Chân dung Cha Đa Minh theo các nhân chứng – Phần 1

0

 CHÂN DUNG CHA ĐA MINH THEO CÁC NHÂN CHỨNG

(Học viện Đa Minh, Tiến trình phong thánh tại Bologna, Chân dung Cha Đa Minh theo các nhân chứng, 2012, tr.9-117)

Lời giới thiệu

Một trở ngại cho người muốn viết tiểu sử về cha Đa Minh (đặc biệt là về linh đạo của Dòng Anh Em Giảng Thuyết) là không tìm thấy bút tích nào của người (kể cả di chúc cũng chẳng có). Chúng ta không có quyền “tự thuật” tương tự như của thánh Augutinô hay thánh Inhaxiô. Nhưng bù lại, chúng ta có những chứng tích của những người sống đương thời với cha Đa Minh.

I. Giá trị

Tập tài liệu mà chúng tôi hân hạnh giới thiệu mang hai giá trị đặc biệt, xét trong lịch sử Giáo hội cũng như trong lịch sử của cha Đa Minh.

1/ Xét trong lịch sử Giáo hội, đây là một trong những tài liệu đầu tiên về thủ tục phong thánh. Đại khái, trong thiên niên kỷ đầu của Kitô giáo, việc phong thánh mang tính “tự phát”, do lòng sùng mộ của Dân Chúa tại một địa phương, và được Đức Giám mục chuẩn nhận. Sang thiên niên kỷ thứ hai, Tòa thánh bắt đầu can thiệp vào các sứ vụ phong thánh, từ chỗ hợp tác với Giám mục địa phương đến chỗ dành riêng cho mình thẩm quyền này. Thủ tục này được ấn định với việc ban hành bộ tuyển tập Giáo luật Decretales ngày 05/11/1234 do Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IX, vị Giáo Hoàng đã phong thánh cho cha Đa Minh bốn tháng trước đó. Do đó, vụ án phong thánh cho cha Đa Minh là một trong trường hợp đầu tiên “thử nghiệm” thủ tục của Tóa thánh. Hơn thế nữa, đây là hồ sơ duy nhất còn sót lại, bởi vì những hồ sơ khác đã bị tiêu hủy sau khi kết thúc cuộc điều tra; thế nhưng không hiểu do duyên nợ gì mà hồ sơ của cha Đa Minh còn được lưu trữ.

2. Xét trong lịch sử của Dòng, đây là tài liệu đầu tiên viết về thánh Tổ phụ, mở màn cho các tác phẩm khác sẽ tiếp tục ra đời, chẳng hạn như Libellus de principiis Ordinis praedicatorum (1234-35) và các Legenda dùng trong phụng vụ2. Chúng ta được nghe lời chứng của những người đã sống lâu năm bên cạnh cha Đa Minh, đặc biệt là vào những năm cuối đời.

Tuy nhiên, khi đọc tài liệu này, chúng ta cũng nên lưu ý đến vài giới hạn của nó.

– Đây là lời chứng khi được triệu ra trước tòa. Không phải người chứng muốn nói gì thì nói, nhưng thường chỉ trả lời những câu hỏi đã được đặt ra từ trước hoặc ngay tại buổi thẩm vấn.

– Mục tiêu của cuộc điều tra xoay quanh hai điểm chính: a) đời sống nhân đức; b) các phép lạ. Tiểu sử cuộc đời không nằm trong đối tượng của cuộc thẩm vấn. Dĩ nhiên, đôi khi nhân chứng thuật lại vài tích góp trong cuộc đời của cha Đa Minh, nhưng không ai thuật lại tường tận diễn tiến toàn thể nội vụ hoặc thứ tự mạch lạc các dữ kiện.

– Mặt khác, các nhân chứng đều phải tuyên thệ trước khi công khai. Họ buộc phải tường thuật đúng sự thật chứ không thêm thắt. Dưới phương diện phê bình lịch sử, điểm này rất quan trọng. Các nhân chứng kể lại điều “mắt thấy”, chứ không phải “tai nghe” (những tin đồn)

II. Hoàn cảnh

Cha Đa Minh qua đời ngày 06/08/1221.

Anh em không tha thiết gì với việc phong thánh3. Công cuộc chỉ bắt đầu rục rịch từ khi hài cốt của cha được chuyển sang một ngôi mộ mới (đêm 23 tháng 05 năm 1233, ngày thứ hai sau lễ hiện xuống), dưới sự chủ tọa của đặc sứ Tòa thánh (Đức cha Thêôđôrô, Tổng Giám mục Ravenna), với sự tham dự của các anh em đang tham dự Tổng hội. Nhiều sự tích lạ lùng xảy ra vào dịp đó đã thúc đẩy anh em xúc tiến việc phong thánh4.

Nói đúng ra, chính là ủy ban hành chánh thành phố cùng với đại học Bologna đã cử một phái đoàn thỉnh nguyện Tòa thánh xin phong thánh cho cha Đa Minh (anh em ta chỉ ký vào thỉnh nguyện chứ không gửi người đi ké). Đức Giáo Hoàng ra lệnh mở án phong thánh ngày 13 tháng 07 năm ấy, và cử ba ủy viên là giáo sư Tancred, Tổng Phó tế Bologna5, Thomas Ubaldino (sau này làm Giám Mục Imola và qua đời năm 1269), kinh sĩ Palmerio (thuộc Dòng thánh Augustinô). Phiên tòa chính diễn ra tạiBologna, và một phiên tòa thừa ủy diễn ra tạiToulouse.

Dòng đề cử cha Philip Vercelli, một chuyên viên giáo luật, làm thỉnh nguyện viên cho vụ án, với nhiệm vụ cung cấp các tài liệu, tìm các nhân chứng.

A. Phiên tòa Bologna

Phiên tòa bắt đầu chính thức vào ngày 06/08/1233 (giáp năm cha Đa Minh qua đời) với việc tuyên thệ sẽ khai sự thực về phía 9 nhân chứng, và kéo dài cho đến ngày 17/08. Mỗi ngày một nhân chứng được gọi đến (trừ hai ngày 14-15 vì trùng với lễ Đức-Mẹ lên trời). Các nhân chứng đều là tu sĩ của Dòng và đã quen biết cha Đa Minh kể từ khi lập Dòng. Những chứng tích xảy ra vào giai đoạn trước đó (nghĩa là thời kỳ ở Tây Ban Nha và Pháp) sẽ được bổ túc ở phiên tòaToulouse. Dù sao, trong số các nhân chứng cũng có hai anh em đồng hương với cha Đa Minh: Gioan Navarrê (số 5) và Stêphanô Tây Ban Nha (số 7).

1/ Bônaventura Vêrôna (được chính cha Đa Minh trao áo dòng năm 1219, và nhận lời khấn), Bề trên Tu viện Bologna vào năm 1220 (và có lẽ đã từng làm Giám tỉnh Lombardia). Cha đã nghe cha Đa Minh xưng tội lần cuối cùng trước khi qua đời. Chứng từ của cha Bônaventura dài nhất, và đã kể lại nhiều câu nói của cha Đa Minh, đặc biệt là lúc lâm chung6.

2/ William de Monferrato: Lần đầu tiên gặp cha Đa Minh lại Rôma năm 1217, khi còn đang làm sinh viên thần học tại Paris, anh hứa sẽ vào Dòng sau khi tốt nghiệp. Điều này đã xảy ra năm 1219 tại Tu viện Saint Jacques ở Paris, khi lãnh áo dòng do tay vị sáng lập và tháp tùng cha Đa Minh về Bologna. Vào năm 1233, cha tham dự tổng hội Bolognavới tư cách diffinitor của tỉnh Lombardia. Hai năm sau, cha được Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IX sai đi truyền giáo cho dân Sarraxênô7.

3/ Amizo Solario (hay Amizo Milan). Vào dòng năm 1219, và từng làm Bề trên Padova vàMilan.   8.

4/ Bonviso Piacenza. Cha vào Dòng năm 1219 khi đã tốt nghiệp luật học. Cha thường được tháp tùng cha Đa Minh trong các chuyến hành trình9.

5/ Gioan Navarrê. Cũng gọi là Joannes Hispanus, tuy sinh trưởng tại Saint Jean Pied de Port (địa phậnBayonne). Vào Dòng từ ngày 28/08/1215 tại Toulouse, nghĩa là một trong  số các tu sĩ tiên khởi Dòng Anh Em Giảng Thuyết. Năm 1217, cha được cha Đa Minh sai đi Paris mở Tu viện, và đến năm 1218 lại được sai đi Bologna để mở Tu viện tại đây. Khi được gọi làm nhân chứng, có lẽ cha đang dạy học tại Paris.

6/ Rudolph Faenza. Vào Dòng tại Bologna vào mua Chay năm 1219, nhưng đến tháng Bảy đã giữ chức quản lý tu viện cho đến khi cung khai trước tòa án10.

7/ Stêphanô Hispanus, người Tây Ban Nha, sang Bologna học luật, vào Dòng năm 1219 vì bị quyến rũ bởi lởi giảng hấp dẫn của cha Reginald. Giám tỉnh Lombardia từ năm 1227 đến 1238, và sau đó được bổ làm Tổng Giám Mục Oristano, ở đảo Sardaigne (Italia)11.

8/ Phaolô Venice, vào Dòng năm 1219. Chứng từ của cha có điểm thú vị là thuật lại một phép lạ chữa bệnh để có sức ra hầu tòa.

9/ Frugerio Penna, vào Dòng năm 1219, cùng lúc với Phaolô Vinice12.

Đây là một nguồn tài liệu rất quý giá để biết về tiểu sử và chân dung tinh thần của cha Đa Minh.

B. Phiên tòa Toulouse

Ngày 19/08/1233, các ủy viên Tòa thánh viết thư ủy quyền cho ba giáo sĩ Toulouse để tiến hành thủ tục lấy lời khai các nhân chứng sống ở vùng Languedoc (Prouible, Fanjeaux, Montréal): Phêrô, Viện phụ nhà thờ thánh Saturninus ở Toulouse; Raymond Donat, Tổng Phó tế nhà thờ thánh Stêphanô ở Toulouse; Pons, Tổng Phó tế nhà thờ Saturninus.

Phiên tòa bắt đầu trong thời gian cuối năm 1233 sang đầu năm 1234. Tổng số các nhân chứng tại Toulouse là 27, trong đó có 3 Viện Phụ, một kinh sĩ, nhiều đan sĩ, vài giáo sĩ, một nữ đan sĩ; phần còn lại là các giáo dân. Chúng ta không biết gì về tiểu sử của các nhân chứng này; nói chung họ không có trình độ học thức cao13.

Sau khi kết thúc giai đoạn điều tra về các nhân đức và phép lạ, hồ sơ được chuyển về Roma. Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IX ký sắc dụ phong thánh ngày 03/07/1234 tại Rieti. Nên biết là vào thời ấy, chưa có sự phân biệt giữa “phong chân phước” (beautificatio) và “phong hiển thánh” (canonizatio).

Nguyên văn hồ sơ bằng tiếng La-tinh14. Bản dịch này dựa theo bản tiếng Anh: The Process of canonization, in: Saint Dominic. Biographical document. Ed. F.C. Lehner,Washington 1964

(http://domcentral.org/trad/domdocs.0003.htm)

*Một vài từ ngữ không dịch sát:

– Master Dominic: cha Đa Minh. Vào thời Trung cổ, master (magister) có thể là giáo sư (đại học), lãnh đạo, Bề trên.

– Blessed Dominic: cha Đa Minh. Nếu dịch sát thì phải nói “chân phước Đa Minh”, nhưng vào thời Trung cổ “beatus” không có nghĩa là chân phước hay á thánh như ngày nay.

– Brother: Anh, tu sĩ.

Ước mong người đọc sẽ cảm thấy gần gũi với cha Đa Minh nhờ được tiếp xúc với nếp sống của người.

TIẾN TRÌNH PHONG THÁNH TẠI BOLOGNA

Giới thiệu

Tiến trình phong thánh cho cha Đa Minh gồm hai ủy ban điều tra: một tại Bologna và một tại Toulouse. Cả hai bộ hồ sơ ở hai nơi này đều trình bày chính thức, và chứng nhân chứng kiến tận mắt sự thánh thiện của Cha Đa Minh. Thực vậy, các hồ sơ này là những nguồn chính yếu để thế giới biết về sự thánh thiện của cha Đa Minh.

Tôi muốn ghi chú một vài nguyên tắc và sự kiện để độc giả thế kỷ XX có thể hiểu rõ và nhận biết điều nhân chứng ở thế kỷ XIII đang thuật lại. Một nguyên tắc chính quan trọng cần phải nhớ là những người này không ghi chép lại những gì họ nhớ về cha Đa Minh để ai đó có thể sử dụng nguồn tài liệu ấy viết lên một tiểu sử. Mục đích chính của họ là muốn trình bày những sự kiện và những kinh nghiệm đáng nhớ liên quan đến cha Đa Minh vốn sẽ dùng làm bằng chứng về sự thánh thiện của người. Những lời khai phải được các chứng nhân tuyên thệ trước ủy ban điều tra Giáo hội, tương tự như “bồi thẩm đoàn” thời nay. Ủy ban thứ nhất với những ủy viên hội đồng đã lắng nghe chứng nhân vùng Bolognatại Bologna vào tháng 08 năm 1233, đúng sau 12 năm từ khi cha Đa Minh qua đời.

Đức Giám Mục và thị trưởng Bologna đã phái một đoàn đại biểu đến gặp Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IX để xin phép ngài mở một cuộc điều tra về cuộc đời cha Đa Minh hầu xác định xem Giáo hội có thể phong thánh cho cha Đa Minh được hay không? Trong buổi thảo luận về việc phong thánh với các Hồng Y, Đức Giáo Hoàng rằng ngài không còn nghi ngờ về sự thánh thiện của cha Đa Minh cũng như không hồ nghi gì về thánh Phêrô và thánh Phaolô. Đức Grêgôriô đã biết rõ cha Đa Minh, và lúc đó Đức Grêgôriô là Đức Hồng Y Ugolino đã chủ tọa lễ tang của cha Đa Minh. Theo lời thỉnh cầu của cư dân Bologna, Đức Giáo Hoàng đã bổ nhiệm ba ủy viên hội đồng để khai mạc và chủ tọa toàn bộ tiến trình điều tra này. Sự ủy nhiệm này là hồ sơ đầu tiên được trình bày dưới đây.

Ở Bologna, các anh em Đa Minh đã chỉ định anh Philip Vercelli làm cổ động viên vụ án phong thánh này. Anh đã quy tụ các chứng nhân biết về cha Đa Minh, và chỉ dẫn kỹ lưỡng cho họ các thông tin cần thiết mà ủy ban điều tra đòi hỏi. Để quyết định cha Đa Minh là một vị thánh hay không, các ủy viên hội đồng, Đức Giáo Hoàng, và Trụ sở Dòng ở Rôma phải biết, liệu trong đời sống của cha Đa Minh, người có để lại chứng từ về sự thánh thiện quả cảm hay không? Các nhân chứng phải tường trình những tác động thực sự từ sự thánh thiện vĩ đại này – nếu họ nhớ lại mình đã chứng kiến những tác động như thế. Điều này quyết định thẩm quyền và đặc tính từ những lời tường trình của các nhân chứng này. Vì thế, độc giả ngày nay không phải mong chờ tìm kiếm thông tin nào “trọn vẹn” hơn mục đích đặc biệt như thế đòi hỏi.

Cả ở Bologna và Toulouse, những chứng từ được thu nhập và ghi chép lại theo phương pháp mà vào thời đại chúng ta vẫn được xử dụng, nhưng với độ chính xác cao. Philip Vercelli, cổ động viên vụ án phong thánh này, hình như đã thảo ra một danh sách những đề mục nhỏ để từ đó các nhân chứng sẽ đưa ra lời chứng của họ về sự thánh thiện và các nhân đức của cha Đa Minh. Trong khi thủ tục này làm bạn hạn chế sự đa dạng trong các lời chứng, thì nó cũng ngăn ngừa được những suy nghĩ lan man tưởng tượng của chứng nhân, đồng thời giúp chứng nhân chỉ tập trung vào những yếu tố cần thiết.

