Truyền giáo như còn mới

0

Vâng, đó là vấn đề tôi luôn thao thức..

Vì truyền giáo là lệnh truyền của Chúa : “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28, 19); Bởi truyền giáo là căn tính của Giáo Hội; và nhờ truyền giáo mà có ơn gọi thánh hiến cho chúng ta.

Cha cựu BTTQ dòng Đa Minh Timothy Radcliffe trong cuốn “Hát lên bài ca mới” đã nhấn mạnh:Tuyên khấn để thi hành sứ vụ, hay nói khác đi – khấn dòng là để được sai đi.

Chính Chúa Giêsu đã hơn một lần khẳng định : “Sự sống đời đời là nhận biết Cha, Đấng Duy Nhất và là Thiên Chúa thật và nhận biết Đấng Ngài đã sai đến là Đức Giêsu Kỉtô” (Ga 17,3).

Sau hơn 20 thế kỉ truyền giáo, Tin Mừng đã được loan đến mọi dân tộc khắp năm Châu, số tín hữu chiếm 30 % dân số thế giới. Vậy mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II vẫn cảm thấy “Sứ vụ ấy vẫn còn trong giai đoạn khởi đầu” (TĐ. SVĐCT). Với Hội Dòng chúng ta, việc truyền giáo cho lương dân đứng hàng đầu trong 4 phương thế hoạt động tông đồ (x, HP 69), nhưng tôi vẫn cảm thấy nó như còn mới mẻ đối với chúng ta. Và chúng ta nhận thấy rõ điều đó khi nhìn thấy số nhân sự hiện đang được dành cho sứ vụ trọng yếu này.

Trong tác phẩm “Loan báo Tin Mừng”, Linh mục Antôn khẳng định: “Có dấn thân cho việc truyền giáo, mới nói lên chúng ta đang thi hành giới luật mến Chúa yêu người. Vì Chúa lập nên Giáo Hội để Giáo Hội sống yêu thương, tức là trở nên công cụ loan báo Tin Mừng của Chúa.” Thiên Chúa chọn chúng ta, cũng như xưa Chúa đã chọn các Tông Đổ (x. Mt 4, 19, 21; 9,9); và người chọn là để sai đi: “Như Cha Thầy đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20, 21). 

SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO TRONG LỊCH SỬ GIÁO HỘI 

Vì yêu Thầy, trân trọng lệnh truyền và ý thức sâu giá trị ơn cứu rỗi cho các linh hổn, Giáo Hội tiên khởi đã miệt mài, hăng say vì sứ vụ Thầy trao. Thật vậy, Giáo Hội chưa bao giờ nhiệt tâm truyền giáo bằng thời các Tông Đổ và cũng chưa bao giờ Giáo Hội sống Phúc Âm bằng thời ấy. Người thời đó có cảm thức phải truyền giáo. Họ truyền giáo một cách tự phát như hít thở. Họ đi đâu thì Tin Mừng được loan báo tới đó. Chỉ trong vòng 3 thập niên, hạt giống Tin Mừng đã nảy mầm và trổ bông trên khắp các nước xung quanh Địa Trung Hải. Sở dĩ Tin Mừng có sức lan rộng như vậy là nhờ sự ý thức cao nơi mọi người. Có thể nói, họ đã mặc lấy tâm tình của Thánh Phao Lô: “Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9,16). Họ ra đi truyền giáo mà không chờ lệnh của hàng Giáo phẩm. Đặc biệt là tại Antiokia, một số tín hữu đến từ Kyrene, Syp (x, Cv 11,19- 24). Những người nổi tiếng đó là vợ chồng Pơrítca – Aquila, và hàng chục người nam nữ được thánh Phaolô nêu danh trong thư Rôma (Rm 16, 1 – 16). Thậm chí Apolo, một người chưa được chịu phép Rửa trong Đức Kitô cũng đi rao giảng. Đúng là Thánh Thần đã thôi thúc họ; Tình yêu Đức Kitô đã thúc bách họ” (2 Cr 5, 14). 

