Chúa Nhật Lễ Hiển Linh

0

CHÚA NHẬT LỄ HIỂN LINH

Mt 2, 1-12

1/ Chủ đề

Bài Tin Mừng hôm nay nhấn mạnh đến việc người Do Thái khước từ ơn cứu độ Đức Kitô ban tặng, còn dân ngoại thì đón nhận. Vua Hêrôđê và dân chúng Giêrusalem tượng trưng cho người Do Thái; các nhà chiêm tinh tượng trưng cho dân ngoại. Dân ngoại sẽ chiếm chỗ mà người Do Thái bỏ trống trong lòng dân Thiên Chúa, khi họ không chịu tin. Dân ngoại sẽ là dân Israel chân chính của thời đại cuối cùng, được kêu gọi chia sẻ hạnh phúc của cuộc sống tương lai.

2/ Bố cục : bài Tin Mừng này có thể được chia ra 3 đoạn

* 1-2: giới thiệu các nhân vật và hoàn cảnh, với câu hỏi mở đầu của các nhà chiêm tinh.
* 3-8: gặp gỡ Hêrôđê, vị vua “giả hiệu” của người Do Thái. Điểm chính yếu là sấm ngôn về Đấng Mêsia.
* 9-12: gặp gỡ “Vua dân Do thái” tại Bêlem, các nhà chiêm tinh tôn thờ Ngài. Mưu mô giết chóc của Hêrôđê bị thất bại bởi vì Thiên Chúa đã ra tay can thiệp.

3/ Tìm hiểu ý nghĩa của bản văn

a) Giới thiệu các nhân vật và hoàn cảnh, với câu hỏi mở đầu của các nhà chiêm tinh (cc. 1-2)

Chỉ trong một câu duy nhất, tác giả đã giới thiệu được khung cảnh địa lý, hoàn cảnh chính trị, và các nhân vật sẽ được đề cập đến trong bản văn. Chủ đề của chương 2, “vương quyền của Đấng Mêsia”, đã được gián tiếp gợi lên qua tước hiệu “vua” gán cho Hêrôđê, một danh từ liên tục được nhắc lại suốt bài này.

Các vị chiêm tinh này là ai? Theo cha Fx. Long, các vị này là những nhà chiêm tinh văn, chứ không phải là “vua”. Đặc biệt trong môi trường Mêsôpôtamia, hai ngành thiên văn và chiêm tinh đã có từ lâu đời và rất được trọng dụng. Các biến cố xảy ra trên bầu trời và trong thế giới loài người được coi là có liên hệ chặt chẽ với nhau. Người ta xác tín rằng ai hiểu các hiện tượng của bầu trời thì cũng hiểu lịch sử loài người và có thể ban các lời khuyên và những định hướng về lịch sử này. Các nhà chiêm tinh này có khả năng giải thích các giấc mộng và thấy trước tương lai bằng cách nhìn xem các vì tinh tú. Các vị cũng có khả năng biện phân ra ý muốn của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, làm thế nào mà các nhà chiêm tinh vừa ngoại quốc, vừa ngoại giáo lại có thể đi tìm vua dân Do Thái trên đất Palettina? Vào thời thượng cổ, người ta thường cho rằng cuộc chào đời của các nhân vật quan trọng được loan báo bởi các ngôi sao mới. Các nhà chiêm tinh cho rằng họ có thể đoán được vận mệnh của người ta nhờ quan sát chuyển động của các tinh tú. Họ nhận được một thông tin cho biết Đấng Mêsia đã chào đời và họ được thúc đẩy lên đường. Họ đi đến Giêrusalem, trung tâm của thế giới Do Thái, và hỏi ra vị vua này ở đâu?

Ngôi sao của Matthêu không phải là vì tinh tú mọc trên bầu trời, mà là ở trong Kinh Thánh. Theo Ds 24,17 thì sẽ có ngày “ngôi sao nhà Giacóp” sẽ mọc lên. Và dân Do Thái ở thế kỷ I đã áp dụng lời tiên tri này cho Đấng Mêsia. Hình ảnh tượng trưng đó rất phù hợp với câu chuyện về các nhà chiêm tinh ở đây.

