Triều đại 38: Thánh Giáo hoàng Siriciô

0

Đức Siriciô sinh tại Rôma, làm phó tế dưới thời các Đức Giáo hoàng Libêrô và Đamasô I, được dân chúng quý mến, hoàng đế Valentinianô II kính trọng và xem như nhà lập pháp.

Tiếp nối đường lối cứng rắn và dân chủ của Đức Đamasô I, ngài tái khẳng định quyền tối cao của Giáo hoàng Rôma về kỷ luật và giáo luật. Sau khi được bầu làm Giáo hoàng , Đức Giám mục Himêriô thành Tarragone gởi cho ngài danh sách gồm 15 vấn đề về Bí tích Rửa tội, Truyền chức, Sám hối và Hôn nhân. Ngài đã trả lời dựa trên những khẳng định của Công đồng Nicêa (325) và Công đồng Sarđica (343). Bức thư này có giá trị như văn kiện chính thức đầu tiên của ngài mang hình thức một Sắc lệnh của Giáo hoàng liên quan đến vấn để kỷ luật của Giáo hội.

Ngài là vị Giáo hoàng đầu tiên sử dụng tước hiệu Papa (Đức Thánh Cha), một từ có nguồn gốc tiếng Hy Lạp. Đến nay cách xưng hô này vẫn được công nhận, từ này ghép bởi những chữ đầu của thành ngữ: Petri Apostoli Potestatem Accipiens (người nhận quyền của Tông đồ Phêrô). Ngài chủ trương đưa ra luật độc thân cho linh mục và phó tế. Chỉ các Giám mục mới có năng quyền phong chức linh mục. Là vị Giáo hoàng có uy thế và được sự kính nể của nhiều người, ngay cả hoàng đế. Lịch sử ghi nhận hoàng đế Thêôđôsô II phạm trọng tội tiêu diệt 7000 người trong cuộc tiến chiếm thành Thêsalonica vì nổi loạn chống lại hoàng đế. Hoàng đế đã hối cải và xin xá tội. Ngài tha tội nhưng bắt phải chịu một khoản tiền phạt và hình phạt bêu nhục công khai trước quần chúng. Ngài đã hăng say chống lại Lạc giáo nhờ sự hỗ trợ của thánh Ambrôsiô Giám mục thành Milanô. Tại Công đồng Capoue năm 392, ngài đã lên án Bônôsiô, Giám mục thành Sarđica vì tội phủ nhận sự đồng trinh của Đức Maria. Cũng thế, ngài đã lên án tu sĩ Giovinianô và loại trừ khỏi Giáo hội tại Công đồng tại Rôma cũng vì tội đã phủ nhận sự đồng trinh của Đức Mẹ và luật độc thân Giáo sĩ.

Một trong những công trình ngài để lại là Vương cung thánh đường thánh Phaolô ngoại thành được xây trên chính ngôi mộ của thánh Phaolô trên đường Ostiensê, vì ngài đã cung hiến đền thờ này năm 390. Ngài qua đời ngày 26-11-399, được an táng trong nhà thờ thánh Praxède ở Rôma.

Comments are closed.