Chúng ta dễ dàng hình dung việc khảo lại danh sách những đề mục nhỏ do các điều tra viên sử dụng lại Toulouse. Danh sách này xem ra bao gồm hai mươi lăm đề mục rõ ràng: (1) nhiệt thành đối với các linh hồn, (2) nhiệt tâm cầu nguyện, (3) nhiệt tâm giảng thuyết, (4) thái độ đối với những người lạc giáo, (5) yêu mến đức khó nghèo, (6) sự hy sinh quên mình, (7) tính quảng đại với tha nhân, (8) đức khiết tịnh, (9) tính khiêm tốn, (10) tính kiên nhẫn, (11) lòng can đảm trước nghịch cảnh, (12) niềm vui trong cảnh cùng khốn, (13) lòng đạo đức, (14) sự từ bỏ, (15) an ủi kẻ đau ốm, (16) khích lệ những ai đang rơi vào sự cám dỗ, (17) yêu mến việc tuân giữ kỷ luật tu trì (18) mẫu gương tuyệt vời cho anh em, (19) xa lánh vinh quang trần thế, (20) lòng quảng đại, (21) lòng hiếu khách, (22) sự thân thiện với các Dòng tu khác, (23) kiểu giường ngủ, (24) kiểu y phục, (25) lòng nhiệt thành cho đức tin và cho hòa bình.

Những chứng từ tại Toulouse thì ngắn hơn những lời cung khai tại Bologna. Các nhân chứng tại Bologna thường xuyên được phép mở rộng những câu trả lời của mình để minh họa cho một điểm nào đó. Do đó, họ thường trích dẫn các mẫu gương mà những người khác không nói đến. Việc tường thuật này được bắt đầu bằng mệnh lệnh điều tra của Đức Giáo Hoàng Grêgôriô IX.

Bản văn

SẮC LỆNH CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GRÊGÔRIÔ IX

VỚI VIỆC THIẾT LÂP ỦY BAN ĐIỀU TRA.

Rôma, ngày 13 tháng 07 năm 1233

Giám Mục Grêgôriô, tôi tớ các tôi tớ của Thiên Chúa, mong muốn gởi lời chào thân ái đến các con yêu dấu là Tancerd, Tổng Phó tế Bologna, Thomas Ubaldino, Bề trên Tu viện thánh Maria ở Reno, và Palmerio là kinh sĩ nhà thờ Chúa Ba Ngôi ở Campagnola, thuộc Dòng thánh Augustinô, cả ba anh em đều thuộc hai giáo phận Bologna và Reggio.

Đấng Tạo Hóa Toàn Năng và Vĩnh Cửu của mọi vật hữu hình và vô hình luôn che chở những con người mà Ngài đã tạo nên bằng hồng ân vĩnh cửu của mọi sự tốt lành. Tuy nhiên, Ngài còn đi xa hơn thế khi ban tặng cho con người sự sống mới bằng việc liên tục ban phát những hồng ân mới, vốn là những dấu chỉ quan tâm của Ngài đến thân phận con người và những tác động từ sự khao khát của Ngài cho con người được cứu độ. Điều này được tỏ lộ qua cảnh tượng vui mừng vì những hoa trái gần đây và ơn nhưng không của những hoa trái mới.

Vì vậy, để chỉ cho các tín hữu thấy con đường đưa đến niềm vui vĩnh cửu, để gia tăng đức tin, đức cậy, và đức mến của mọi người, để hướng dẫn những kẻ đang ngồi trong bóng tối sự chết vào con đường bình an và ánh sáng vĩnh cửu, Đấng Tác Tạo ra mặt trời mặt trăng, từ ngai tòa cao thẳm, đã đem lại nguồn ánh sáng khác chiếu soi bằng ánh sáng vô tận. Những điều này cho thấy một sự đa dạng vô tận nơi các phúc lộc và thông ban một niềm vui lớn lao vào những tâm hồn mộ đạo đang tìm kiếm những lâu đài vinh quang nơi nguồn ánh sáng vô tận.

Ngày nay, có nhiều người vui mừng ngay cả khi nhìn thấy một ngôi sao sáng ban ngày, dẫu cho họ có thể nhớ lại việc nhìn thấy rất nhiều ngôi sao vào ban đêm. Các nhà Chiêm tinh cũng từng thấy vui thú khi quan sát các chòm sao mà Đấng Thượng Trí đã sáng tạo lúc khởi đầu, tuy nhiên khi thấy một sao mới ở phương Đông, là dấu hiệu ngày sinh của Vị Vua, họ tràn ngập niềm vui khôn tả. Và mặc dù có sự chiếu sáng trên bầu trời Giáo hội vẻ huy hoàng vinh quang nơi các thánh rồi, nhưng mẹ Giáo hội thánh thiện hạnh phúc xiết bao khi một ngôi sao mới vừa xuất hiện cho thấy rõ ràng một áng sáng duy nhất và trổi vượt. Nhờ ánh sáng này, bóng đêm nơi những người không biết Đức Giêsu bị xua tan, giáo huấn sai lầm của lạc thuyết bị đánh bại, đức tin của các tín hữu được củng cố thêm vững mạnh.

Chúng tôi vui mừng tin tưởng rằng cha Đa Minh, vị sáng lập và Tổng quyền của Dòng Anh Em Giảng Thuyết, là người mà chúng tôi biết rõ, do lòng nhân từ của Thiên Chúa, đã được hợp đoàn cùng chư thánh trên trời. Những dấu hiệu kỳ diệu cho thấy rằng người đã được ban tặng vinh phúc vinh quang. Vì Chúa Chí Tôn Chân Thật đã thực hiện nhiều phép lạ lớn lao cho nhiều người ngay tại mộ cha Đa Minh và ở những nơi khác qua lời cầu khẩn danh người bằng những lời cầu xin thành kính chân thành. Vì thế, Bạn Trăm Năm Thiên Quốc khẳng định và tuyên bố rằng cha Đa Minh được kể vào hàng ngũ các thánh. Việc làm này thì cần thiết vì các nhân đức phi thường mà chúng tôi đã chứng kiến được tỏ lộ một cách đa dạng nơi cuộc đời cha Đa Minh, và vì những phép lạ nổi tiếng được thuật lại để làm sáng tỏ nơi phần mộ thánh của người. Nhưng sự thật về những điều này thì không thể hiển nhiên được chấp nhận đối với những ai hoài nghi, và tính cách nơi một số người không niềm nở mấy đối với bản báo cáo đột xuất về những phép lạ; không phải cái gì lấp lánh đều là vàng, cũng không phải cái gì màu trắng cũng là ngà voi.

Vì thế, với một tầm nhìn xa khôn ngoan, vốn làm chúng tôi mạnh dạn xác tín những điều chắc chắn, và những vấn đề hoài nghi thì từ từ không nên vội tin, giục giã chúng tôi gởi những tông thư vì hành động khôn ngoan của anh em, mà chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào Chúa. Chúng tôi hành động theo mẫu gương Đức Giêsu Kitô, là Ánh Sáng Chân Thực của các thánh, Đấng đã củng cố cho những tâm hồn xao xuyến nơi các môn đệ của Người bằng các dấu chỉ công khai và những điều kỳ diệu hiển hiện, do đó soi sáng vào những tâm trí tăm tối của họ để họ có được sự trợ giúp chắc chắng đích thực nơi ánh vinh quang Phục Sinh tuyệt diệu của Người.

Các anh em cần phải khảo sát đời sống công và tư của cha Đa Minh để biết liệu người thực sự đáng tán dương đối với Thiên Chúa và con người hay không; anh em cần phải khảo sát những phép lạ xuất phát từ sự thánh thiện nơi thân thể người bằng tất cả sự cần mẫn và dè dặt với lòng kính sợ Thiên Chúa; thu thập mọi thông tin trong bản văn, giữ nó cẩn thận với sự đóng ấn của anh em, rồi gởi nó đến cho chúng tôi sau khi anh em nhận được sắc lệnh của chúng tôi. Sắc lệnh này sẽ được gởi đến anh em qua các thông điệp xác thực và trịnh trọng. Nếu tất cả anh em không thể tham gia cùng nhau trong cuộc thẩm vấn này, thì ít nhất hai người trong số anh em nên cố gắng chu toàn đến khi kết thúc tốt đẹp.

Làm tại Lateran, ngày 13 tháng 07, năm thứ bảy của triều đại Giáo hoàng của chúng tôi.

Bản văn

TIẾN TRÌNH PHONG THÁNH TẠI BOLOGNA

Đây là những chứng từ được ghi nhận liên quan đến đời sống công và tư và cái chết của cha Đa Minh, Đấng sáng lập Dòng Anh Em Giảng Thuyết.

1. Do thẩm quyền Đức Giáo hoàng Grêgôriô IX, qua Tancred, Tổng Phó tế Bologna, Thomas Ubaldino, Bề trên Tu viện Thánh Maria ở Reno, và Palmerio là kinh sĩ nhà thờ Campagnola, cả ba người đều thuộc hai Giáo phận Bologna và Reggio, những nhân chứng này được xem là có liên quan đến đời sống công và tư cũng như liên quan đến cái chết của cha Đa Minh, Đấng sáng lập và Tổng quyền tiên khởi của Dòng Anh Em Giảng Thuyết. Họ đã được anh Philip Vercelli, một kinh sĩ cùng Dòng, giới thiệu. Anh Philip được anh Bônaventura, Bề trên Tu viện và nhà thờ thánh Nicholas thuộc Dòng Anh Em Giảng Thuyết ở Bologna và công hội của nhà thờ Nicholas được quy tụ theo thói quen qua dấu hiệu tiếng chuông vang chỉ định làm cổ động viên vụ án phong thánh cho Đa Minh. Các nhân chứng này cũng được biết là có liên quan đến những phép lạ Thiên Chúa thực hiện qua những công trạng của cha Đa Minh, cả trước và sau khi qua đời. Lời chứng này được tuyên thệ trước sự hiện diện của ba ủy viên hội đồng vào năm 1233, năm thứ 6 của triều Giáo hoàng.

(1)  LỜI CHỨNG CỦA ANH BÔNAVENTURA VÊRÔNA

Giới thiệu

Vào năm 1233, anh Bônaventura Vêrôna là người đầu tiên trong chín nhân chứng về đời sống, tương giao và sự qua đời của cha Đa Minh, đã kể cho các điều tra viên ở Bologna. Anh đã được chính Đấng sáng lập nhận vào Dòng vào đầu năm 1220. Tại Tổng hội được tổ chức một năm sau đó, anh đã được bầu làm Bề trên Tu viện thánh Nicholas ở Bologna. Vị trí này đã đặt anh vào tương quan mật thiết với cha Đa Minh trong năm cuối đời của người nên lời chứng của anh là vô cùng quí giá. Bônaventura là một trong những anh em cuối cùng, cùng với cha Đa Minh thảo luận những công việc của Dòng. Hơn nữa, anh có một đặc ân lớn là được giải tội cho cha Đa Minh trong hành trình cuối đời của người.

Bản văn

2. Vào ngày 06 tháng 08, anh Bônaventura Vêrôna, linh mục và Bề trên Tu viện Dòng Anh Em Giảng Thuyết ở Bologna, đã tuyên thệ là nhân chứng đầu tiên. Anh khẳng định rằng anh gia nhập Dòng Anh Em Giảng Thuyết được hơn 13 năm, do chính cha Đa Minh thúc đẩy; anh đã nhận áo dòng từ nay cha Đa Minh và tuyên khấn trong tay người. Vào thời điểm đó, chính cha Đa Minh được sự hậu thuẫn của Đức Giáo hoàng, đã có toàn quyền để tu chỉnh, quản trị và lập pháp cho toàn Dòng Anh Em Giảng Thuyết. Cũng vào năm đó, chính anh Bônaventura Vêrôna đã có mặt ở Bologna vào Tổng hội đầu tiên. Tại thời điểm đó, cha Đa Minh đã mong muốn Tổng hội chỉ định các giám định viên, là những người có toàn quyền trên toàn Dòng, trên cả Bề trên Tổng quyền và từng giám định viên. Họ có quyền lập pháp, tu chỉnh, bổ nhiệm và ra biện pháp chế tài, nhưng vẫn tôn trọng quyền hạn của Tổng quyền. Anh Bônaventura Vêrôna đã tháp tùng cha Đa Minh vào thành phố Bologna và cũng cùng với người ra khỏi thành phố để đến Tỉnh dòng Lombardy, là người bạn đường thân thiết trong các chuyến đi và tạm trú, cùng dùng bữa và cùng cầu nguyện.

3. Cũng vậy, anh Bônaventura Vêrôna nói rằng khi cùng đi, cha Đa Minh mong ước chính người hoặc anh em mang Lời Chúa đến cho tất cả những ai theo người. Anh Bônaventura Vêrôna biết điều này là do anh thường xuyên thấy điều ấy diễn ra. Hơn nữa, đang khi đi đường, cha Đa Minh luôn mong muốn tranh luận, nói chuyện, hay đọc về Chúa hoặc cầu nguyện. Khi đi như vậy, hầu như ngày nào người cũng dâng lễ nếu thấy nhà thờ. Khi dâng lễ, người khóc rất nhiều, vì chính nhân chứng đã thấy điều này diễn ra. Nếu có nhà nguyện ở nơi trú ngụ thì người luôn đến cầu nguyện ở đó. Lúc ở ngoài Tu viện, khi nghe thấy tiếng chuông kinh nguyện ban mai từ các Đan viện, người liền thức dậy và đánh thức anh em; bằng sự phụng hiến dâng trào, người đã đọc các Giờ kinh thần vụ đêm và ngày theo các giờ ấn định hầu không bỏ sót giờ nào. Khi phải lên đường sau giờ kinh tối, người vẫn giữ thinh lặng và yêu cầu các anh em cùng đi cũng giữ thinh lặng như đang ở trong Tu viện. Cũng vậy, khi cùng đi vào buổi sáng, các anh em cũng phải giữ thinh lặng tới giờ kinh ba. Và trên những chuyến hành rao giảng, cha Đa Minh ngủ vẫn mặc áo dòng như ban ngày và cởi giày nhưng vẫn mang vớ.

4. Anh Bônaventura Vêrôna cũng khẳng định rằng khi đi đường, Đấng sáng lập đã giữ chay liên tục từ lễ Suy Tôn Thánh Giá cho đến lễ Phục Sinh, và người cũng giữ chay theo luật Giáo hội quy định vào mùa hè và các ngày thứ Sáu. Trong các cuộc hành trình, người không phàn nàn những của ăn mà người ta cho, ngoại trừ rằng người ý thức không dùng thịt, món ăn có chất béo hay thịt được bày biện. Nếu vào lúc nào đó trong những cuộc hành trình, thức ăn và nước uống không đủ, thì xem ra người lại vui. Điều này được biết đến nhờ kinh nghiệm thực sự của nhân chứng này. Hơn nữa, khi đến nơi anh em đã lập Tu viện, người qui tụ anh em lại, giảng dạy, giải thích Lời Chúa và hết lòng an ủi, động viên họ.