Vào giữa thế kỉ thứ IX (862), Tin Mừng được loan báo đến tận miền xa nhất của Châu Âu, đó là miền đất của dân tộc Nga. Nhưng rồi từ đó, trong suốt khoảng thời gian dài, từ thế kỉ IX – XIV, Giáo Hội đã không đến với lương dân nữa. Giáo Hội dần dần xa lạ với lương dân. Tin Mừng đã không còn đến với vùng xa xôi hẻo lánh. Bắc Âu chỉ còn là băng tuyết. Phía Tây là Đại Tây Dương; phía Đông và phía Nam là 2 bức tường thành kiên cố của Hồi Giáo. Không còn lưu tâm với sứ vụ đến với lương dân, Giáo Hội trở về củng cố nội bộ. Nhưng khi đã đánh mất bản chất của mình là loan báo Tin Mừng, thì càng củng cố nội bộ, Giáo Hội càng lủng củng.

Chính trong thời củng cố nội bộ này mà Nhiệm Thể Chúa Kitô bị phân chia làm 4 :

Chính Thống Giáo tách khỏi Giáo Hội (1054)

Tin Lành ra khỏi Giáo Hội. (1521)

Anh Giáo ly khai Giáo Hội (1535)

Cũng trong thời gian này, lịch sử Giáo Hội ghi lại nhiều trang đen tối. Đời sống tu đức xuống dốc. Thánh Têrêsa phải đứng lên canh tân 40 Dòng Kín.

Một cuộc chiến kéo dài 200 năm (1096 – 1270) giữa Công giáo và Hồi Giáo. Người tín hữu lúc đó không thấm nhuần tinh thần Phúc Âm, nên thay vì vâng lời Thầy bỏ gươm vào vỏ thì lại tuốt ra, và cho rằng Chúa muốn như thế, nên những cuộc chiến tàn khốc cứ kéo dài và mối hận thù vẫn còn hằn in tới ngày nay.

Toà án tôn giáo của thời này cũng để lại vết đen trong lịch sử Giáo Hội: Đưa lên hỏa thiêu những người lạc đạo.

Trước Công Đồng Vatican II, sứ mạng truyền giáo mới chỉ được coi như là một bổn phận của Giáo Hội. Bản chất của muối là mặn, nếu không mặn thì không còn là muối. Cũng thế, Giáo Hội không truyền giáo thì Giáo Hội không còn lý do để tồn tại. Giáo Hội chỉ có thể canh tân mình khi nhìn vào căn tính của mình là truyền giáo. Kitô giáo Âu Châu đang thoái hoá. Nó chỉ có thể phục hưng khi thực thi sứ mạng truyền giáo. Hiểu như thế, Giáo Hội truyền giáo là để tự canh tân mình và để chu toàn sứ vụ Chúa trao phó.

Những ý tưởng trong tác phẩm “Loan báo Tin Mừng” của Linh mục Antôn,đó là lời mời gọi để Hội Dòng chúng ta nhìn lại mình, và để làm sáng lên tên gọi là Dòng Thuyết Giáo không? Và đó có là lý do thúc bách chúng ta đẩy mạnh công cuộc truyền giáo, phương thế ưu tiên hàng đầu trong sứ vụ của Hội Dòng không?

TRUYỀN GIÁO-VẤN ĐỀ KHẨN CẤP

“Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (Lc 10, 2).

Lúa chín mà không gặt hợp thời đúng buổi, cây lúa sẽ khô héo, gục bông xuống bùn và lúa sẽ hư. Tính khẩn cấp về phần rỗi của anh em không cho phép chúng ta đắn đo, suy tính, do dự nhưng phải mau mắn dấn thân cho sứ vụ này.

Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương xót đám dân như đoàn chiên không người chăn (x. Mc 6,34 – 44). Và rồi Ngài đã sai các ông đi, dù việc huấn luyện chắc cũng chưa tới đâu, vì ta thấy các Tông Đồ ra đi, mà vẫn chưa biết cách cầu nguyện nên các ông xin Ngài dạy dỗ (x. Lc 11,1). Ngài biết họ còn non nớt về mọi phương diện nên Ngài cũng nói lên: “Thầy sai anh em đi như sai chiên non vào giữa bầy lang sói” (Lc 10,3). Biết thế mà vẫn sai đi vì vấn đề khẩn cấp. Tuy nhiên Ngài cũng trấn an họ: “Đừng sợ, Thầy ở với các con mọi ngày” (Mt 28,20).

