Ngài nói: “việc từ bỏ người thân hay của cải tại quê hương, chính là để nhà truyền giáo trở nên anh em của những người mình được sai đến, và mang Đức Kitô đến cho họ”. Đây cũng chính là linh đạo mà nhà truyền giáo đại tài Phaolô đã làm khi thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng cho các dân ngoại. Ngài xác định rõ, ngài phục vụ là vì Tin Mừng : “Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu…với mọi người, tôi đã nên mọi sự, để dầu sao cũng cứu được ít người.  Mọi sự tôi làm, đều là vì Tin Mừng..” (1Cor 9, 22b-23).

Như vậy, tất cả những gì làm cản trở nhà truyền giáo trong việc theo Đức Kitô và thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng, thì cần phải dứt khoát loại bỏ, để việc phục vụ Tin Mừng thực sự trở nên hữu ích cho mọi người (x.1Cor 9, 22)

3.  Chúa Thánh Thần, tác nhân chính trong sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội

Có lẽ không ai phủ nhận vai trò và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong lịch sử nhân loại, đặc biệt là trong sứ mạng ‘đến với muôn dân’. Sứ mạng này đã được Đức Kitô phục sinh trao cho các tông đồ, là những người đã cùng ăn cùng ở với Người, và cũng là những người đầu tiên trong Hội Thánh. Qua những con người này, Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục “ngự trị như một chủ thể siêu việt[10] để họ có thể thực hiện sứ vụ đó trong con người và trong lịch sử thế giới. 

Kinh Thánh Cựu ước diễn tả sự hiện diện và hoạt động của Thần Khí ngay từ buổi đầu khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ (x.St 1,1). Thần Khí được liên kết với sự sống và ban sự sống, nên sự hiện diện của Người trong thế giới được diễn tả như một quyền lực ẩn tàng để hoạt động và hướng dẫn lịch sử hướng tới những chân lý vẹn toàn và sự thiện hảo của Ba Ngôi Chí Thánh[11]. Hơn nữa, Kinh Thánh còn cho thấy Người hoạt động trên con người, những người Do Thái như vua Saul, vua David… và còn làm cho những người tầm thường khác trở nên mạnh mẽ, thành những “sứ giả của Thiên Chúa”[12] hoặc “người của Thiên Chúa”[13] để công bố sứ điệp của Người cho dân như ngôn sứ Môsê[14], Giêrêmia[15], Amos[16], Edêkiel…

Trong Tân ước, Thần Khí không chỉ hiện diện và hoạt động trong cuộc đời của Đức Giêsu tại thế (từ lúc nhập thể cho đến khi chết, sống lại và lên trời), mà còn gắn liền với sứ mạng loan báo Tin Mừng của Người. Đặc biệt khởi đi từ lễ Ngũ Tuần, Thần Khí của Đấng phục sinh đã đặt trên môi miệng các tông đồ những lời lẽ mà tự sức họ không thể làm được; đồng thời cũng chính Người đã chuẩn bị tâm hồn của những người nghe, để họ sẵn sàng mở rộng trái tim đón nhận Tin Mừng được loan báo từ các tông đồ[17].

Trong sự xác tín mạnh mẽ ấy, tông huấn Loan Báo Tin Mừng của đức Phaolô VI khẳng định rõ rằng: “ngay cả khi những kỹ thuật, những kế hoạch, những chương trình, những lược đồ và cả những lời lẽ biện luận chắc chắn nhất đã được chuẩn bị một cách tốt nhất để loan báo Tin Mừng cũng không thể thay thế hoạt động âm thầm của Chúa Thánh Thần[18]. Qua tông huấn này, Đức Giáo Hoàng muốn tha thiết mời gọi mọi người, đặc biệt là các nhà truyền giáo, không ngừng kêu xin Chúa Thánh Thần để Ngài dẫn dắt, điều khiển mọi chương trình, mọi hoạt động rao giảng Tin Mừng của chúng ta.

4.  Yêu mến Giáo Hội và con người[19]

Giáo huấn của Giáo Hội còn đề cao tinh thần yêu mến Giáo Hội và con người nơi nhà truyền giáo. Vì như Đức Kitô, đấng đã yêu mến và phó mình vì Giáo Hội thế nào (x. Ep 5,25), thì nhà truyền giáo cũng phải theo gương thày mình, yêu mến và phó mình cho Giáo hội như vậy.

a.  Yêu mến Giáo hội

Theo hướng dẫn của Đức Phaolô VI, yêu mến Giáo Hội trước hết là xây dựng sự hiệp nhất giữa các môn đệ, hay giữa những người truyền giáo với nhau. Sự hiệp nhất này không chỉ là bằng chứng cho thấy chúng ta là môn đệ của Đức Kitô, song còn là lời chứng sống động cho sứ mạng của Chúa Giêsu, vì Ngài đến là để quy tụ mọi con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi (x.Ga 11,52).