5. Anh Bônaventura Vêrôna cũng khẳng định rằng khi cha Đa Minh lưu lại bất cứ Tu viện nào trong một thời gian ngắn, thì người vẫn tuân theo lề thói của Tu viện về ăn uống và giữ luật đầy đủ, trọn vẹn và nỗ lực giữ luật theo khả năng của mình để những anh em khác có thể noi theo. Những điều này cũng được biết từ việc quan sát tận mắt. Anh Bônaventura Vêrôna nhớ lại rằng cha Đa Minh không bao giờ làm ngược lại bất cừ điều gì mình nói. Nhân chứng này cũng chưa bao giờ nghe hay thấy người nói điều nào vô bổ hay gièm pha bất kì ai. Anh cũng nói rằng cha Đa Minh rất thánh thiện, thông minh, khôn ngoan, kiên nhẫn, nhân từ, công bằng, giàu lòng thương xót và thân thiện; nhân chứng này khẳng định cả đời mình chưa từng thấy ai đạo đức, thánh thiện như cha Đa Minh, dù nhân chứng này đã từng biết và gặp nhiều tu sĩ đạo hạnh ở nhiều nơi trên thế giới. Anh Bônaventura Vêrôna cũng quả quyết rằng, trước sự hiện diện của nhiều linh mục và những người khác, trong suốt thời kỳ đau ốm cho đến lúc cha Đa Minh về với Chúa, anh Bônaventura đã nghe lời thú tội chung của cha Đa Minh liên quan đến tất cả những công việc của người. Vì lời xưng thú này, anh Bônaventura Vêrôna tin tưởng rằng cha Đa Minh chưa bao giờ phạm tội nặng và luôn giữ đức khiết tịnh. Sau đấy, cha Đa Minh nói thầm với anh Bônaventura Vêrôna rằng: “Anh ơi, tôi đã phạm tội vì đã nói cách công khai về sự trong sạch của tôi trước mặt anh em, lẽ ra tôi không nên nói chuyện này trước mặt mọi người”.

6. Anh Bônaventura Vêrôna còn nói thêm rằng, khi anh đi trên đường, cha Đa Minh đã thăm các cơ sở Dòng tu, bất kể Dòng nào, rao giảng cho cộng đoàn này và khuyến khích họ sống tốt. Chính anh Bônaventura Vêrôna thường xuyên chứng kiến điều này. Nếu bất cứ anh em nào trong Dòng của người hay Dòng khác bị cám dỗ hoặc có điều phiền muộn và đến gặp cha Đa Minh để tâm sự, người hết lòng khuyến khích để họ cảm thấy được an ủi cách sâu sắc khi họ rời khỏi người. Anh Bônaventura Vêrôna thường chứng kiến điều này ở khắp Tỉnh Dòng Lombardy, cụ thể là tại Milan, tại Đan viện Xi tô Columba, và ở nhiều nơi khác. Anh cũng nói rằng, trừ khi có việc ngăn trở lớn, cha Đa Minh quy tụ các anh em và hầu hết mỗi ngày rao giảng cho họ.

Hơn nữa, người cha thánh thiện thường khóc rất nhiều và làm cho nhiều người khác phải ứa lệ. Cũng thế, cha Đa Minh là một người sốt sắng yêu mến luật Dòng và nghiêm khắc phạt các anh em lầm lỗi; nhưng cha Đa Minh lại dùng những hình ảnh phạt bằng những lời ngọt ngào và tử tế nên các anh em vui vẻ chấp nhận những hình phạt này. Cha Đa Minh luôn chuyên cần cầu nguyện kinh Thần vụ. Anh Bônaventura Vêrôna chứng thực rằng cha Đa Minh thường xuyên thức suốt đêm chìm đắm cầu nguyện trong dòng nước mắt tuôn trào. Khi được hỏi làm sao biết sự việc này, anh Bônaventura Vêrôna trả lời rằng anh thường xuyên nhìn thấy cha Đa Minh trong nhà nguyện vừa khóc vừa cầu nguyện, và thỉnh thoảng người thiếp đi khi quá mệt mỏi. Vì nhiều lần thức khuya cầu nguyện, nên cha Đa Minh thường gục thiếp ngay tại bàn ăn.

7. Cũng thế, anh Bônaventura Vêrôna chứng thực rằng, theo như anh nhớ lại, vào khoảng cuối tháng Bảy, cha Đa Minh trở lại Venicia từ dinh của Đức Ugolino, lúc đó ngài là Giám mục Ostia và là đặc sứ Tòa Thánh. Anh Bônaventura quả quyết rằng Venicia là chỗ thích hợp; và cha Đa Minh mệt lử khi quay trở lại vì thời tiết quá nóng. Dù rất mệt mỏi, nhưng cha Đa Minh đã bàn luận với anh Bônaventura, tân Tu viện trưởng sau này, và anh Rudolph trong suốt đêm hôm đó về các vấn đề các vấn đề liên quan đến Dòng. Vì muốn cha Đa Minh ngủ sớm, cha Bề trên Tu viện yêu cầu cha Đa Minh nghỉ ngơi, và đừng thức dậy lúc giờ kinh Đêm. Nhưng người cha thánh thiện này không bằng lòng lời đề nghị ấy, đã vào nhà nguyện và cầu nguyện suốt đêm. Hơn nữa, cha Đa Minh còn có mặt trong giờ kinh Sáng. Anh Bônaventura Vêrôna nghe biết điều này từ các anh em, cũng như từ chính cha Đa Minh. Sau giờ kinh, cha Bề trên đã nghe anh em nói rằng cha Đa Minh cảm thấy đau đầu. Quả đúng là sau đó cha Đa Minh đã bắt đầu suy yếu do cơn bệnh cho đến khi về với Chúa. Anh Bônaventura Vêrôna tiếp tục nói rằng khi cảm thấy bị bệnh, cha Đa Minh không muốn nằm trên giường, nhưng muốn nằm trên bao bố. Người gọi các Tập sinh tới, với những lời ngọt ngào nhất và lòng nhiệt thành vui tươi, đã khích lệ các em làm việc lành thánh. Người kiên nhẫn chịu đựng hết bệnh này đến bệnh khác, không bao giờ kêu ca, nhưng luôn vui tươi đón nhận.

8. Khi cha Đa Minh lâm bệnh nặng, các anh em đưa người đến một nơi an dưỡng của Tu viện thánh Maria nằm trên núi. Khi biết mình sắp lìa trần, cha Đa Minh cho gọi cha Bề trên và các anh em đến. Khoảng 20 anh em ở đó cùng với cha Bề trên. Sau khi mọi người quy tụ quanh cha Đa Minh, đang nằm trên giường bệnh, cha Đa Minh bắt đầu giảng thuyết và ban một bài huấn từ rất hay và cảm động. Anh Bônaventura Vêrôna tin rằng họ xức dầu cho cha Đa Minh sau đó. Rồi anh Bônaventura Vêrôna nghe được vị đan sĩ quản nhiệm nhà thờ này nói rằng nếu cha Đa Minh qua đời ở đó, ngài sẽ không cho phép mang xác cha Đa Minh đi nhưng sẽ được chôn cất trong nhà thờ này. Khi chính anh Bônaventura Vêrôna thưa điều này cho cha Đa Minh, thì cha Đa Minh nói lại rằng: “Xin Thiên Chúa để tôi được chôn cất dưới chân anh em tôi. Hãy mang tôi ra ngoài để chết trên đường để các anh em có thể chôn cất tôi ngay trong chính thánh đường riêng của anh em”. Sau đó, cha Đa Minh được đưa đi và mang trở lại nguyện đường thánh Nicholas ở Bologna, mặc dù anh em vẫn e ngại cha Đa Minh có thể qua đời trên đường. Khoảng sau một giờ, cha Đa Minh đã cho gọi Bônaventura Vêrôna và nới với anh ấy rằng: “Anh em hãy chuẩn bị tinh thần”. Khi cha Bề trên và các anh em khác đã chuẩn bị trang nghiêm và đã quy tụ chung quanh người để đọc kinh nguyện phó linh hồn, cha Đa Minh nói với cha Bề trên và các anh em rằng: “Hãy chờ một chút ít nữa”. Trong khi chờ đợi, cha Bề trên nói với cha Đa Minh: “Thưa cha, cha có biết cha sắp để lại cho chúng con nỗi sầu khổ và buồn thế nào không. Xin cha hãy nhớ cậu nguyện cho chúng con trước mặt Chúa”. Cha Đa Minh giơ hai tay lên trời và cầu nguyện rằng: “Lạy Cha Chí Thánh, Cha biết rõ con luôn ở lại trong ý định của Cha như thế nào, đã bảo vệ và giữ gìn những người này mà Cha đã ban cho con. Con xin dâng họ cho Cha. Xin Cha gìn giữ và bảo vệ họ”. Và anh Bônaventura Vêrôna cón nói thêm rằng khi anh em hỏi cha Đa Minh những gì liên quan đến chính họ, cha Đa Minh những gì liên quan đến chính họ, cha Đa Minh đã trả lời họ rằng: “Tôi sẽ còn mang lại nhiều ích lợi và hoa trái hơn nữa cho anh em sau khi chết, hơn cả lúc tôi còn sống”. Sau một khoảng thời gian ngắn, cha Đa Minh đã truyền cho cha Bề trên và các anh em: “Hãy bắt đầu”. Và họ bắt đầu cử hành long trọng giờ kinh nguyện phó linh hồn. Và, chính cha Đa Minh cũng đọc kinh nguyện với anh em, bởi vì môi người mấp máy. Đang khi đọc kinh, cha Đa Minh phó linh hồn trong tay Chúa. Mọi người xác tín rằng linh hồn lìa khỏi cha Đa Minh khi những lời này được cất lên: “Subverite, Sancti Dei… Xin hãy đến giúp người, lạy các Thánh của Thiên Chúa, xin mau đến gặp người này, lạy các Thiên Thần của Chúa: đón nhận linh hồn người này: xin dâng linh hồn ấy vào ánh tôn nhan của Đấng Tối Cao”. Và anh Bônaventura Vêrôna tin tưởng rằng quả là do lòng nhân từ và sự quan phòng của Thiên Chúa mà Đức Ugolio, Giám mục Ostia, sau đó là Giáo hoàng, và Đức mục Ostia, sau đó là Giáo hoàng, và Đức Thượng phụ Aquilea, với nhiều Giám mục và các Viện phụ đáng kính đã hiện diện tại đám tang của cha Đa Minh. Chính Giám mục Ostia, bây giờ là Đức Giáo hoàng nói rằng cha Đa Minh về với Chúa vào ngày đại lễ kính thánh Sixtus, cách đấy là 12 năm.

9. Vào mùa đông, năm cha Đa Minh qua đời, người ta cảm nhận được hương thơm nồng từ ngôi thánh đường cổ xưa, nơi chôn cất cha Đa Minh. Hương thơm này tỏa khắp ngôi thánh đường và đặc biệt nơi chung quanh phần mộ người. Chính anh Bônaventura Vêrôna cũng ngửi thấy hương thơm ấy. Hơn thế nữa, anh đã nghe nhiều người là những anh em trong Tu viện này hiện còn đang sống nói rằng họ cũng ngửi thấy hương thơm ấy. Hương thơm này lan tỏa ra nhiều ngày, mặc dù vẫn xác tín rằng hương thơm tỏa ra từ phần mộ, nhưng mọi người không biết đây là loại hương thơm gì. Anh Bônaventura Vêrôna cũng nói là anh đã nghe và xác tín rằng Thiên Chúa đã làm nhiều phép lạ qua cha Đa Minh khi người qua đời cũng như những năm sau đó. Anh Bônaventura Vêrôna xác tín và nói ra điều này vì nhiều người đã đến phần mộ này với cây nến, bức ảnh, và những lễ vật khấn nguyện, nói rằng Thiên Chúa đã thực hiện nhiều phép lạ cho họ hoặc cho họ hàng của họ do công trạng của cha Đa Minh. Một số người ước mong đóng lại phần mộ của người anh và người cha của chúng ta và che phủ nó bằng vải lụa, nhưng các anh em lo sợ và ngăn cản chuyện này để nhà Dòng có thể không gặp rắc rối bởi quần chúng và ít nhất một số người có thể dèm pha rằng các tu sĩ đã làm điều này hoặc cho phép làm điều này bởi vì tính tham lam hoặc phô trương.

10. Anh Bônaventura Vêrôna còn đưa thêm lời chứng rằng khi thi hài của cha Đa Minh buộc phải di dời từ nơi cũ đến phần mộ mới như ngày nay, do mệnh lệnh của thị trưởng Bologna, nhiều người vị vọng lo sợ ngôi mộ được di dời khỏi họ cách bí mật nên đã canh gác quan tài trong nhiều ngày. Do đó, khi các anh em đến vào ban đêm để mở phần mộ trước sự hiện diện của thị trưởng, nhiều cư dân thành phố Bologna, những người vị vọng, các tu sĩ, Giám mục và giáo dân, họ đã nhìn thấy phần mộ được đóng lại cách chắc chắn với xi măng cứng và kiên cố đến độ không thể nhấc miếng đá tảng trên nắp mộ. Khi miếng đá này được nhấc lên, một hương thơm rất dịu dàng và lạ kỳ bay tỏa ra. Hương thơm này rất xa lạ đối với những người đang hiện diện ở đó và dường như khác hẳn với tất cả các hương thơm do con người làm nên.

Sau khi nhắc nắp mồ lên, mọi người đã nhìn thấy một cái quan tài bằng gỗ, được cài đóng lại cách cẩn thận với các chốt sắt. Thi hài cha Đa Minh yên nghỉ trong đó. Các anh em cũng mở cái quan tài này và ngay lập tức ngửi thấy một hương thơm ngào ngạt hơn nhiều. Xương thân thể người ở trong cái quan tài mới được khóa lại cẩn thận bằng một chìa khóa, mà thị trưởng vẫn còn giữ. Sau đó, vào lúc bình minh, trước sự hiện diện của các Tổng Giám mục và các Giám mục, quan tài được mở ra và tỏa ra cùng một hương thơm ấy. Cái quan tài chứa các khúc xương được Tổng Giám mục và các Giám mục khác chôn cất trong một phần mộ mới. Phần mộ mới này được mở vào ngày thứ tám trước sự hiện diện của thị trưởng Bologna, nhiều cư dân thành phố, Tổng quyền Jordan, Giám tỉnh, nhiều Tu viện trưởng và các anh em khác. Rồi Tổng quyền Jordan ôm lấy đầu cha Đa Minh cũng như ba trăm anh em Dòng Giảng Thuyết và những người khác ôm lấy và hôn vào. Hơn nữa, tất cả mọi người ngửi thấy cùng mùi thơm kỳ lạ ấy. Mùi thơm kỳ lạ này, là loại khác thường, đã lưu lại trên tay cha Tổng quyền Jordan, anh Bônaventura Vêrôna và tất cả mọi người chạm vào các xương này.

Khi được hỏi làm sao biết được những điều này, anh Bônaventura Vêrôna trả lời rằng anh có mặt tại tất cả các sự việc như đã trình bày trên. Anh cảm nhận được hương thơm không chỉ trên các khúc xương, phẩm phục, quan tài và cát bụi, mà còn cả trên tay của anh và trên tay của các tu sĩ khác khi chạm vào những thứ đã được trình bày ở trên. Anh cũng nói rằng cho đến lúc này, anh thường ngửi thấy hương thơm không sao tả được ấy.

11. Anh Bônaventura Vêrôna chứng thực rằng cha Đa Minh rất nhiệt thành đối với các linh hồn mà người đã trải lòng thương và lòng trắc ẩn, không chỉ cho các tín hữu, mà còn cho cả những lương dân, các dân ngoại và các linh hồn bị đọa đầy trong hỏa ngục. Người hay khóc than cho họ, rất nhiệt tâm trong việc giảng thuyết và trong việc sai các nhà giảng thuyết ra đi, đến độ chính người muốn ra đi và rao giảng cho các dân ngoại. Lại một lần nữa khi được hỏi làm sao biết điều này, anh Bônaventura Vêrôna đáp lại rằng anh nghe được điều này từ cha Đa Minh và từ những anh em khác. Và anh thường tham dự trong các cuộc đối thoại và các buổi hội thảo.

(2) LỜI CHỨNG CỦA ANH WILLIAM DI MONFERRATO

12. Vào ngày mùng 07 tháng 08, tu sĩ William di Monferrato, là linh mục Dòng Anh Em Giảng Thuyết, đã nói dưới lời thề rằng cách đây khoảng 16 năm anh đã đi đến Rôma và lưu lại đó dịp mùa Chay. Đức Giáo hoàng khi ấy là Giám mục hiệu tòa Ostia, đã tiếp đón anh vào nhà của mình. Lúc ấy, cha Đa Minh đang ở Giáo triều Rôma, cũng thường đến nhà Đức Giám mục hiệu tòa Ostia. Nhờ thế, anh William mới biết cha Đa Minh. Anh nhận thấy cộng đoàn cha Đa Minh sống hòa hợp và bắt đầu cảm kích người nhiều hơn. Nhiều lần hai người bàn luận về phương thế cứu độ cho chính họ và cho tha nhân. Với anh William, dường như cha Đa Minh là một tu sĩ trổi vượt hơn hẳn những tu sĩ khác mà anh từng gặp, dù anh đã tiếp xúc với rất nhiều tu sĩ khác; hoặc cũng chẳng bao giờ gặp bất cứ một tu sĩ nào có đầy lòng nhiệt thành về ơn cứu độ cho mọi người như cha Đa Minh.