Cũng vì tính cách khẩn trương của sứ vụ, Cha thánh Đa Minh đã sai các Tập sinh ra đi truyền giáo. Sự kiện này đã gây ra khó chịu và lo ngại trong các anh em. Nhưng Ngài nói: “Anh em hãy tin tưởng ra đi, bởi vì Chúa sẽ ở với anh em, và Ngài sẽ đặt vào môi miệng anh em những lời lẽ để giảng thuyết”. Phải được sai đi đến với lương dân, đến với những con người nghèo, cả tinh thần lẫn vật chất và nghèo cả tình thương, dần dà, chúng ta mới cảm thương, mới chạnh lòng, mới nảy sinh sáng kiến và mới dám dấn thân, quên mình vì sứ vụ cứu rỗi anh em. Chúng ta nên nhớ rằng, sứ vụ này không dựa trên khả năng của nhân loại, nhưng dựa vào quyền năng của Đấng Phục Sinh và sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Sau lễ Ngũ Tuần, những bác thợ chài dốt nát, nhát như thỏ đế, đã trở thành những nhà hùng biện đầy thần khí, những chứng nhân can đảm nhiệt thành, sẵn sàng hi sinh tất cả, ngay đến mạng sống cho sứ vụ (x.Cv 1,8;8, 17 – 18). Thánh Thần là tác nhân chính trong sứ vụ. Ngài sẽ hoạt động trong người nói và người nghe (TĐ. SVĐCĐ).

Vậy chúng ta còn do dự điều gì? Sợ thiếu hụt kinh tế chăng?

“Anh em hãy tìm Nước Trời và sự công chính của Người, còn các thứ kia Người sẽ thêm cho” (Lc 12,31). Là tu sĩ, chúng ta không chỉ tìm Nước Trời cho mình, nhưng phải có bổn phận tiếp nối sứ vụ của Đức Giêsu Kitô với một đòi hỏi gắt gao: “Anh em hãy đi” (Mt 28,19). Cha Timothy Radcliffe nói rõ: “Chúng ta phải kêu gọi nhau dâng hiến đời cho những dự phóng mới, dám nắm lấy những thách đố của thời đại, hơn là chỉ sử dụng những thách đố ấy để duy trì những cơ chế hoặc những cộng đoàn không còn sức sống đối với việc giảng thuyết nữa” (Hát lên bài ca mới, tr. 41).

ĐTC Gioan Phaolô II và các GM Châu Mỹ La Tinh trong lần họp thứ 3 tại Puello tuyên bố: “Giáo Hội trong toàn thế giới muốn là Giáo Hội của người nghèo khổ” Người nghèo là đối tượng ưu tiên cho việc truyền giáo và là thao thức khôn nguôi của Đức Giêsu: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi và Ngài đã xức dầu tấn phong tôi. Sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo hèn” (Lc 4,18). Như vậy, đến với người nghèo là ra đi đến tận biên cương. Đến với người nghèo chắc chắn chúng ta không có được lợi nhuận vật chất. Nhưng khi trở về, chúng ta sẽ có được niềm vui chiến thắng. Trước hết là thắng mình trong thái độ dễ dãi, thích tiện nghi và ưa cầu nhàn. Vui vì mình đang thực sự giống như Thầy trong cảnh nghèo nàn : “Cáo có hang, chim có tổ, Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8,20) và đang thực hiện điều Thầy truyền. Vui vì đem Tin Mừng cứu rỗi cho anh em, giải thoát họ khỏi những đè nặng của khổ đau, nghèo đói tủi nhục, và bởi thấy họ có được niềm tin vào Đấng đã Phục Sinh để vui chấp nhận trong cảnh an bình thực tại trần thế.