Hơn nữa, dấu chỉ ‘hiệp nhất’ giữa các tín hữu còn là con đường và là khí cụ của việc loan báo Tin Mừng, chứ không phải ‘chia rẽ’; vì nếu chúng ta chia rẽ, là chúng ta làm hoen ố công cuộc rao giảng của Chúa Kitô[20]. Công đồng Vaticano II khẳng định rằng: “sự chia rẽ giữa các Kitô hữu gây tai hại cho công việc rất thánh thiện là rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo, và còn khép kín con đường đưa tới đức tin đối với nhiều người” (AG 6). Vì thế, tinh thần này phải được thể hiện bằng sự trưởng thành trong đức tin, sẵn sàng chia sẻ với nhau những khó khăn, những căng thẳng thực tế, và không ngừng cùng nhau tìm kiếm chân lý cách chân thành và vô vị lợi[21]. Thánh Phaolô còn chia sẻ : nỗi ray rứt hàng ngày của Ngài là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh! (x. 2Cr 11, 28). Vậy nếu nhà truyền giáo trung tín, hiệp nhất với Chúa Kitô, thì cũng trung tín và hiệp nhất với Hội Thánh của Người[22]

b. Yêu mến con người

Đối tượng của công cuộc truyền giáo là con người. Do đó, nhà truyền giáo cần có tình yêu như Đức Kitô mục tử nhân lành : biết chiên, tìm chiên và hiến mình vì chiên. Khởi đi từ tình yêu này, nhà truyền giáo được thôi thúc bởi “lòng nhiệt thành với các linh hồn”, là quan tâm, ân cần, trắc ẩn, đón tiếp, sẵn lòng, lo lắng đến những vấn đề của con người mà không phân biệt màu da, tiếng nói, chủng tộc, giai cấp xã hội…, nói chung là thực thi bác ái đối với mọi người, ưu tiên cho những người nghèo, những trẻ em đường phố và những người bất hạnh bị xã hội ruồng bỏ[23]

Theo Đức Gioan Phaolô II, yêu mến con người hôm nay cần tỏ cho họ biết là họ cũng được Thiên Chúa yêu thương; đồng thời cho họ biết họ cũng có khả năng yêu thương người khác như mọi tín hữu, bởi vì họ cũng là con cái Thiên Chúa, là dấu ấn tình yêu và ở trong trái tim yêu thương của Người.

5.  Nhà truyền giáo đích thực là một vị thánh

 Trong thông điệp Sứ vụ Đấng Cứu Độ, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có ghi nhận rằng : linh đạo truyền giáo là đường dẫn tới sự thánh thiện, do đó, nhà truyền giáo đích thực cũng chính là một vị thánh. Vậy trở nên thánh thiện là gì ?

 Chính Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trả lời : nhà truyền giáo trước hết phải dấn thân theo đuổi con đường thánh thiện, vì “sự thánh thiện là nền tảng cốt yếu và là một điều kiện tuyệt đối không thể thay thế để chu toàn sứ vụ cứu độ của Giáo Hội[24].  Như vậy, sự thánh thiện theo ơn gọi Kitô giáo và ơn gọi truyền giáo có một mối liên hệ mật thiết với nhau, nghĩa là người tín hữu cùng một lúc được mời gọi trở nên thánh thiện và truyền giáo. Nhưng làm thế nào để nuôi dưỡng sự thánh thiện và truyền giáo?

Theo sắc lệnh Ad Gentes số 25, Công đồng khuyên nhủ nhà truyền giáo cần nuôi dưỡng sự thánh thiện và truyền giáo bằng đời sống thiêng liêng, cầu nguyện, hy sinh, tận hiến chính mình, gia tăng lòng yêu mến Chúa và các linh hồn. Còn tông huấn Evangelii Nuntiandi số 76 của đức giáo hoàng Phaolô VI, cũng quan tâm đến việc nuôi dưỡng này bằng đời sống cầu nguyện, nhất là bằng lòng mến đối với bí tích Thánh Thể. Riêng với đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, thông điệp Redemptoris Missio số 91 lưu ý nhắc nhớ các nhà truyền giáo phải canh tân đời sống mỗi ngày bằng sự hoán cải, đào tạo giáo lý và mục vụ hợp thời, chiêm niệm trong hành động để có thể loan báo Đức Kitô một cách thuyết phục hơn.