Cũng năm ấy, anh William đi đến Paris học Thần học. Nhưng anh William và cha Đa Minh đã thỏa thuận trước và đoan hứa rằng sau khi anh William học xong hai năm Thần học và cha Đa Minh đã tổ chức Dòng, thì hai vị sẽ cùng đi hoán cải dân ngoại ở phía Bắc.

Lúc anh William đang học tại Paris, cha Đa Minh từ Tây Ban Nha đến. Sau đó, anh William xin gia nhập Dòng, nhận tu phục Dòng Anh Em Giảng Thuyết từ tay cha Đa Minh. Từ đó trở đi, họ chung sống trong suốt thời gian dài ở những nơi khác nhau. Anh William tháp tùng cha Đa Minh về Giáo triều Rôma cũng như đi đây đó khắp nơi. Anh cùng chia sẻ với cha Đa Minh trong việc ăn, uống, ngủ nghỉ, cầu nguyện, cả lúc bệnh tật cũng như lúc khỏe mạnh.

Trong suốt thời gian chung sống, anh William thấy cha Đa Minh rất nghiêm ngặt tuân giữ luật lệ và những quy tắc của Dòng Anh Em Giảng Thuyết. Dù dễ dàng chuẩn chước cho anh em, cha Đa Minh không bao giờ chuẩn chước cho chính mình. Cha tuân giữ mọi điều được ghi trong luật Dòng, cả lúc mạnh khỏe cũng như lúc bệnh tật. Lần nọ, khi cả hai người đến Rôma, anh William nhận thấy cha Đa Minh đau đớn vì bệnh lỵ hoành hành người. Tuy nhiên, điều đó không làm cho cha Đa Minh bỏ việc chay tịnh, người chẳng ăn thịt cũng không yêu cầu dùng thức ăn riêng nào, trừ dịp đặc biệt thì ăn ít trái cây hay rau rợ. Anh William khẳng định điều này là thật vì anh luôn dùng bữa chung với cha Đa Minh. Khi mắc phải những căn bệnh khác, cha Đa Minh cũng ăn uống như vậy. Khi được hỏi là có thấy Đa Minh bị bệnh ở nơi nào nữa không, thì anh William trả lời rằng: Ở thành phố Viterbo, nhưng không nhớ là căn bệnh gì.

13. Suốt thời gian ở với cha Đa Minh, anh William thường thấy cha Đa Minh khóc. Cha Đa Minh thường đánh thức anh William và các anh em khác bởi những tiếng rên xiết. Anh William quả quyết rằng cha Đa Minh đã dành nhiều thời gian cho việc cầu nguyện hơn là ngủ nghỉ. Khi ngủ, cha Đa Minh luôn mặc áo Dòng và cả áo choàng, đeo tràng hạt thắt lưng và đi giầy. Người chẳng bao giờ ngủ trên giường nệm, mà thường nằm ngủ trên đất hoặc ghế dài có lót ít trấu hoặc rơm rạ.

Cha Đa Minh luôn giữ thinh lặng vào những lúc ấn định theo luật Dòng. Người tránh nói chuyện vô bổ và luôn nói với Chúa hoặc về Chúa cho mọi người.

Khi được hỏi làm sao biết được những chuyện này, anh William trả lời rằng vì anh là bạn thân của cha Đa Minh đến độ ngày đêm luôn bên cạnh cha Đa Minh, vào những lúc đi lại và trong công việc nữa. Anh William đã thấy và nghe tất cả những sự kiện vừa kể trên.

14. Anh William xác tín rằng cha Đa Minh luôn tuân giữ đức khiết tịnh. Anh còn khẳng định điều này là thực vì đã chứng kiến tận mắt đời sống tốt lành của cha Đa Minh. Anh William cũng nghe điều này từ nhiều tu sĩ cũng như từ các tín hữu đạo đức khác đã sống với cha Đa Minh suốt thời gian dài. Được hỏi ai đã kể cho anh điều này, anh William trả lời: Đức Giám mục Osma mà cha Đa Minh là kinh sĩ của ngài, những kinh sĩ khác là những người thực sự đã sống với cha Đa Minh, và những người khác mà anh William không nhớ tên.

15. Anh William cũng hiện diện lúc di dời mộ cha Đa Minh. Thi thể của cha Đa Minh được chuyển từ phần mộ xưa đến nhà thờ và đặt ở nơi như ngày nay. Cha Giám tỉnh và các anh em thuộc nhà thờ thánh Nicholas e ngại rằng sẽ có một mùi hôi thối bốc ra từ mộ cha Đa Minh, vì đây là nơi rất thấp và nước mưa chảy nhiều vào phần mộ này. Trong dịp di dời này, anh em không muốn người ngoài hoặc giáo dân hiện diện khi phần mộ được mở ra, nhưng họ không thể làm chuyện này được. Thị trưởng và 24 người vị vọng ở Bologna cũng hiện diện lúc mở phần mộ; một số người này trước đây đã bảo vệ ngôi mộ này hằng đêm.

Khi họ nhấc tảng đá che phủ phần mộ ra và nhìn thấy quan tài bằng gỗ có thi hài cha Đa Minh, thì một hương thơm lạ lùng và dễ chịu tỏa ra từ ngôi mộ. Anh William không thể xác định được hương thơm này thuộc loại nào. Anh và mọi người đều cảm nhận được hương thơm dịu dàng ấy. Anh cúi xuống hôn quan tài, và nhận thấy hương thơm càng nồng hơn. Những người có mặt ở đó và các anh em cũng làm như vậy và cũng cảm nhận được hương thơm đó, họ đã bật khóc trong niềm vui mừng và lòng mộ mến. Sau cùng, thi hài cha Đa Minh được chuyển đến nơi như ngày nay.

16. Sau đó, anh William thấy nhiều người kể lại trước đây họ chịu đau khổ từ những căn bệnh khác nhau thế nào và đã được chữa khỏi nhờ công trạng của cha Đa Minh ra sao; nhưng anh William không nhớ họ là ai hoặc tên gì. Trước đây, anh không biết họ, vì khi đến đó anh phải lo công việc của Dòng và không thể trì hoãn.

(3) LỜI CHỨNG CỦA ANH AMIZIO MILAN

17. Vào mùng 08 tháng 08, tu sĩ Amizio Milan, linh mục và Bề trên Tu viện Padua, đã khai với lời thề rằng cha Tổng quyền Đa Minh là một người khiêm nhường và hiền lành, kiên nhẫn và tư tế, trầm lặng, thanh thản và khiêm tốn. Người luôn chín chắn trong mọi hành động và lời nói của mình; cha Đa Minh luôn là người an ủi đầy lòng thương cảm đối với tha nhân, đặc biệt đối với anh em của người. Người nhiệt tâm tuân giữ kỷ luật tu trì. Lòng mến mãnh liệt của người trong việc tuân giữ đức khó nghèo nói lên điều đó, không chỉ khó nghèo trong phần ăn uống và tu phục của người và của anh em trong Dòng, mà còn khó nghèo cả trong những việc xây dựng nhà cửa và nhà thờ của những anh em, trong phụng vụ và phẩm phục cử hành nữa. Người tha thiết với điều này và tuân giữ nghiêm ngặt suốt đời mình để ngăn cản anh em đừng dùng những phẩm phục vải quý cho mình hoặc trong các nhà thờ. Trong các nhà thờ, người không cho phép anh em sử dụng những vật dụng bằng vàng hoặc bạc, ngoài trừ chén thánh.

18. Ngày đêm mỗi khi rảnh, cha Đa Minh luôn đắm chìm trong việc cầu nguyện. Người hằng cầu nguyện thâu đêm, đến nỗi người ta ít khi thấy người ngủ trên giường. Người tuân giữ luật Dòng trong mọi sự và không chuẩn chước cho mình dù là điều nhỏ nhất. Người tuân thủ tuyệt đối kỷ luật của Tu viện về kinh nguyện, trong nhà ăn và ở những nơi khác.

Nhiệt tâm với các linh hồn và tận tụy trong việc giảng thuyết, cha Đa Minh khuyến khích anh em mình cũng cần phải có lòng nhiệt tâm như thế. Người hết mực yêu mến và ca ngợi anh em mình và những Dòng tu khác.

Khi được hỏi làm thế nào biết được tất cả điều này, anh Amizio trả lời rằng anh đã sống với cha Đa Minh một thời gian. Anh chứng kiến những điều này và cũng biết được chúng từ cảm nghiệm bản thân; nhiều người khác đã kể cho anh biết và anh xác tín những lời kể này là thật.

19. Anh Amizio đã nghe và tin rằng cha Đa Minh đã tuân giữ đức khiết tịnh trọn đời người. Đây cũng là nhận định chung của anh em.

Vào một đêm không lâu sau, khi vừa di dời thi hài của Đa Minh, trước sự hiện diện của thị trưởng ở Bologna và nhiếu binh lính của ông, cha Tổng quyền, cha Giám tỉnh, đông đảo anh em và các Tu viện trưởng (tất cả mọi người đều khẳng định như vậy), linh cữu cha Đa Minh được mở ra, và tất cả mọi người đều thấy thi hài của cha Đa Minh, kể cả anh Amizio. Khi chứng kiến và hôn xương thánh, anh Amizio hít vào và cảm thấy hương thơm ngạt ngào dễ chịu. Anh chưa bao giờ cảm nhận được hương thơm ngào ngạt này bao giờ.

(4) LỜI CHỨNG CỦA ANH BONVISO

20. Vào ngày 09 tháng 08, tu sĩ Bonviso, một linh mục Dòng Anh Em Giảng Thuyết, đã khai dưới lời thề rằng anh đã gia nhập Dòng Anh Em Giảng Thuyết khoảng 14 năm trước. Anh đã sống với cha Đa Minh được khoảng 10 tháng tại Tu viện thánh Nicholas ở Bologna, sau đó sống tại Rôma và Milan. Hai người lại cùng nhau về Rôma. Anh cũng chăm sóc cha Đa Minh khi người lâm bệnh. 

Để có thể cầu nguyện sau kinh Tối, cha Đa Minh có thói quen lưu lại trong cung nguyện khi các anh em của người đã về phòng ngủ. Vì muốn biết cha Đa Minh làm gì trong nhà thờ, anh Bonviso thường ẩn mình lại và nghe cha Đa Minh cầu nguyện với Chúa trong tiếng nức nở nghẹn ngào và tiếng thở dài liên hồi. Khi được hỏi làm sao biết đó là cha Đa Minh, anh trả lời rằng anh đã nhìn thấy cha Đa Minh qua một ánh đèn trong nhà thờ. Anh cũng nhận ra giọng của cha Đa Minh và vì thế dám quả quyết chắc chắng đó là người. Sự việc cha Đa Minh thường dành thâu đem để cầu nguyện là sự kiện được các anh em biết đến và chính anh Bonviso đã xác tín như vậy.

Dù muốn biết cha Đa Minh ngủ ở đâu, anh Bonviso không sao tìm được nơi người ngủ như các anh em khác luôn có. Thỉnh thoảng anh em thấy cha Đa Minh ngủ trên chiếc ghế dài, đôi khi trên đất, và lắm lúc trên chiếc ghế dựa hoặc trên giường không lót đệm. Ban đêm, khi ngủ, cha Đa Minh mặc tu phục như tu phục người mặc khi đi đường ban ngày. Khi được hỏi làm sao biết những điều này, anh Bonviso trả lời rằng anh đã tận mắt thấy điều đó và các anh em cũng đều biết đến điều ấy.

21. Trong lần đến Rôma, mỗi khi cùng nhau đi ra ngoài phố xá hay làng mạc, cha Đa Minh thường cởi giầy đeo trên vai và đi chân không. Người không để cho anh Bonviso cầm giầy hộ, dù anh muốn giúp người. Khi đến phố xá hay làng mạc khác, cha Đa Minh lại mang giầy vào. Và khi rời khỏi đó, người lại cởi giầy ra và đi chân không cho tới khi đến nơi muốn đến.

Có lần, khi đến nơi có nhiều sỏi đá sắc bén, cha Đa Minh nói với anh Bonviso: “Tôi là người bất hạnh thật! Ở đây trước kia tôi bị ép phải mang giầy”. Anh Bonviso hỏi người tại sao như vậy. Người trả lời vì trời mưa. Khi được thẩm vấn làm sao biết được điều này, anh Bonviso khẳng định rằng anh biết được điều này vì anh ở đó và tận mắt thấy điều ấy.

Khi đi trên đường, hai người có lần gặp cơn bão lớn và mưa như trút. Nước sông ngòi đều dâng cao, nhưng vì luôn vui tươi khi gặp những hoàn cảnh khó khăn, cha Đa Minh, đã ngợi khen và chúc tụng Thiên Chúa bằng việc lớn tiếng hát bài “Mẹ là Ngôi Sao Biển” (Ave Maris Stella). Hát xong bài hát này, người lại cất lên bài khác “Hãy đến, lạy Thánh Thần, Đấng Sáng Tạo” (Veni Creator Spiritus) với giọng ca dõng dạc rõ ràng.

Khi đến vùng nào đó đang bị ngập lụt vì mưa lớn và ứ nước, cha Đa Minh làm dấu Thánh Giá trên nước và nói với anh Bonviso, một người rất sợ nước, rằng anh hãy bước đi nhân danh Chúa. Tin vào dấu Thánh Giá do cha Đa Minh làm và với lòng vâng phục, anh Bonviso đã bước xuống nước và lội đi cách an toàn.

Thỉnh thoảng giúp lễ cho cha Đa Minh, anh Bonviso thường quan sát cách diễn tả tâm tình của người qua khuôn mặt, và thường thấy nước mắt trên mặt người tuôn chảy thành dòng. Anh cũng thấy người khi hát Thánh vịnh.

22. Khi phải dừng lại để ăn uống hoặc vì trời tối, cha Đa Minh không chiều theo ý riêng, nhưng theo sở thích của anh em đi với người. Và khi bị đối xử không tốt, cha Đa Minh lại tỏ thái độ vui mừng hơn là khi được đối xử tử tế. Khi được hỏi làm sao biết được điều này, anh Bonviso trả lời rằng anh đã chứng kiến điều ấy vì anh có mặt ở đó.

Có lần, ở Milan, cha Đa Minh bị bệnh và anh Bonviso chăm sóc cho người. Khi cơn sốt lên cao, anh Bonviso nhận thấy cha Đa Minh không phàn nàn về bệnh tình của mình, mà lại chìm đắm trong lời cầu nguyện và chiêm niệm. Điều ấy biểu lộ rõ qua những dấu hiệu trên khuôn mặt của người, và khi khỏe lại, người vẫn thường tỏ lộ sự chìm đắm trong lời cầu nguyện và chiêm niệm như thế – như anh Bonviso biết rõ. Khi cơn sốt biến đi, cha Đa Minh lại cùng với anh em nói về Chúa, hoặc đọc sách, hoặc nhờ anh em đọc cho nghe. Vì luôn có thói quen vui tươi trong những thử thách hơn là trong lúc bình yên, cho nên người ngợi khen Thiên Chúa và cảm thấy hạnh phúc với bệnh tật của mình.

Có lần, anh Bonviso là quản lý Tu viện Bologna và vì thế phải lo thức ăn cho nhà ăn. Vào một ngày đại lễ, bánh trong nhà ăn hết sạch. Lúc đó, cha Đa Minh ra lệnh đem bánh đến cho anh em. Anh Bonviso thưa với người rằng trong nhà ăn chẳng còn gì cả. Với ánh mắt vui tươi, cha Đa Minh giang tay, ngợi khen và chúc tụng Thiên Chúa. Ngay lập tức, có hai người đến mang theo những thùng bánh, một vị mang bánh, một vị mang những trái vả khô, và anh em ăn no nê.