Khi kể câu chuyện các nhà chiêm tinh, thánh sử Matthêu không quan tâm đến cuộc hành trình của các vị ấy cho bằng cuộc đối đầu của các vị với vua Hêrôđê. Thánh Matthêu cũng muốn nói với chúng ta rằng cuối cùng Đấng giải phóng nhà Giacóp đã đến. Các nhà chiêm tinh nhận ra Người và thờ lạy Người. Đến Giêrusalem, các nhà chiêm tinh tưởng là đã đạt mục tiêu, nhưng các vị lại nhận được một thông tin chính xác hơn có nguồn gốc từ Kinh Thánh. Hơn cả ngôi sao, Kinh Thánh mới là cuốn chỉ nam dẫn đường cho các nhà chiêm tinh.

b) Gặp gỡ Hêrôđê (cc. 3-8)

Hêrôđê là một vị vua đầy quyền lực, giầu có và được sự che chở, nâng đỡ của đế quốc La Mã. Hêrôđê luôn sợ bị đế quốc La Mã bỏ rơi. Mặc dầu đầy uy quyền, nhiều người run sợ trước quyền lực của Hêrôđê, nhưng giờ đây ông lại đang run sợ trước một con người bé nhỏ: Hài Nhi Giêsu.

Hêrôđê dù chưa biết con trẻ này là ai nhưng khi nghe các nhà chiêm tinh báo tin, ông mất ăn, mất ngủ vì sợ vương quyền của ông bị lung lay. Tuy nhiên, ở đây không những một mình Hêrôđê run sợ, nhưng cả thành Giêrusalem xôn xao. “Cả thành Giêrusalem”: đây là một kiểu nói phóng đại, như để báo trước việc toàn dân Do Thái loại trừ Đức Giêsu (x. Mt 21,10). Một sự tương phản đáng kinh ngạc: những người ngoại giáo, được hướng dẫn bởi những kiến thức hời hợt, pha trộn mê tín dị đoan, đã đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa, thực hiện một hành trình và điều tra kỹ lưỡng, để có thể bái kiến vị “Vua dân Do thái”; ngược lại, các nhà lãnh đạo Do Thái có ánh sáng Kinh Thánh soi dẫn thì phản ứng bằng sự sợ hãi và vô tâm (cc. 4-6).

Đối với thánh sử Mt, Giêrusalem là thành sẽ xảy ra cuộc đóng đinh; dân Giêrusalem là những người sẽ nói về cuối Tin Mừng, “Máu hắn cứ đổ xuống đầu chúng tôi và con cháu chúng tôi” (Mt 27,25). Sự bối rối của vua Hêrôđê và dân Giêrusalem ở đây báo trước thái độ thù nghịch trong cuộc Thương Khó (x. Mt 27,11.29.37.42). Ở đây, vua Hêrôđê, các thượng tế và kinh sư đã hiểu “Vua dân Do Thái” chính là “Đấng Kitô”. 

Lời tiên tri của Mikha (c.6), đáp lại câu hỏi “Vua dân Do Thái sinh hạ ở đâu?”(c. 2). Thánh sử Matthêu đã trích Mk 5,1-3 và phối kết với 2Sm 5,2 “Ngươi sẽ là mục tử chăn dắt Israel dân Ta” đó chính là lời hứa đối với Đavít. Lời tiên báo được sắp xếp lại như vậy có ý nghĩa gì?

* Trung thành với Mikha, Matthêu đã tôn vinh làng Bêlem đơn hèn, vì đó chính là ngôi làng của Đấng sẽ trở nên Mêssia cho những kẻ bé mọn (x. Mt 11,25-30).

* Nhận chân giá trị của thành vua Đavít và lời hứa ban cho vị vua này (2Sm 5,2) nối kết tầm quan trọng của tổ phụ Đavít của Chúa Giêsu như đã nhấn mạnh trong Mt 1.

* Nếu Chúa Giêsu phải là “mục tử dân Israel”, một tước hiệu gán cho chính Thiên Chúa (x. Tv 80,2) và nếu Giêrusalem đã khước từ Đấng chăn dắt mình, vậy thì lời tiên tri làm sao nên trọn được? Đó chính là toàn bộ thảm kịch của sứ vụ Đức Kitô.

c) Gặp gỡ “Vua dân Do thái” tại Bêlem(cc. 9-12)

Các nhà chiêm tinh đã can đảm lấy quyết định lên đường và cứ dò dẫm từng bước, và Thiên Chúa đã dẫn dắt các vị đạt tới mục tiêu bằng “ngôi sao” dẫn đường. Bởi vì các vị không kháng cự lại và không quản ngại mệt nhọc, trái lại đã chấp nhận được hướng dẫn, các vị đã vui sướng đạt tới mục tiêu. 