Song song với việc nuôi dưỡng sự thánh thiện và truyền giáo, nhà truyền giáo còn phải trở nên bạn hữu với người mình rao giảng, nghĩa là gắn bó, gần gũi với họ như anh em trong cùng một cha trên trời. Thánh Phaolô đã chia sẻ kinh nghiệm này khi nói rằng: “chúng tôi thật gắn bó với anh em, đến nỗi không chỉ muốn chia sẻ Tin Mừng của Thiên Chúa với anh em, mà còn trở nên những người thân mến của chúng tôi” (1Th 2, 8). Thật vậy, cung cách sống hòa đồng như thánh Phaolô không phải là để “mị” người mình rao giảng, nhưng là để chia sẻ niềm vui thánh thiện, tôn trọng lương tâm cũng như quyền tự do tín ngưỡng, đặc biệt đối với những người không cùng tôn giáo. Điều quan trọng là nhà truyền giáo phải luôn trung thành với chân lý, nhất là chân lý của mạc khải. Vì chân lý này, nhờ lý trí, con người có thể hiểu, nhưng không thể hiểu thấu, nên cần phải không ngừng tìm kiếm để có thể truyền đạt chân lý đó cho người khác.

Tuy nhiên, dù cho việc nắm bắt chân lý có bị hạn chế, nhưng nhà truyền giáo vẫn “không bao giờ được phản bội hay che đậy chân lý vì muốn làm vui lòng người nghe, vì muốn gây ngạc nhiên, vì muốn tạo nên giựt gân, hay vì muốn lập dị háo danh.  Người đó không được chối bỏ chân lý, không phiền phức hay vì sợ hãi.  Người đó không được phép khinh thường việc nghiên cứu. Người đó phải phục vụ chân lý cách quảng đại mà không kiềm chế chân lý[25].

Sau cùng, việc nuôi dưỡng sự thánh thiện và truyền giáo mà thế giới hôm nay đang mong đợi nơi các nhà truyền giáo, đó là sự vâng phục và khiêm tốn, siêu thoát từ bỏ mình và từ bỏ mọi sự. Vì nếu không có những dấu hiệu về sự thánh thiện, thì những lời chúng ta rao giảng, hoặc những hành động chúng ta làm… khó đi vào lòng người; hoặc cũng có nguy cơ trở thành uổng công, vô hiệu[26].  Do đó, đức giáo hoàng Phaolô VI đã khích lệ các nhà truyền giáo phải nuôi dưỡng lòng nhiệt thành luôn, nhờ đó, việc rao giảng cũng sẽ làm cho người rao giảng được lớn lên trên đường thánh thiện.

Để kết

Linh đạo truyền giáo của Giáo Hội khởi đi từ chính linh đạo của Chúa Kitô trong sứ vụ loan báo Tin Mừng mà Ngài lãnh nhận từ Chúa Cha nhờ tác động của Chúa Thánh Thần.  Nhà truyền giáo đích thực không thể rao giảng Tin Mừng nếu không bắt chước gương của Chúa Kitô và không sống theo linh đạo của Người.

Nt. Maria Phạm Thị Hoa


[1] Công đồng Vaticano II, sắc lệnh “Hoạt động truyền giáo của Giáo Hội (Ad Gentes), (7.12.1965), số 23-27.

[2] Phaolô VI, tông huấn “Loan báo Tin Mừng”, (Evangelii Nuntiandi), (8.12.1975), số 74-80.

[3] Gioan Phaolô II, thông điệp “Sứ vụ Đấng Cứu Thế” (Redemptoris Missio), (7.12.1990), số 87-91.

[4] X.Bifet Esquerda J., Spiritualità missionaria, in Dizionario di Missiologia, Edizioni Dehoniane, Bologna 1993, p. 481.

[5] RM 87.

[6] X. EN 75.

[7] AG 24.

[8] X. AG 24.

[9] X. AG 24.

[10] RM 21.

[11] EA 15.

[12] Is 44, 26.

[13] 1V 17,18.

[14] Xh 3,11-4,7.

[15] Gr 1,46.

[16] Am 3,3-8.

[17] X. Cv 2.

[18] EN 75.

[19] RM 89.

[20] X. EN 77.

[21] X. EN 77.

[22] X.PO 14.

[23] RM 89.

[24] CL 17.

[25] EN 78.

[26] X. EN 76.

Comments are closed.