Anh Bonviso khẳng định những điều này là thực, vì anh có mặt ở đó.

Anh Bonviso nói rằng cha Đa Minh là người rất mực khiêm nhường, tử tế, đạo đức, khoan dung, kiên nhẫn và tiết độ. Người luôn sống khó nghèo, nhiệt thành với các linh hồn, và thân thiện với tất cả các Dòng tu cũng như các tu sĩ của các Dòng đó. Về chính mình, cha Đa Minh tuân giữ luật Dòng cách nghiêm ngặt. Cha không bao giờ lấy ác báo ác, lấy lời nguyền rủa đáp lại lời nguyền rủa, nhưng luôn chúc phúc cho những ai nguyền rủa mình. Khi được hỏi làm sao biết rõ những điều này, anh Bonviso trả lời rằng anh đã đồng hành với cha Đa Minh trong khi đi, khi khỏe mạnh hay đau yếu, khi ăn uống hay nghỉ ngơi.

23. Sau khi di dời thi hài cha Đa minh từ phần mộ trước đây đến phần mộ hiện nay, cha Tổng quyền cho các anh em không hiện diện trong buổi di dời xem hài cốt cha Đa Minh, vì anh em rất muốn xem. Anh Bonviso cũng có mặt ở đó khi hài cốt được phô bày trước sự hiện diện của thị trưởng, cư dân Bologna, cha Giám tỉnh và các anh em.

Cảm nhận được hương thơm lạ thường ngào ngạt từ các xương thánh, anh Bonviso không thể nhận ra đó là hương thơm nào. Đối với anh, dường như hương thơm ấy khác xa mọi hương thơm bình thường. Anh tin rằng không thể có được hương thơm lạ thường ngào ngạt đến thế, nếu không nhờ phép lạ của Thiên Chúa. Không chỉ một mình anh Bonviso cảm nhận được hương thơm này, mà còn cả những người khác, thậm chí cả những người đứng đàng xa, cũng nói với anh rằng họ cũng cảm nhận được hương thơm đó.

24. Khi anh Bonviso còn là một Tập sinh và không có khả năng gì trong việc giảng thuyết, vì anh chưa học hỏi Kinh Thánh, cha Đa Minh truyền cho anh Bonviso phải rời Bologna đi đến Piacenza để giảng thuyết. Anh Bonviso tìm cách né tránh vì thấy còn thiếu kinh nghiệm. Nhưng bằng lòng hiền hòa rất mực, cha Đa Minh đã thuyết phục anh Bonviso nên đi và khuyên rằng: “Em cứ tự tin lên đường vì Chúa sẽ ở với em. Người sẽ đặt lời của Người trên môi miệng em”. Anh Bonviso vâng lời đi đến Piacenza và giảng thuyết ở đó. Thiên Chúa đã chúc phúc cho lời giảng của anh và ban dư tràn ân sủng đến độ có ba anh em gia nhập Dòng Giảng Thuyết khi nghe anh giảng.

(5) LỜI CHỨNG CỦA ANH GIOAN NGƯỜI TÂY BAN NHA

 25.Vào mùng 10 tháng 08, tu sĩ Gioan người Tây Ban Nha (hay Gioan Navarrê), là một linh mục Dòng Anh Em Giảng Thuyết, đã khai dưới lời thề rằng anh đã gia thuyết vào năm Dòng được Đức Giáo hoàng Innocent III phê chuẩn trong cuộc họp các Hồng y. Anh Gioan quả quyết rằng lễ kính thánh Augustinô lần tới sẽ ghi dấu 18 năm kỷ niệm ngày anh lãnh tu phục từ tay cha Đa Minh.

Và đó cũng là ngày trọng đại anh Gioan Tuyên khấn trong tay vị sáng lập Dòng và là vị Tổng quyền tiên khởi của Dòng, tại nhà thờ thánh Romanus ởToulouse. Từ đó, anh Gioan luôn luôn sống với cha Đa Minh ngày đêm; anh cũng đồng hành và sống với cha Đa Minh ở những nơi khác và những nước khác nhau.

Cha Đa Minh đêm ngày đắm chìm trong việc cầu nguyện. Người cầu nguyện nhiều hơn các anh em sống với người, thức đêm lâu giờ hơn, đánh tội cách nghiêm khắc và thường xuyên hơn anh em khác. Anh Gioan biết những sự việc này vì anh thường thấy cha Đa Minh làm như thế. Một vài anh em cũng kể cho anh Gioan rằng cha Đa Minh thường xuyên đánh tội và nhờ anh em khác đánh tội cho người bằng sợi xích sắt có ba móc. Tất cả anh em đều biết đến điều này, còn anh Gioan biết được điều này qua chính các anh em đã làm việc ấy cho cha Đa Minh.

Khi anh em phạm lỗi, cha Đa Minh phạt họ theo luật Dòng. Tuy nhiên, người cảm thấy đau lòng với anh em lỗi luật và buồn phiền mỗi khi người phải ra hình phạt cho những anh em này.

26. Lòng tràn ngập nỗi trắc ẩn, cha Đa Minh luôn khắc khoải khát khao ơn cứu độ cho mọi người. Vì thế, người không ngừng giảng thuyết, và bằng mọi cách có thể, người thúc đẩy anh em giảng thuyết. Cha Đa Minh sai anh em đi giảng thuyết, khất thực và thúc đẩy anh em phải lo lắng đến ơn cứu độ cho các linh hồn. Với niềm tin mãnh liệt vào Thiên Chúa, cha Đa Minh còn sai cả những anh em không có tài giảng thuyết đi rao giảng, và nói rằng: “Anh em hãy tin tưởng lên đường, vì Chúa sẽ ban cho anh em lời giảng thuyết và ở với anh em, và anh em sẽ không thiếu thốn điều gì”. Họ ra đi và điều đó xảy ra như người đã nói.

Anh Gioan còn khẳng định rằng, khi anh còn ở với cha Đa Minh tại nhà thờ thánh Romanus thuộc Tu viện Toulouse, cha Đa Minh bất chấp những lời can ngăn của bá tước Montfort, Tổng Giám mục Narbonne, Giám mục Toulouse và các giám chức khác, đã sai anh Gioan cùng với năm anh em tư giáo và một anh em trợ sĩ phải sẵn lòng đến Paris để học hành, giảng thuyết và thiết lập Tu viện ở đó. Họ không được sợ hãi vì mọi thứ sẽ mang lại kết quả tốt đẹp. Đối với các giám chức, bá tước và các anh em, cha Đa Minh nói: “Các vị đừng chống đối tôi, bởi vì tôi biết rất rõ điều tôi đang làm”. Cha Đa Minh còn sai các anh em khác đi Tây Ban Nha và cũng căn dặn anh em những lời trên.

Trong khi anh Gioan và các anh em của người đang học tạiParis, giáo sư Gioan (là cha quản hạt vùng St. Quentin và là khoa trưởng Thần học tại Đại học Paris) và ban giáo sư cùng các sinh viên Paris đã trao tặng cho anh Gioan và các anh em nhà thờ thánh Giacôbê. Nhà thờ này tọa lạc tại cổng Orleans. Anh Gioan và các anh em đã xây một Tu viện ở đó và đón nhận nhiều linh mục tài đức gia nhập Dòng Giảng Thuyết. Họ đã nhận được nhiều thành quả và bổng lộc, vì thế mà phát triển mạnh như cha Đa Minh đã tiên báo.

Cũng trong suốt thời gian này, người ta dâng tặng nhiều nhà cửa và tài sản cho Dòng trong vùng quanh Toulouse và Albi. Vì Dòng Giảng Thuyết đã nhận được tất cả tài sản và tiền bạc của vùng này, nên các anh em thường quen mang tiền đi đường, đi lại bằng ngựa, và mặc áo thụng. Vì điều này, cha Đa Minh đã phải ra sức thuyết phục anh em sống từ bỏ tiện nghi và xem thường tất cả của cải trần thế để sống khó nghèo, đi khất thực, không mang tiền đi đường hoặc không cưỡi ngựa. Vì thế, các tài sản này ở Pháp đã được tặng cho các nữ đan sĩ Dòng Xitô và cho các nữ tu thuộc các quốc gia khác.

Để anh em có thể hoàn thành tốt hơn việc học hành và giảng thuyết, cha Đa Minh đã muốn các anh em trợ sĩ ít học giữ phần quản trị các tài sản vật chất trong Dòng. Nhưng các anh em giáo sĩ không muốn điều đó kẻo lại có những chuyện không tốt xảy ra như đã xảy ra trong Dòng ở Grandmont. Được hỏi làm sao biết được những điều này, anh Gioan trả lời rằng anh đã sống với cha Đa Minh suốt một thời gian dài. Anh đã tận mắt thấy mọi điều xảy ra, trừ việc hành xác bằng dây xích sắt là anh không biết. Nhưng anh biết được những sự kiện khác vì anh ở đó và chứng kiến những điều này cùng với các anh em của người.

27. Cha Đa Minh luôn tỏ ra thân ái với hết mọi người, người giàu sang cũng như người nghèo khổ, dân Do thái cũng như dân ngoại (số người này rất nhiều ở Tây Ban Nha). Như anh Gioan viết, cha Đa Minh cũng được mọi người yêu thương, trừ những người dị giáo và những kẻ thù của Giáo hội. Cha Đa Minh thường gặp gỡ những người này và đả kích họ trong những cuộc tranh luận và các bài giảng. Tuy nhiên, khi tranh luận với họ, cha Đa Minh thường tỏ lòng yêu mến mà khuyên bảo họ sám hối và trở về với đức tin như anh Gioan đã chứng kiến và biết được.

Anh Gioan thường nói rằng ban đêm cha Đa Minh ngủ cũng mặc tu phục như ban ngày, trừ giầy là người cởi ra. Khi đi từ nơi này đến nơi khác, cha Đa Minh cũng cởi giầy ra và đi chân không cho tới khi đến nơi. Khi đến vùng nào, cha lại xỏ giầy vào; cha không để bất cứ ai cầm giầy hộ mình. Được hỏi làm sao biết được như thế, anh Gioan trả lời anh biết điều ấy từ nhiều anh em và chính anh cũng thường thấy điều ấy.

Nếu vấp phải hòn đá, cha Đa Minh chịu đựng với nét mặt vui tươi. Là người luôn tươi vui khi gặp phiền toái, cha Đa Minh không hề nao núng, nhưng thường nói: “Đấy là việc đền tội”. Cha rất yêu thích đức khó nghèo, và nhiệt tâm khuyến khích anh em cũng nên có lòng mến như thế. Khi được hỏi làm sao biết được điều này, anh Gioan trả lời rằng cha Đa Minh luôn tự hào trong bộ trang phục nghèo nàn nhất, từ bỏ mọi sự thế gian, và thường khuyên bảo anh em phải yêu mến đức khó nghèo. Anh Gioan cũng chứng kiến những điều này.

28. Cha Đa Minh cũng sống thanh đạm trong việc ăn uống, nhất là những món ăn đắt tiền. Cha sẵn lòng miễn chuẩn cho anh em khác nhưng không bao giờ miễn chuẩn cho mình; cha Đa Minh tuân giữ mọi luật lệ cách nghiêm ngặt. Khi được hỏi làm sao biết được điều này, anh Gioan nói rằng anh đã chứng kiến điều đó.

Khi cùng đi bộ qua các thành phố và làng mạc, anh Gioan thấy cha Đa Minh hầu như luôn ngước mắt lên trời.

Cha Đa Minh cũng không có một chiếc giường để nằm như các anh em khác. Được hỏi làm sao biết được điều này, anh Gioan trả lời rằng nếu cha Đa Minh có giường nằm, thì hẳn anh Gioan phải biết, vì anh Gioan đã tốn nhiều công sức đi tìm chiếc giường ấy mà không thấy.

Khoảng 2 hoặc 3 lần, cha Đa Minh được bầu làm Giám mục, nhưng người luôn luôn từ chối. Người thích sống khó nghèo với các anh em mình hơn là làm Giám mục. Được hỏi về nguồn gốc thông tin, anh Gioan trả lời rằng vào thời đó ai cũng biết chuyện này, không chỉ anh em, mà còn những người khác, cả giáo sĩ lẫn giáo dân đều biết. Những địa phận này gồm những người của thành phố Béziers và Comminges. Anh Gioan còn thêm rằng tin cha Đa Minh làm Giám mục có trước cả khi anh gia nhập Dòng Giảng Thuyết.

29. Cha Đa Minh rất ít nói, ngoại trừ nói với Chúa, nghĩa là nói trong lúc cầu nguyện, hoặc nói về Chúa; hơn nữa, cha cũng khuyến khích anh em nên làm như vậy. Anh Gioan cũng nói rằng cha Đa Minh luôn luôn vui tươi với mọi người, nhưng lại hay khóc khi cầu nguyện. Anh Gioan biết điều này vì đã nhìn thấy và nghe được tiếng than khóc của cha ĐaMinh. Anh Gioan biết cha Đa Minh đã giữ đức khiết tịnh cho đến chết – các anh em đều biết điều này. Có lần anh Gioan nghe cha Đa Minh nói rằng người ao ước được hành hạ, chặt thành từng khúc và chết vì niềm tin vào Đức Kitô.

Bằng lời nói và thư từ, cha Đa Minh thường chỉ dẫn và khuyên nhủ anh em trong Dòng không ngừng học Cựu và Tân ước. Anh Gioan đã nghe thấy người nói điều này và thấy được những lá thư đó. Cha Đa Minh luôn mang bên mình Tin mừng Mátthêu và các thư thánh Phaolô. Do say mê học hỏi Kinh thánh, nên người hầu như thuộc lòng cuốn Kinh Thánh.

Các kinh sĩ thời cha Đa Minh và nhiều người đáng tin khác đã kể cho anh Gioan về việc lạ thường sau đây. Khi cha Đa Minh đang theo học tại Palencia, thì có một nạn đói xảy ra trong vùng đó; người nghèo đều mắc chứng bệnh dịch và rất nhiều người chết. Bởi lòng thương cảm và lòng mến đánh động, cha Đa Minh đã bán hết sách vở tài sản của mình để mua thức ăn cho người nghèo. Qua gương sáng của cha Đa Minh, nhiều người đã đóng góp của cải để xoa dịu nỗi khốn khổ ấy.

(6) LỜI CHỨNG CỦA ANH RUDOLPH

 30. Vào ngày 11 tháng 08, anh Rudolph Faenze, một linh mục Dòng Anh Em Giảng Thuyết, đã nói dưới lời thề rằng anh là quản nhiệm và là tuyên úy của nhà thờ thánh Nicholas ở Bologna, lúc đó, nhà thờ này được giao cho các Anh Em Dòng Giảng Thuyết. Chính Đức Giám mục Bologna bàn giao nhà thờ này qua lời thỉnh cầu của Đức Ugolino, Giám mục hiệu tòa Ostia, và là Đặc sứ Tòa thánh, người mà bây giờ đã trở thành Giáo hoàng. Sự việc này đã xảy ra cách đây 14 năm. Trong năm đó, cha Đa Minh đã đến Bologna. Người đến ở đó cho tới lúc qua đời. Nói chung người chỉ sống trong thành phố đó, trừ khi có việc gì người mới đi đến Giáo triều Rôma, một vài nơi ở Lombardyvà thành phố Venicea.

Anh Rudolph vì là thành viên của Dòng đã tuyên khấn với cha Đa Minh trước khi đến Bologna, cho rằng suốt thời gian đó cha Đa Minh luôn sống trong thành phố. Vì làm quản lý, nên anh Rudolph có thể thấy rõ cha Đa Minh trong nhà thờ, trong giờ kinh Phụng vụ, trong phòng ngủ và trong giờ cơm cộng đoàn cả ngày lẫn đêm. Vì lý do ấy mà chứng nhân này rất quen thuộc về con người và cuộc sống của cha Đa Minh.