“Họ mừng rỡ vô cùng” (c. 10): thánh sử Mt nhấn mạnh đến niềm vui của các nhà chiêm tinh. Đây là niềm vui của những quốc gia ngoại giáo đã khám phá ra nơi Đức Giêsu ơn cứu độ mà họ vẫn trông chờ cách mơ hồ. Đối lại với niềm vui này là sự bối rối hoang mang của vua Hêrôđê và thành Giêrusalem, cũng như sau đó là cơn giận dữ điên cuồng của nhà vua (c. 16). Cũng có thể so sánh niềm vui lớn lao của các phụ nữ vào sáng ngày Phục Sinh (Mt 28,8) với cơn kinh hoàng của đám lính canh khiến họ ra như chết (Mt 28,4).

“Họ vào nhà” (c. 11): thánh Mt nối kết chặt chẽ niềm vui của những người ngoại giáo và việc họ đi vào “nhà”, đây là hình ảnh báo trước Giáo Hội, nơi người ta gặp được Đức Kitô và bái thờ Người. Khi vào nhà, các nhà chiêm tinh thấy “hài nhi và thân mẫu”. Công thức này được nhắc lại ở các câu 13, 14, 20 và 21. Tại sao thánh Mt không đề cập gì đến sự hiện diện của thánh Giuse? Thánh sử Mt muốn lập đi lập lại thành ngữ này để nhắc lại cuộc sinh hạ của Đức Giêsu do mẹ đồng trinh (Mt 1,18-25).

“Sấp mình thờ lạy Người”. Các nhà chiêm tinh, là những người khôn ngoan và giàu kinh nghiệm, đã phủ phục trước Hài Nhi, một trẻ sơ sinh không hề tỏ ra có chút uy hùng hay quyền lực gì. Đây là cách người Đông phương nhìn nhận Đấng có quyền trên mình, mình lệ thuộc phần nào hay hoàn toàn vào đấng ấy.

“Lấy vàng, nhũ hương, mộc dược mà dâng tiến”: Sau khi bái lạy một vị vua, thường có việc dâng lễ vật (x. St 43,26; 1 Sm 10,27; 1 V 10,2; Tv 72,10). Truyền thống các Giáo Phụ coi các lễ vật này là những biểu tượng: vàng muốn nói đến vương quyền của Đức Giêsu; nhũ hương để khẳng định thần tính của Đức Giêsu và mộc dược để loan báo cái chết và phục sinh của Ngài.

d/ Hành trình của ba nhà chiêm tinh là mẫu gương của người môn đệ Đức Kitô

Sau khi gặp Hài Nhi Giêsu, ba nhà chiêm tinh đã đi lối khác mà về xứ mình, thành ngữ “đi lối khác” muốn nói đến sự hoán cải, thay đổi cuộc sống của họ. Điều này muốn nói lên rằng khi gặp Chúa, tức khắc sẽ có một cuộc sống khác.

Hành trình của ba nhà chiêm tinh được diễn tả qua các động từ: “Thấy”, “đến”, “ra đi”, “mừng rỡ”, “sấp mình bái lạy”, “đi lối khác”. Đây cũng là hành trình của người môn đệ Đức Kitô: phải tìm gặp Chúa, thấy Chúa và khi gặp rồi thì chắc chắn cuộc đời sẽ đổi thay.

Suy thêm

1/ Được học biết về Chúa, có khi còn giới thiệu cho người khác biết Chúa, tôi có đến “bái lạy” Ngài hay dửng dưng như người Do thái ?

2/ Khi được ngôi sao chiếu dọi thì các đạo sĩ lên đường để tìm cho được vua Do thái mà bái lạy; còn tôi, khi tiếp nhận ánh sáng mạc khải trong khi cầu nguyện cũng như trong cuộc sống, tôi có nỗ lực bước theo ánh sao mạc khải như họ hay không? Khi đã gặp Ngài rồi, tôi có thái độ như thế nào?

 Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh

_____

Tài liệu tham khảo

1. Vũ Phan Long, « Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Hài Nhi Giêsu », Các bài Tin Mừng Matthêu dùng trong phụng vụ, Tôn giáo, Hà Nội, 2007, tr. 31-42.

2. Chú giải mục vụ của Claude Tassin.

 

Comments are closed.