Mới đây, tôi và 2 chị đi Kontum, ghé thăm trường các Sơ dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm. Nhìn tấm hình các cô giáo mặc đổng phục rất đông, tôi hỏi và được biết đó lả đội ngũ giáo viên của trường. Tuy số học sinh là 350 nhưng chỉ có 3 Sơ điều hành. Sơ Bề Trên nói: “Chúng em phải dành người để truyền giáo. Vì chúng em ở ngoài Huế xin vào đây để truyền giáo”

Thật cảm phục!

Họ đã chia sẻ phần ăn,

Họ đã ý thức sứ vụ.

Và họ đã biết đâu là giá trị ưu tiên.

Chúng ta đã dự kiến tập các lớp mẫu. Chúng ta vẫn thấy trên truyền hình những cô giáo kể chuyện về người tốt việc tốt rất hay, rất truyền cảm, trẻ há miệng nghe không chán. Có nghĩa là gì? Các cô giáo ngoài làm được, đứng lớp giỏi và cũng đạt chất lượng cao. Chúng ta có suy nghĩ gì không?

Truyền giáo khó vì chính quyền không cho phép. Nhưng “họ bắt các con ở thành này, hãy trốn sang thành khác” (Mt 10, 23). Đúng vậy, các Tông Đồ và Giáo hữu thời sơ khai đã thực hiện theo lời Chúa dạy. Trốn cuộc bách hại ở Giêrusalem, họ lên Antiokia, và biến Antiokia thành trung tâm của Giáo Hội sơ khai, vì ở đó được bình an, số tín hữu được gia tăng.

Hiện nay, như chúng ta thấy, miền Cao nguyên, miền Đồng Nai… việc truyền giáo khó. Nhưng tại miền Tây, nhờ tài khéo của các Linh Mục mà việc truyền giáo được dễ dàng hơn. Không phải lo đến việc phải xây nhà ở, mọi sự đã có sẵn, có thể là nhà tranh vách lá và có thể rắn rết một đôi khi chung hộ. Nhưng Chúa có hứa là dù chúng con có đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực kẻ thù, chẳng có chi làm hại được các con (x,Lc 10,19). Chúng ta có dám tin không? Nếu Hội Dòng chúng ta không tạo điều kiện để chị em dấn thân vào biên cương sứ vụ, sợ rằng với những người đã quen sống trong cảnh thoáng mát, sạch sẽ, tiện nghi, công việc ổn định, khi được sai đi sẽ trở nên gánh nặng cho họ; vì đã hết nghị lực, lòng nhiệt thành thuở ban đầu đã lịm tắt, vốn liếng thần học cũng đã mai một… Đáng lo thay! Vì người ta rất dễ bình tâm khi không thấy cảnh nghèo đói, nheo nhóc và trở nên vô cảm trước những hoàn cảnh thương tâm. Vậy làm sao chúng ta có thể làm chứng cho Đấng đã cảm thương khi chứng kiến cảnh bà mẹ goá đi an táng người con trai duy nhất của mình (Lc 7,11 -13); Đấng đã không thể cầm lòng trước đám đông vì sợ họ đói lả dọc đường (x. Mc 6,34-44) và làm sao chúng ta thể hiện được cách sống như thánh Phaolô “Tôi đã trở nên yếu đối với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người” (1 Cr 9,22).

Đọc Thông điệp “Sứ vụ Đấng Cứu Thế”, chúng ta thấy ĐTC Gioan Phao Lô II nhắm tới 3 đối tượng trong việc loan báo Tin Mừng:

– Người đã rửa tội đang sống trong đức tin (Mục vụ giáo xứ) để củng cố đức tin cho họ được vững mạnh và lớn lên. Trong khi thi hành mục vụ giáo xứ, chúng ta cũng cần đào tạo tông đồ giáo dân vì truyền giáo là sứ vụ chung của người Kitô hữu.

– Người đã rửa tội nhưng bỏ Giáo Hội (tái rao giảng Tin Mừng). Hiện tượng này đang bành trướng ở các nước Âu Mỹ.

– Người chưa được nghe biết Chúa (Truyền giáo cho lương dân).