31. Cha Đa Minh thường ở trong nhà thờ suốt đêm; người cầu nguyên liên lỉ, lẫn trong tiếng cầu nguyện là tiếng khóc lóc và rên rỉ. Được hỏi làm sao biết được điều này thì anh cho hay, vì anh thường xuyên đi theo cha Đa Minh vào trong nhà thờ và quan sát người. Anh thường ở lại với người trong nhà thờ vào ban đêm, vì thế anh thấy và nghe người khóc khi cầu nguyện. Thông thường khi cầu nguyện, cha Đa Minh đứng nhón chân và đưa hai tay lên, tựa như một người trong tư thế tha thiết khẩn cầu điều gì. Nếu hỏi chúng nhân làm sao thấy được điều này trong đêm, thì anh trả lời rằng có một ngọn đèn luôn cháy sáng trong nhà thờ. Vì là thân cận của cha Đa Minh, nên anh hay đứng gần người khi cầu nguyện.  

Chứng nhân chắc chắn rằng cha Đa Minh rất sốt sắng và siêng năng cầu nguyện hơn bất cứ người nào mà anh từng gặp gỡ.

Cha Đa Minh luôn mang một sợi xích cùng một khăn che quấn quanh thắt lưng, và người cứ giữ như vậy cho đến khi qua đời. Sở dĩ anh Rudolph biết điều này bởi vì khi cha Đa Minh qua đời, anh Rudolph thấy một sợi xích quấn quanh người. Anh đã cầm giữ nó, những sau đó đưa lại cho chaJordan, Tổng quyền của Dòng.

Ban đêm khi đi ngủ, cha Đa Minh luôn giữ nguyên y phục như ban ngày, ngoại trừ cởi đôi giày ra. Đôi khi người nằm ngủ trên sàn nhà, thỉnh thoảng trên một tấm ván (chính anh Rudolph lấy khăn phủ lên tấm ván), nhưng người thường ngủ ngồi. Vì thường xuyên canh thức và thức đêm cầu nguyện, nên cha Đa Minh hay gục trên bàn ăn và thiếp đi.

Vì yêu mến nguyện kinh Nhật tụng, nên cha Đa Minh luôn tham dự kinh nguyện với cộng đoàn. Người cũng thường xuyên dùng bữa tại bàn chung và dùng chung thức ăn với anh em. Anh Rudolph, một quản lý trong Tu viện này, còn cho biết: có lần dọn món ăn đặc biệt cho anh em, cha Đa Minh đã gọi anh đến, rồi thì thầm rằng: “Anh đang làm hư anh em vì đã dọn cho họ những món cao lương mỹ vị này”.

Bất cứ khi nào trong nhà hết bánh mì, rượu hay bất cứ thức ăn nào, anh Rudolph Faenze thường tìm đến cha Đa Minh và nói: “Nhà mình hết bánh mì hoặc hết rượu rồi”. Người sẽ bảo rằng: “Hãy đi cầu nguyện rồi Chúa sẽ lo liệu”. Vì thế, anh đến nhà thờ và cầu nguyện, thường thì cha Đa Minh cũng đi theo vào nhà thờ. Thiên Chúa nghe lời họ cầu xin vì vậy họ luôn có lương thực dùng đủ. Thỉnh thoảng, theo lời truyền của cha Đa Minh, anh Rudolph đem mẩu bánh mì còn lại đặt lên bàn, và sau đó Chúa làm phép lạ cho họ có đủ ăn.

Cha Đa Minh hoàn toàn tuân giữ luật Dòng và tập tục  của Anh Em Giảng Thuyết về y phục, đồ ăn, thức uống, về vấn đề chay tịnh và những thứ khác. Người tuân giữ cho mình và cũng muốn anh em khác tuân giữ. Vì sống kề cận với cha Đa Minh, nên anh có cơ hội nhận xét những điều này.

32. Anh Rudolph đã phát biểu mạnh mẽ rằng chưa bao giờ thấy một ai sống hạnh phúc trong đời sống đức tin và dâng hiến như cha Đa Minh. Cha muốn dành hết cuộc đời để cứu vớt mọi người: người Kitô, những người Ảrập và Hồi Giáo, đặc biệt là cầu nguyện cho những người Cuman và những người ngoại giáo. Cha Đa Minh nhiệt tâm với các linh hồn hơn bất cứ người nào mà anh Rudolph từng gặp gỡ; người thường bày tỏ ước muốn đi đến những người Cuman và những người ngoại giáo khác.

Cha Đa Minh luôn luôn vui vẻ tươi cười; là người an ủi anh em, cha kiên nhẫn, khoan dung và ân cần. Nếu nhìn thấy một anh em nào vi phạm luật, cha Đa Minh sẽ bỏ qua như thế người chưa nhìn thấy. Nhưng sau đó, với một thái độ nhẹ nhàng và những lời ân cần, người nói: “Này người anh em, phải nhớ đi thú lỗi nhé!” Với những lời nói dịu dàng, cha Đa Minh đã thuyết phục mọi người đi thú lỗi và sám hối. Cha trừng phạt nghiêm khắc các hành vi tội lỗi, nhưng những người phạm lỗi luôn được an ủi vì thái độ khiêm nhường của người.

Cha Đa Minh là người yêu mến đức khó nghèo và thúc đẩy anh em thực hành nhân đức này. Anh Rudolph biết điều này vì khi các anh em đến ở Bologna, lãnh chúa Odoric Galiciani muốn trao cho anh em gia sản đáng giá hơn 500 quan tiền Bologna. Khế ước thật sự được viết trước sự hiện diện của Tổng Giám mục Bologna, nhưng cha Đa Minh xé bản giao kèo. Người không muốn có gia sản đó hay bất cứ sự giàu sang nào, nhưng muốn sống cách khó nghèo, hoàn toàn nhờ vào của bố thí. Nếu hôm nào có đủ những gì cần thiết trong ngày, thì anh em không nhận thêm gì hay không đi khất thực nữa. Cha Đa Minh mong ước các anh em sống trong những căn nhà đơn sơ và quần áo giản dị. Ngay cả khăn bàn thờ không được làm bằng tơ lụa; ước mong của người là dùng loại vải thô và quần áo rẻ tiền.

Cha Đa Minh không muốn anh em dính dáng đến chuyện thế sự hoặc không muốn anh em bận rộn với việc điều hành và trông coi nhà cửa, ngoại trừ những người có nhiệm vụ này. Mong ước của người là tất cả anh em phải luôn dấn thân vào việc học hành, cầu nguyện, hoặc giảng thuyết. Khi nhận ra một anh em có tài giảng thuyết, cha Đa Minh không muốn trao cho người ấy một trách vụ nào khác. Dù các anh em đi đường hay ở nhà, người muốn họ chỉ nói về Chúa hoặc về ơn cứu độ các linh hồn. Anh Rudolph Faenze chưa bao giờ nghe chính cha Đa Minh nói một lời khiếm nhã hoặc vô ích nào. Anh đã ghi lại được tất cả những điều này là vì đã sống với cha Đa Minh suốt ngày và đêm, do đó anh đã thấy được những gì người nói và làm như thế nào.

33. Cha Đa Minh rất nhiệt thành, mau mắn trong việc đạo đức, trung thành trong việc giảng thuyết và việc giải tội. Khi rao giảng thuyết và việc giải tội. Khi rao giảng, người thường khóc khiến những người nghe cũng khóc. Vào lần Tổng hội đầu tiên của các Anh Em Giảng Thuyết tại Bologna, cha Đa Minh nói với các anh em rằng: “Tôi chỉ xứng đáng bị truất phế, vì tôi vô dụng và bất tài”. Người luôn sống rất khiêm nhường trong mọi sự. Không truất phế người, các anh em đã làm theo ý người bằng việc chọn ra những giám định viên. Khi Tổng hội họp, những người này có quyền hạn trên cha Đa Minh và trên toàn Tổng hội để lập pháp, tuyên bố, và truyền luật pháp.

Khi cha Đa Minh bị bệnh là nguyên nhân đưa đến cái chết của người, các anh em quy tụ chung quanh người mà khóc. Anh Rudolph Faenze đã đắp trên đầu người một cái khăn và lau sạch mồ hôi trên mặt người. Cha Đa Minh nói rằng “đừng khóc, vì tôi sẽ sinh ích nhiều hơn cho anh em ở nơi tôi sẽ đi, hơn là khi tôi còn ở đây”. Khi được hỏi những ai hiện diện lúc ấy, anh Rudolph Faenze trả lời rằng nhiều anh em ở đó, nhưng anh không thể nhớ tên họ.

Rồi một trong các anh em hỏi cha Đa Minh: “Thưa cha, cha muốn thi thể cha được chôn cất ở đâu?”

Người trả lời: “Dưới chân của anh em”. Anh Rudolph Faenze biết rằng cha Đa Minh qua đời khi các anh em, những người đang đọc “kinh cầu cho người lâm tử”, đang cất lên những lời này: “Lạy các thánh của Thiên Chúa, xin hãy đến cứu giúp người; lạy các Thiên Thần của Thiên Chúa, xin hãy đến gặp người; xin đỡ lấy linh hồn này và dâng lên trước nhan Đấng Tối Cao”. Tất cả những sự việc này xảy ra trong một căn phòng nhỏ tại Tu viện thánh Nicholas.

Anh Rudolph Faenze chưa bao giờ nhìn thấy cha Đa Minh nằm ngủ trên nệm nhồi lông chim hoặc trên những loại nệm khác, ngoại trừ lúc qua đời người nằm trên một cái nệm. Khi gần đến giờ lâm tử, cha Đa Minh nói với các anh em rằng “anh em hãy chuẩn bị”. Họ đi và làm mọi thứ sẵn sàng. Sau đó, khi anh em đang đọc lời nguyện cho người sắp lâm tử, thì cha Đa Minh giơ hai tay lên trời và tắt thở.

34. Chính anh Rudolph Faenze bảo đào lỗ huyệt, lấy tấm đá đặt trên ngôi mộ này, và dùng quan tài bằng gỗ để đặt thi hài cha Đa Minh. Chính anh đã đặt thi hài cha Đa Minh vào quan tài này, đóng chặt nắp quan tài bằng các đinh sắt, và bảo vệ cách cẩn thận cho đến khi quan tài này được chôn cất. Không một loại thuốc hoặc chất thơm nào được đặt trong quan tài hoặc phần mộ này, nếu sự việc này được làm thì anh đã nhìn thấy, vì anh là quản lý của Tu viện này và mọi thứ được thi hành phải theo lệnh của anh.

Anh Rudolph Faenze thuộc số những người mở phần mộ cũ của cha Đa Minh ra, trước khi thi hài được di dời đến phần mộ ngày nay. Anh dùng một cây búa sắt để nhấc phiến đá của phần mộ lên. Nó rất cứng và được xây bằng xi măng rất chắc chắn. Anh đã phải dùng một thanh sắt để cậy miếng đá nắp ra, vì ngôi mộ này được xây bao bọc bằng những tảng đá to đặt cùng nhau. Chính anh Rudolph đã cố ý xây ngôi mộ này theo cách ấy ở vị trí đầu tiên, để cho không có ai có thể lấy cắp thi hài cha Đa Minh. Khi anh dùng thanh sắt nhấc miếng đá nắp ra và ngôi mộ được mở ra cũng theo cách ấy thì một hương thơm dịu dàng, dễ chịu, nồng hay đúng hơn là rất nồng, bay ra từ ngôi mộ này, mặc dù anh không thể nhận biết hương thơm này là loại nào. Anh không nghĩ rằng hương thơm này có mùi tương tự như mùi của hương liệu. Hương thơm này quá nồng mà không một hiệu thuốc hoặc những nơi khác có. Hương thơm này được nhận biết bởi những người hiện diên lúc đó là các Giám mục và giáo sĩ, thị trưởng và những bậc vị vọng trong thành phố Bolonga là những người đã canh gác ngôi mộ này.

Nhiều ngày sau đó, hương thơm này vẫn còn lưu lại nơi phần mộ cũ, những thứ đặt ở đó, và ám cả vào quần áo và hai tay của những người đã chạm vào phần mộ này. Ngày nay xương của cha Đa Minh vẫn giữ được hương thơm; anh Rudolph biết được những điều này vì đã hiện diện ở đó, và tay anh đã chạm đến (x. 1Ga 1,1) 

(7) LỜI CHỨNG CỦA GIÁM TỈNH STÊPHANÔ

35. Vào ngày 13 tháng 08, tu sĩ Stêphanô, Giám tỉnh Dòng Anh Em Giảng Thuyết thuộc Tỉnh dòng Lombardy, đã khai dưới lời thề rằng anh biết Tổng quyền Đa Minh, người khởi xướng, Đấng sáng lập và là vị Tổng quyền tiên khởi của Dòng Anh Em Giảng Thuyết, hơn 15 năm. Nhưng trước đó anh đã từng thấy cha Đa Minh hoặc biết về bản thân người, anh đã nghe nhiều điều tốt lành về người từ những người đáng tin và có thế lực. Khi cha Đa Minh là Bề trên hoặc phó Bề trên của nhà thờ Osma (nơi mà người là một kinh sĩ), thì lúc đó anh Stêphanô đang học Kinh Thánh tại Palencia. Vào thời điểm đó, một nan đói khủng khiếp xuất hiện và quét sạch vùng này, thế nên nhiều người nghèo đang đi chết đói. Chạnh lòng thương, cha Đa Minh đã bán những cuốn sách (mà chính người đã chú thích) và những tài sản khác của mình, phân phát cho những người nghèo và nói: “Tôi không muốn học trên những tấm da chết khi nhiều người đang chết đói”. Theo mẫu gương của cha Đa Minh, một số người vị vọng cũng hành động tương tự như thế và sau đó cùng đi rao giảng với người. Anh Stêphanô biết rằng sau đó cha Đa Minh cùng đi với Đức Giám mục Osma để rao giảng, đặc biệt chống lại những người ngoại giáo, trên khắp miền quê xung quanh Toulouse. Chính vì lẽ đó cha Đa Minh đã có ý định và thành lập Dòng Anh Em Giảng Thuyết.

36. Khi cha Đa Minh đến Bologna và rao giảng cho các sinh viên và những người chân thành khác, lúc đó anh Stêphanô đang học tại đó. Anh đã xung tội với cha Đa Minh và dường như người đã mến anh rồi. Sau đó, vào một đêm nọ, khi anh Stêphanô cùng các bạn bè chuẩn bị đi ăn tối tại căn nhà thuê, cha Đa Minh đã sai hai anh em đến với anh và nói: “cha Đa Minh nói anh phải đến với người ngay lập tức”. Anh trả lời: “Sau khi ăn xong, tôi sẽ đến với người”. Nhưng họ nói: “Không. Anh phải đến ngay bây giờ”. Vì thế, anh đã đứng dậy, bỏ lại mọi sự và đến với người.

Anh Stêphanô đã thấy cha Đa Minh và nhiều anh em tại nhà thờ thánh Nicholas. Cha Đa Minh nói với các anh em rằng “Hãy chỉ cho anh ấy cách thức nằm venia”. Sau khi nằm venia, chính anh phó thác chính mình vào tay cha Đa Minh. Trước khi nằm, cha Đa Minh đã mặc cho anh chiếc áo dòng của Dòng Anh Em Giảng Thuyết và nói rằng: “Tôi muốn trao cho anh áo giáp, anh phải sử dụng nó để chiến đấu với ma quỷ trong suốt cuộc đời của anh”. Từ đó về sau, anh Stêphanô lầy làm lạ vô cùng về trực giác của cha Đa Minh. Người đã kêu gọi và trao áo dòng cho anh Stêphanô trước khi anh trình bày mọi điều về việc gia nhập vào đời sống tu trì. Nhưng anh tin tưởng rằng cha Đa Minh ắt hẳn đã phải hành động theo sự linh hứng hoặc mặc khải thánh.

37. Anh Stêphanô nói rằng cả các anh em và những người khác đều nhận thấy cha Đa Minh là người an ủi tài tình nhất khi họ gặp phiền muộn trước những cám dỗ. Anh biết sự việc này, vì anh vừa mới nhập Dòng và là một Tập sinh, nên đã có nhiều cám dỗ. nhưng anh cảm thấy hoàn toàn thanh thản khi nghe cha Đa Minh rao giảng và khuyên răn. Nhiều tập sinh khác nói với anh rằng họ cũng có kinh nghiệm ấy khi tiếp xúc với cha Đa Minh.

Sau khi gia nhập Dòng, anh Stêphanô đã sống với Cha Đa Minh trong Tu viện thánh Nicholas tại Bologna khoảng gần một năm, và rất thân thiết với người. Trong suốt thời gian sống với cha Đa Minh, anh nói rằng anh chưa bao giờ nghe một lời xấu xa, hiểm độc hoặc vô ích nào thốt ra từ miệng người. Người chuẩn bị rất kỹ lưỡng và không ngưng nghỉ trong việc giảng thuyết. Những lời nói của người cảm động đến nỗi anh và những người nghe cảm động ứa nước mắt. Trước đó, anh Stêphanô chưa bao giờ nghe một người nào có những lời nói khiến các anh em sám hối và cảm động ứa nước mắt. Thói quen của cha Đa Minh là luôn nói về Chúa hoặc nói với Chúa, khi ở nhà, cũng như lúc đi đường. Cha Đa Minh cố thuyết phục anh em làm tương tự như vậy và đưa việc thực hành này vào trong Hiến pháp. Anh Stêphanô biết tất cả những điều này vì anh đã nhìn thấy, hiện diện, nghe thấy và sống với người.

Cha Đa Minh rất bền chí và sốt sắng trong việc cầu nguyện hơn những anh em khác mà anh Stêphanô từng thấy. Chính anh nhận thấy rằng, sau khi các anh em kết thúc giờ kinh tối và những lời kinh thường ngày, cha Đa Minh bảo họ đi ngủ, còn cha thì luôn luôn ở lại trong nhà thờ để cầu nguyện. Trong suốt thời gian đó, lời cầu nguyện của người làm xúc động mạnh đến nỗi người đã rên rỉ thành tiếng. Các anh em đang ngủ gần đó đã bị thức giấc và một số anh em cảm động đến ứa nước mắt. Hầu hết thời gian này, cha Đa Minh lưu lại cầu nguyện cho đến giờ kinh Đêm. Tuy nhiên, người vẫn tiếp tục ở lại tham dự giờ kinh Đêm, và đi vòng qua lại mỗi côrô để thúc đẩy và khuyến khích anh em hát nhiệt tình và đúng nhạc. Vì thế, người đã dành suốt đêm để cầu nguyện, đến nỗi anh Stêphanô chẳng bao giờ nhớ là đã nhìn thấy người ngủ trên giường, mặc dù nơi ở hoàn toàn được chuẩn bị sẵn cho người. Người thường ngủ trên một tấm ván, phủ cái mền rất đơn sơ, nhưng không có nệm hoặc tấm lót. Mặc dù St ê pha nô thường kiếm tìm rất cẩn thận, nhưng anh chưa bao giờ thấy người ngủ trên giường trong suốt thời gian anh sống với người trong Tu viện này.

38. Anh Stêphanô cũng nói là rất thường xuyên nhìn thấy cha Đa Minh dâng lễ. Anh luôn thấy khuôn mặt người đầm đìa nước mắt trong lúc người đọc kinh Tạ ơn. Thật là khá dễ dàng cho những người hiện diện nhận thấy lòng sùng đạo của cha Đa Minh qua việc người sốt sắng dâng lễ và đọc kinh Lạy Cha. Như đã nói, anh Stêphanô không bao giờ nhớ là đã nhìn thấy cha Đa Minh dâng thánh lễ mà mắt đã từng thấy, tai đã từng nghe.

Anh Stêphanô chưa bao giờ nhìn thấy một người nào có lòng nhiệt thành làm cho Dòng trở nên vững mạnh, duy trì luật Dòng và an ủi các anh em như cha Đa Minh. Anh nghĩ khó có thể tìm được một người có những phẩm chất như cha Đa Minh. Cha Đa Minh cũng yêu mến đức khó nghèo. Anh Stêphanô thường nghe người rao giảng nhân đức này và thúc đẩy các anh em thực hành nhân đức đó. Khi bất kỳ ai dâng tặng tài sản cho cha Đa Minh hoặc cho cộng đoàn, người không nhận tài sản ấy, cũng không cho phép anh em nhận. Người muốn anh em có một ngôi nhà rẻ tiền và nhỏ. Người chỉ mặc áo dòng cũ kỹ và y phục nghèo nàn. Khi được hỏi làm sao anh Stêphanô biết điều này, anh trả lời rằng anh thường nhìn thấy người mặc một áo các phép ngắn và rất cũ kỹ. Cha Đa Minh không cố giấu nó đi bằng chiếc áo choàng của mình, thậm chí ngay cả lúc có những người quan trọng đứng xung quanh.

Tại Tu viện thánh Nicholas, các phòng nhỏ của anh em thì khá đơn giản và chật chội. Cho nên, anh Rudolph, là một quản lý, đã nâng cao trần nhà khoảng một cánh tay cho một số anh em (cha Đa Minh đã đi vắng vào thời gian này). Khi trở về và nhìn thấy các phòng cao hơn, người bắt đầu khóc; người khiển trách anh Rodolph và những anh em khác nhiều lần. Người nói với họ: “Anh em sớm từ bỏ đức khó nghèo và xây dựng những cung điện vĩ đại!” Từ đó, người ra lệnh cho anh em ngưng việc này; công việc này bị bỏ dở trong khi người còn sống. Vì cha Đa Minh yêu mến đức khó nghèo, cho nên, người muốn anh em yêu mến như vậy. Bởi vậy, người đã truyền lệnh cho họ mặc y phục khó nghèo và đừng bao giờ mang theo tiền khi đi đường, nhưng sinh sống bằng việc ăn xin. Rồi người truyền viết điều này vào luật.

Anh Stêphanô cũng nói rằng cha Đa Minh rất đạm bạc trong việc ăn uống.

Khi được hỏi làm sao biết điều này, anh trả lời rằng anh thường để ý đến cha Đa Minh trong phòng ăn. Khi các anh em được dọn gấp đôi phần ăn hoặc ăn hai món, thì người hài lòng với một món.

Trong khi các anh em đang ăn, hầu như cha Đa Minh luôn luôn ngủ vì kiệt sức do thức đêm lâu giờ và ăn uống quá ít.

39. Anh Stêphanô quả quyết rằng cha Đa Minh giữ đức khiết tịnh về tinh thần và thể xác cho đến cuối đời. Khi được hỏi làm sao tin được điều này, anh trả lời rằng anh thường giải tội cho cha Đa Minh, và chẳng bao giờ tìm thấy một tội trọng trong tâm trí của người. Cha Đa Minh cũng kiên nhẫn và vui mừng khi gặp thử thách. Khi được hỏi làm sao biết điều này, anh nói rằng vì anh luôn luôn nhìn thấy người vui mừng và hạnh phúc trong nghịch cảnh và thiếu thốn mà lúc đó anh em đang thiếu thốn về cái ăn và áo mặc.

Hơn nữa, anh Stêphanô còn đoan chắc rằng những ân huệ mà các Anh Em Giảng Thuyết ở Lombardy và ở những Tỉnh dòng khác đón nhận được và gia tăng là nhờ vào lời cầu nguyện và công trạng của cha Đa Minh. Anh tin vào điều này vì từ lúc anh Gioan Vicenza bắt đầu rao giảng mặc khải mà anh đã nhận được về cha Đa Minh, và làm cho mọi người biết đến đời sống, thái độ và sự thánh thiện của người. Chính anh Stêphanô cùng với một số anh em bắt đầu đảm nhận việc di dời thi hài cha Đa Minh. Sau đó, những hồng ân được hiển lộ và tuôn đổ rõ ràng, vừa trên các anh em là những người rao giảng về đời sống và sự thánh thiện của người, vừa trên những người nghe các anh em rao giảng, cũng như được nhận thấy từ thành quả đạt được trong các thành phố ở Lombardy, nơi mà rất nhiều người lạc giáo bị thiêu đốt. Cũng vậy, hơn một trăm ngàn người, là những người không biết mình sẽ theo Giáo hội Rôma hay những người lạc giáo, được hoán cải thực sự theo niềm tin Công giáo nhờ vào việc rao giảng của các Anh Em Giảng Thuyết. Anh Stêphanô biết điều này là thật, vì những người trở lại Công giáo bây giờ ghê tởm và lùng đuổi những người lạc giáo mà họ đã ủng hộ trước đây.

Hơn nữa, hầu hết các thành phố ở Lombardy và ở Marches đều đưa những công việc và các luật lệ để các anh em duyệt lại, thay đổi chúng tùy theo ý muốn của anh em. Theo cách phán đoán của mình, anh em có thể thêm hoặc bớt, thay đổi hoặc bỏ đi. Họ nhờ anh em loại trừ các cuộc chiến và việc cho vay nặng lãi; xây dựng hòa bình và dàn xếp các mối bất hòa giữa dân, trả lại các tài sản bị trộm và xin các cha giải tội, và làm nhiều điều tốt đẹp khác mà không được kể ra đây.

40. Anh Stêphanô nói rằng chính anh quyết định chọn ngày và cách thức di dời thi hài cha Đa Minh. Anh cũng hiện diện vào lúc di dời thi hài cùng với nhiều anh em, thị trưởng Bologna, nhiều cư dân vị vọng của thành phố này và nhiều người từ nhiều thành phố khác. Trước sự hiện diện của những người này, Stêphanô và các anh em khác đã bắt đầu dùng các cọc sắt và cuốc chim để đào. Họ đào thấy một nền cứng và ngôi mộ được bịt kín bằng xi măng rất chắc và bền. Nhấc hòn đá bao phủ đỉnh ngôi mộ lên, các anh em và những người đứng ngoài ngửi thấy hương thơm ngào ngạt. Anh Stêphanô quả quyết rằng anh không thể mô tả hương thơm này, vì nó không giống với bất kỳ hương thơm nào ở trần gian. Vì hương thơm này, chính các anh em và những người đang hiện diện ở đó đã phủ phục trên sàn nhà với những dòng nước mắt, ca ngợi và chúc tụng Chúa vì đã tỏ hiện cách tuyệt diệu đến nỗi vị thánh của Người được tôn vinh.

Rồi họ thấy một quan tài bằng gỗ chứa thi hài cha Đa Minh; nó được xây rất chắc chắn và được đóng kín bằng những đinh sắt. Anh em mở quan tài ra, và rồi một hương thơm nồng hơn lần đầu bay ra. Với lòng kính trọng và yêu mến, cha Tổng Quyền và nhiều anh em cầm các xương ở quan tài cũ và họ bỏ vào quan tài mới. Rồi, anh Stêphanô cầm lấy quan tài mới này và đặt nó vào ngôi mộ cẩm thạch, là nơi chôn cất hiện nay, cùng với Tổng quyền Jordan và các anh em khác, trước sự hiện diện của Đức Giám mục Revenna, nhiều Giám mục khác và hàng giáo sĩ, thị trưởng và nhiều cư dân thành phố khác tại Bologna. Anh cũng khẳng định rằng, nhiều ngày sau đó, anh có thể ngửi thấy một chút hương thơm ban đầu vừa ở trên tay của chính anh vừa ở trên tay của những người khác là những người đã sờ vào xương của cha Đa Minh. Anh biết những sự việc này bởi vì anh ở đó và chính anh chứng kiến, đã dùng tay chạm vào những xương này; đã nhiều lần sau này ngửi thấy hương thơm rõ ràng trên tay của anh và của những anh em khác là những người đã chạm và cầm những xương của cha Đa Minh.

(8) LỜI CHỨNG CỦA ANH PHAOLÔ VENICE

41. Vào ngày 16 tháng 08, tu sĩ Phaolô Venice, một linh mục Dòng Anh Em Giảng Thuyết, đã nói dưới lời thề rằng anh đã gia nhập Dòng tại Bologna hơn mưới bốn năm trước đây, tuyên khấn trong tay cha Reginald. Anh đã nhận áo dòng vào ngày Chúa nhật trong lúc bài Tin mừng về tiệc cưới Cana được cất lên. Cha Tổng quyền Đa Minh đã đến Bologna vào mùa hè sau đó. Kể từ lúc cha Đa Minh đến thành phố này, anh Phaolô rất thân thiết với người. Anh cùng sống với cha Đa Minh suốt một thời gian dài khi người ở lại Tu viện Bologna. Sau đó, anh đi khắp nơi với cha Đa Minh gần hai năm, gần như toàn bộ cuộc hành trình tại Trivisano là ăn, uống, di chuyển và đọc kinh Thần vụ với người ngày đêm không dứt.

Anh Phaolô chẳng bao giờ nhớ là đã nghe cha Đa Minh nói một vài lời dèm pha hay nịnh hót, vô ích hoặc hiểm độc. Trái lại, khi hai người đi bộ, anh Phaolô để ý rằng cha Đa Minh dành thời gian cầu nguyện hay rao giảng, hoặc suy gẫm và chiêm niệm về Thiên Chúa. Khi được hỏi làm cách nào anh biết sự việc này, anh Phaolô trả lời rằng Tổng quyền Đa Minh thường nói với chính anh và các anh em khác: “Hãy đi trước và chúng ta hãy suy gẫm về Đấng Cứu Độ của chúng ta”. Anh Phaolô thường nghe cha Đa Minh rên rỉ và thở dài. Bất cứ đến nơi nào, người luôn nói với Chúa và nói về Chúa. Người nỗ lực khuyến khích các anh em làm như vậy và đưa việc thực hành này vào bộ luật của Dòng Anh Em Giảng Thuyết. Khi được hỏi nguồn gốc của sự việc này, anh trả lời rằng anh đã sống với cha Đa Minh suốt một khoảng thời gian dài nên đã thấy và nghe được những điều này. Anh chưa bao giờ thấy người giận dữ, lo lắng, hoặc phiền muộn, ngày cả lúc người mệt lử vì phải đi lại; cha Đa Minh chưa bao giờ buông mình theo những đam mê trần thế, nhưng luôn luôn điềm tĩnh, vui mừng trong nỗi khổ cực, và kiên nhẫn trong nghịch cảnh.  

42. Cha Đa Minh yêu mến đức khó nghèo. Người mong ước nhân đức này cho bản thân và cho Dòng, người thúc đẩy anh em thực hành nó. Khi cha Đa Minh ở Bologna, một người dân Bologna muốn dâng hiến một số tài cho Dòng, nhưng người không muốn nhận nó. Người cũng cấm các anh em nhận nó. Thậm chí cha Đa Minh đã viết việc ngăn cấm Dòng nhận tài sản trong Hiến Pháp. Chính cha Đa Minh đã mặc một chiếc áo dòng rách cũ kỹ, và khi đi đến các làng mạc hay tỉnh thành, người thường cởi giầy và đi chân đất. Anh Phaolô thường xuyên thấy sự việc này khi cùng đi với người.

Thỉnh thoảng anh Phaolô nhìn thấy cha Đa Minh đi đến từng nhà để cầu xin những của bố thí và đón nhận một mẩu bánh mì giống như một người nghèo khổ vẫn làm. Một lần nọ, khi cha Đa Minh đang xin ăn tại Dugliolo, thì một người đã cho cha một ổ bánh mì. Cha Đa Minh đã quì xuống nhận nó với lòng khiêm nhường và thành kính. Anh Phaolô thường nghe cha Đa Minh bày tỏ niềm mong ước của người đối với các anh em là sống bằng việc khất thực.