Với cả 3 đối tượng trên, sứ vụ truyền giáo được thực hiện bằng 3 phương thức sau đây:

Thăm viếng:

Đây là một phương thế đem lại nhiều kết quả nhất. Nó như chiếc cầu nối đưa người ta xích lại gần nhau và thương mến nhau, rồi từ đó mở đường cho Tin Mừng đi tới. Đương nhiên, phương thức này đòi phải nhiều thời gian, sự kiên trì và phải hao tốn sức lực. Nhưng sứ vụ truyền giáo đòi người ra đi phải sẵn sàng chấp nhận. Vì có thăm viếng, chúng ta mới tiếp cận và có tiếp cận mới có trao đổi và rồi vấn đề trao đổi sẽ khai thông tâm trí con người để chuẩn bị cho việc đón nhận Chân lý Nước Trời.

Tại các tỉnh thành, việc thăm viếng ngày nay không dễ, vì nhà người giầu, có tường cao kín cổng. Chúng ta cũng đã nghĩ tới việc tương giao với các gia đình học sinh, nhưng có thực hiện được bao nhiêu?

Phát triển đời sống

Thường những vùng dân quê cuộc sống rất khó khăn. Phương tiện thiếu thốn: Đường đi lại, nước uống và mọi sự như trong giai đoạn hoang sơ. Nên việc giúp đỡ và phát triển đời sống cho dân địa phương sẽ gây được rất nhiều ảnh hưởng. Vì “có thực mới vực được đạo”. Nếu ở tiền tuyến chúng ta hiện diện để loan báo Tin Mừng và tại địa phương, Dòng có Ban Sứ vụ để thực hiện những chương trình phúc thiện, tạo điều kiện cho việc nâng cấp đời sống người dân, mở lớp tình thương, xây cầu cống, khoan giếng nước… Chắc chắn việc truyền giáo của Dòng sẽ đạt kết quả. Tất cả các chương trình BAXH này chúng ta đã thực hiện rất nhiều ở miền Tây, nhưng vì chúng ta chưa hiện diện thường xuyên nên việc loan báo Tin Mừng chưa đi sâu vào lòng dân. Nếu việc làm song hành với lời rao giảng chắc sẽ có hiệu năng hơn.

VÀI GI Ý ĐỂ CÙNG SUY NGHĨ

Dành thêm người cho việc truyền giáo

Mẹ Bề trên Anastatia nói : “Người tu sĩ chưa đi truyền giáo thì chưa thể trưởng thành”

Vì vậy, tại các trường lớn của dòng, có thể chúng ta chỉ cần một Ban điều hành có khả năng chuyên môn và nhiệt tâm để điều hành trường. Một số chị em có khả năng và yêu nghề, yêu trẻ vẫn tiếp tục công việc, để mai sau kế thừa trong trách vụ điều hành. Chúng ta thuê giáo viên ngoài (nhiều Dòng đã thực hiện), chị em chỉ dạy một buổi, thời gian còn lại để hoàn tất các khoản luật đòi về đời sống thiêng liêng, nghiên cứu học hành (CN 1999, số 22 – 23; HT XPLTĐKT số 20; cv HĐCVMR 2001 số 60).

Chị em dạy học, nhưng vẫn tham gia công tác mục vụ giáo xứ, vì đó là động lực thúc đẩy chị em nghiên cứu học hành. Giúp cho vốn thần học không mai một, và hơn nữa việc tông đổ cũng góp phần nuôi linh hồn người tông đổ.

Trau dồi thêm chuyên môn

Chị em dạy học tại các thành phố trong vòng 4 năm để có cơ hội học thêm một chuyên môn nào đó. Sau khi hoàn tất, nên thay đổi cho chị em khác để chị em cũng có có hội để học hỏi thêm, giúp chị em có điều kiện phục vụ tha nhân tốt hơn, chuyên môn hơn.

Xin Chúa thánh hóa cuộc sống của chị em chúng ta, ban cho chúng ta niềm vui, sự hăng say, nhiệt tình và khao khát đem Chúa đến cho tha nhân.

Sr. Isabella Trần Thị Kim Hường 

Comments are closed.