Khi hai người đi cùng nhau, anh Phaolô chưa bao giờ nhìn thấy cha Đa Minh ngủ trên giường, nhưng thỉnh thoảng thấy người ngủ trên nền rơm. Một lần nọ, sau một chuyến hành trình dài, cha Đa Minh, anh Phaolô và các anh em khác đã ở lại với người dân vùng Porto Legnago. Sau khi tìm được một nơi cho các anh em ngủ, cha Đa Minh đi đến nhà thờ và đắm chìm trong lời cầu nguyện suốt đêm. Tuy nhiên, người luôn hiện diện với anh em và với hàng giáo sĩ nhà thờ này trong giờ kinh Đêm. Trong khi đi lại, cha Đa Minh vẫn ăn chay, nhưng người luôn bảo anh em ăn bình thường, vì sự mệt nhọc của cuộc hành trình.

Mặc dù, sống với cha Đa Minh tại nhà thờ thánh Nicholas ở Bologna, như đã nói trên, anh Phaolô  chẳng bao giờ nhớ là đã nhìn thấy cha Đa Minh có một nơi thông thường để ngủ vào buổi tối. Thỉnh thoảng người ngủ trên sàn, trên một tấm ván hoặc ghế gỗ dài, nhưng hầu hết thời gian này người ở lại suốt đêm trong nhà thờ để cầu nguyện. Anh Phaolô biết rằng cha Đa Minh khóc nhiều khi cầu nguyện, vì anh đã nhìn thấy người khóc nhiều lần. Thỉnh thoảng, anh phải gọi cha Đa Minh khi người cầu nguyện, và sau đó anh thấy mặt người ướt đẫm nước mắt. Thậm chí trong khi đi lại, cha Đa Minh sốt sắng và không ngừng cầu nguyện. Nếu có thể tìm thấy một nhà thờ thích hợp, người muốn cử hành Thánh lễ trọng thể mỗi ngày.

43. Cha Đa Minh rất khao khát ơn cứu độ cho các linh hồn, cả có đạo cũng như người không có đạo. Người thường nói với anh Phaolô: “Sau khi thiết lập và lo liệu cho Dòng, chúng ta hãy đi đến những người Cuman, rao giảng niềm tin của Đức Kitô cho họ và thu phục họ cho Ngài”.

Cha Đa Minh hoàn toàn tuân giữ luật Dòng nghiêm túc, khuyến khích và ra lệnh cho các anh em cũng làm như vậy, và trừng phạt nghiêm khắc những người phạm tội. Tuy nhiên, người khiển trách họ bằng sự kiên nhẫn và tử tế nên không một ai cảm thấy đau khổ hay chống đối khi bị sửa lỗi.

Người hiện diện với cộng đoàn trong các bữa ăn và giờ kinh Thần vụ. Dù rất thường xuyên cầu nguyện suốt đêm trong nhà thờ, nhưng người luôn luôn hiện diện với anh em trong giờ kinh đêm; người đi vòng quanh từ côrô này sang côrô khác, khuyến khích các anh em bằng lời nói và mẫu gương của người để họ hát hay và sốt sắng, và để tận tâm đọc thuộc lòng những bài Thánh vịnh. Người rất chú tâm khi cầu nguyện đến nỗi chưa bao giờ bị sự náo động hay tiếng ốn ào nào làm sao lãng.

Cha Đa Minh là người ủi an tốt nhất cho anh em và những người khác khi họ gặp điều phiền muộn hoặc cơn cám dỗ. Anh Phaolô biết sự việc này bởi vì chính anh đã cảm nghiệm được điều này cũng như nghe được từ những anh em khác. Anh cũng nói rằng cha Đa Minh rất kiên nhẫn và trắc ẩn, điềm đạm, đạo đức, khiêm nhường, tử tế và khiết tịnh. Anh đã nghe được, và chính anh xác tín, rằng cha Đa Minh luôn luôn là một người khiết tịnh.

Người nổi bật về các nhân đức này và những nhân đức khác đến nỗi anh Phaolô chưa hề thấy một ai, vào thời của người, lại thánh thiện hơn người, hoặc chưa bao giờ gặp được ai bằng người. Bất cứ nơi nào đến, người luôn rao giảng cho những người tham gia vào nhóm của người và kêu gọi họ sám hối.

44. Anh Phaolô hiện diện lúc di dời thi hài cha Đa Minh từ ngôi mộ mà người được an táng lúc qua đời đến ngôi mộ hiện tại. Nhiều Giám mục và giáo sỹ, thị trưởng và nhiều Giám mục và giáo sỹ, thị trưởng và nhiều bậc vị vọng của Bologna cũng hiện diện. Khi bắt đầu đào, họ thấy một nền đất cứng, các mặt của ngôi mộ rất chắc chắn, xi măng khá rắn và bền; họ chỉ có thể dùng những cái vồ và cọc sắt để đập bể nó. Sau đó họ gặp một việc rất khó khăn là nhấc miếng đá được đặt trên đỉnh ngôi mộ lên. Khi miếng đá được nhấc lên và ngôi mộ được mở ra thì một hương thơm dịu dàng và thoảng bay ra từ phần mộ này, đến nỗi tỏa khắp ngôi nhà thờ. Khi anh Phaolô và những người đứng xem ngửi thấy hương thơm này, họ đã phủ phục trên nền nhà và khóc lóc, cảm tạ Thiên Chúa vì hương thơm mà họ đã ngửi thấy. Trước đây, anh Phaolô chưa bao giờ cảm nhận được một hương thơm như thế nơi các cơ sở bào chế, bông hoa, hoặc một nơi nào khác. Anh cũng như những người đứng xem (như họ đã thừa nhận) cũng không thể xác định được hương thơm này; nó dường như không giống với bất kỳ hương thơm nào ở trần gian. Anh đã biết tất cả những điều này bởi vì anh đã hiện diện khi mờ phần mộ, nhìn thấy những điều này và ngửi thấy hương thơm đó, như anh đã nói trên.

45. Anh Phaolô nói rằng anh từ Venice đến Bologna vào Chúa nhật trước để đưa ra lời chứng của mình. Nhưng vào tối Chúa nhật, một cơn đau mãn tính khủng khiếp nơi phần lưng và thận của anh bỗng xảy ra. Do đó, sợ rằng sẽ không thể trình bày lời chứng của mình, nên anh đã đi đến phần mộ của cha Đa Minh và nhận được sự trợ giúp mãnh liệt. Anh đã hoàn toàn được chữa khỏi dường như ngay lập tức.

(9) LỜI CHỨNG CỦA ANH FRUGERIO PENNE

46. Vào ngày 15 tháng 08, tu sĩ Frugerio Penne, thuộc Dòng Anh Em Giảng Thuyết đã nói dưới lời thề rằng anh đã gia nhập Dòng vào cuối mùa Chay, 14 năm về trước. Anh đã khấn trong tay cha Reginald và cũng lãnh nhận áo dòng từ ngài. Sự kiện này xảy ra trong nhà thờ Masscarella, là nơi Dòng Anh Em Giảng Thuyết được thiết lập đầu tiên ởBologna. Suốt mùa hè năm đó, khi Dòng thành lập tại nhà thờ thánh Nicholas, cha Đa Minh, Đấng sáng lập và vị Tổng quyền đầu tiên của Dòng, đã đến Bologna. Với sự cho phép của cha Reginald, anh Frugerio Penne đã về thăm gia đình của mình và trở lại Bologna vào ngày 01 tháng 09. Tại nhà thờ thánh Nicolas, anh đã gặp cha Tổng quyền Đa Minh.

Sau đó, anh đã sống với cha Đa Minh khoảng bốn tháng trong các Tu viện ở Bologna, Florence, và Rôma. Anh cùng đi với người đến Rôma và các thành phố khác; anh đã đọc kinh Thần vụ với người, hai người cùng ăn uống và trò chuyện; anh thường giải tội cho cha Đa Minh, cầu nguyện và nói chuyện với người về Thiên Chúa suốt đêm ngày. Lòng nhiệt thành của cha Đa Minh dành cho việc cầu nguyện thì không ngừng, cả trong Tu viện lẫn lúc đi đường, đến nỗi anh Frugerio chẳng bao giờ thấy người nằm ngủ trên giường, hoặc trong nhà hay lúc đi lại, mặc dù đôi lúc chỗ ngủ đã được chuẩn bị sẵn cho người. Thỉnh thoảng, có lúc mệt lử do những buổi canh thức riêng, người chợp mắt một chút, tựa đầu lên tay hoặc nằm trên nền nhà hay trên một vài tấm ván. Khi được hỏi làm sao anh biết điều này, anh Frugerio Penne trả lời rằng anh đã nhìn thấy những sự việc ấy.

Anh đã thấy cha Đa Minh cử hành Thánh lễ nhiều lần, vừa ở trong Tu viện vừa trên các cuộc hành trình, và chẳng có lần nào mà người không khóc. Anh biết được tất cả những điều này vì anh đã nhìn thấy.

47. Khi cha Đa Minh cầu nguyện suốt đêm, những lời thỉnh cầu của người được kèm theo những tiếng rên rỉ và những giọt nước mắt. Người cũng khóc khi rao giảng cho anh em. Thường anh em cũng bị cảm động đến ứa nước mắt từ mẫu gương của người. Anh Frugerio chưa bao giờ nghe người nói một lời vô ích hoặc hiểm độc, những lời nịnh hót hay dèm pha; đúng hơn, người luôn nói về Chúa. Mỗi khi có ai đi theo cha Đa Minh trên đường theo cha Đa Minh trên đường, người sẽ rao giảng về Chúa cho họ. Người nỗ lực khuyến khích các anh em cũng làm như vậy, và đưa việc thực hành này vào luật Dòng Anh Em Giảng Thuyết. Người có một lòng nhiệt thành bừng cháy đối với ơn cứu độ các linh hồn, không chỉ cho các Kitô hữu, mà còn cho cả những người Saraen15 và những người ngoại đạo khác. Người cũng thúc đẩy anh em nhiệt thành như vậy. Tình yêu đối với các linh hồn cao cả đến nỗi người đã dự đinh đi đến các dân ngoại, và nếu cần thiết, có thể chết cho niềm tin này, khi mà các anh em của người đã được chính thức hóa bởi Giáo hội. Khi được hỏi làm sao biết điều này, anh trả lời rằng anh đã nghe cha Đa Minh nói về nó và thực hiện những dự định của người.

Cha Đa Minh luôn nghiêm khắc với chính mình. Khi đang đi lại, người vẫn tuân giữ luật chay tịnh của Dòng các hoàn hảo, không ăn một thứ gì trước giờ đã qui định, nhưng người luôn bảo các anh em ăn hai bữa thông thường.

Người thường sử dụng bộ áo dòng cho cả mùa hè lẫn mùa đông. Người yêu mến đức khó nghèo và khuyến khích anh em thực hành nó. Khi được hỏi làm sao biết sự kiện này, anh Frugerio trả lời rằng anh thường thấy cha Đa Minh mặc một bộ áo dòng cũ kỹ. Anh cũng nghe được rằng người khuyến khích anh em đón nhận và yêu mến đức khó nghèo. Nếu cha Đa Minh thấy một vài anh em mặc những bộ đồ đáng trách (hoặc vì mắc tiền hoặc vì kiều dáng), ngay lập tức người khiển trách và điều chỉnh anh ấy ngay. Người yêu mến đức khó nghèo đến nỗi người không muốn anh em đón nhận bất cứ tài sản nào nhưng muốn anh em sinh sống bằng việc khất thực. Về sau, người đưa điều đó vào trong luật Dòng. Người cũng muốn anh em có những căn nhà giản dị và đồ đạc đơn giản cho việc học hành, bởi vì anh em phải thể hiện đức khó nghèo của mình trong mọi thứ.

48. Cha Đa Minh tuân giữ luật Dòng cách nghiêm túc, hoàn hảo và mong ước rằng các anh em cũng tuân giữ như vậy. Nhưng thỉnh thoảng thấy anh em vi phạm luật Dòng, người trừng phạt họ bằng sự ôn hòa tuyệt vời và nói với họ một cách thân ái. Không một ai chống đối người, mặc dù việc sám hối này xem ra khắt khe. Khi được hỏi về nguồn gốc thông tin này, anh trả lời rằng anh đã sống với cha Đa Minh suốt một thời gian dài và vì thế đã thấy và nghe được những điều này. Anh cũng giải tội cho cha Đa Minh chưa bao giờ phạm bất cứ tội trọng nào. Cha Đa Minh khiêm nhường và tử tế, kiên nhẫn trong gian khổ và vui mừng trong thử thách; người đạo đức và giàu lòng thương xót, là người ủi an các anh và người ngoài nữa. Người sáng ngời vói các nhân đức, từ các nhân đức này mà anh Frugerio đã thấy và nhận ra nơi người, nên anh xác tín rằng anh chưa bao giờ thấy hoặc biết bất kỳ ai như người.

49. Aldrevando, con của Theobaldo, một công chứng viên với thẩm quyền Hoàng đế, theo mệnh lệnh của Tancred, Tổng Phó tế Bologna, Thomas Ubaldino, Bề trên Tu viện thánh Maria ở Reno, và Palmerio là kinh sĩ nhà thờ Campagnola, thuộc Dòng thánh Augustinô, và những ủy viên hội đồng được ủy nhiệm của Đức Giáo hoàng, đã nghe những chứng nhân này, ghi nhận và thảo thành một văn kiện công chứng. Chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa luôn mãi.

Như vậy, đến đây là kết thúc những chứng từ nói về đời sống công và tư, cái chết và những phép lạ của cha Đa Minh.

————–

  1. Ngôn ngữ giáo luật gọi la “Processus canonizationis”, có thể dịch là: “thủ tục phong thánh”. “vụ án phong thánh”, hay đơn giản “tiến trình phong thánh”. Người ta đưa ra ít là hai cách giải thích nguồn gốc từ “canonizatio”: a) ghi tên vào danh sách các vị thánh (canon: mục lục, danh bộ; b) ghi tên vào Lễ quy (Canon Missae: kinh nguyện Thánh Thể). Cách giải thích thứ nhất phổ thông hơn.
  2. Xc. Phan Tấn Thành, Tìm hiểu Dòng Đaminh, TPHCM 2002, Chương 1: Các tài liệu lịch sử.
  3. Lý do của sự chậm trễ phong thánh: tại vì anh em quá bận rộn với công tác tông đồ? Hay tại vì muốn tránh chuyện buôn thần bán thánh? Dù sao thì cũng nên biết là Dòng Anh Em Hèn mon đã thấy Tổ phụ của mình được phong thánh từ năm 1228 (không đầy 2 năm sau khi qua đời), và tới năm 1232 đã có vị thánh thứ hai (Antôniô Pađôva).
  4. Trong số những người cổ động cho vụ án, sau cha Tổng quyền Jordan Saxony, phải kể đến cha Gioan Vicenza (gia nhập dòng từ năm 1220)
  5. Chức vụ “Tổng Phó tế (arcidiaconus) đã biến dạng trải qua các thời đại. Vào thế kỷ XI-XII, các Tổng Phó tế đều là linh mục, và giữ chức vụ tổng quản lý trong giáo phận, và đôi khi thi hành những công tác giống như một Tổng Đại diện Giám mục, trong đó có công tác xử án. Tancred là một giáo sư giáo luật tạiBologna.
  6. Xc. Những môn đệ tiên khởi của thánh Đa Minh, tập I, tr. 158-162.
  7. Xc. Ibid., tr. 112-117.
  8. Xc. Ibid., tr. 152-154.
  9. Xc. Ibid., tr. 155-158.
  10. Xc. Ibid., tr. 133-136.
  11. Xc. Ibid., tr. 166-170.
  12. Chúng ta không biết nhiều về hai nhân chứng cuối cùng. Tiểu sử của Gioan Navarrê sẽ được trình bày trong Những môn đệ tiên khởi của thánh Đa Minh, tập II.
  13. VI. J. Koudelka, Les dépositions des témoins au procès de canonisation de saint Dominique in: Archivum Fratrum Praedicatorum 42 (1972) 47-67.
  14. Bản văn phê bình Acta canonizationis sanct: Dominici được cha A. Walz xuất bản trong Monumenta Ordinis Fratrum Praedicatorum historica vol. XVI, Roma 1935, P. 123-194.
  15. Những người Ảrập và người Hồi giáo vào thời Thập tự chinh.

Comments are closed.