Vị tha – Nền văn hóa Thánh Thể

0

Run run trong tay với tập Kinh Thánh mà những giòng chữ đan kín bên trong chính là Lời hằng sống, bởi lẽ đó là lời của người yêu; hẳn, ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần trải nghiệm giây phút thánh thiêng đầy cảm động đó. Nhất là khi không gian chỉ còn mình ta một cõi…

Như chiều nao, trong căn phòng tình nghĩa của bữa Tiệc ly, đã vọng vang lời trăn trối đầy yêu thương: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà nhớ tới Thầy… Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em.” (x Lc 22,19-20)

Ai dám nghĩ là mình có thể thực hiện lời di ngôn đó? Phận con người yếu đuối làm sao có thể vươn chạm tới cao độ của đức ái vô biên? Khi mà lòng vị tha đã hoán đổi một cách không thể hiểu được vị thế của nhau, thì từ nay: “Thầy không gọi anh em là tôi tớ nữa … nhưng là bạn hữu” (x Ga 15,15)

Nhưng như thế vẫn chưa đủ, lòng vị tha còn đẩy tới chỗ hiến mạng cho nhau, nên sự sống của nhau   :

Mình Thầy hiến tế vì anh em
Máu Thầy đổ ra vì anh em ” (x Lc 22, 19-20)

Bị choáng ngợp trước sáng kiến tình yêu đó, con người như chạm ngõ thiên cung, nơi mà ngôn ngữ vị tha đã trở thành đỉnh điểm cho một nền văn hóa sống động của vương quốc tình yêu tại thế. Một vững quốc cần được khám phá:

1. Từ “nền” văn hóa Thánh Thể

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã quan niệm: khi sinh ra, chưa ai thực sự là người, chúng ta chỉ thực sự là người khi được Tin Mừng hóa. Nói như vậy chẳng khác gì Ngài muốn khẳng định: nếu muốn sống thực sự là người, con  người tất yếu phải sống dưới một nền văn hóa thích đáng và theo Ngài, đó là nền văn hóa Tin Mừng. Nhà Tiến sĩ Ấn Độ học Hoành Sơn đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự liên quan tương tác giữa con người và văn hóa: “Con người không chỉ là động vật giữa muôn ngàn động vật khác. Bởi vì những động vật khác chỉ cần sống như con vật thôi, chứ con người còn phải sống sao cho ra người nữa. Mà để sống cho ra người thì phải có văn hóa.”2

Nhưng văn hóa là gì? Với những nghi nghĩa của từ ngữ, Hoành Sơn đắc ý với câu định nghĩa về văn hóa và văn minh của Dictionnaire de l’Académic như sau: “Trên bình diện xã hội, thì ngày nay văn hóa biểu thị toàn thể các mặt trí thức, đạo đức vật chất, các hệ giá trị, các phong cách sống, chúng đặc điểm hóa một văn minh.”3 Nếu như trong Thông điệp Đức Tin và Lý Trí, Đức Gioan Phaolo II đã xác định: “Người ta có thể định nghĩa con người là kẻ đi tìm chân lý,”(x. số 28) thì một cách rất hiển nhiên, chân lý từ Thánh Thể đã tỏa rạng cho chúng ta một nền văn hóa vị tha như là cốt lõi, như là lẽ sống cơ bản cho bất cứ thành viên nào muốn trở thành công dân của vững quốc Giêsu, vững quốc của tình yêu. Vững quốc này chỉ có một điều luật phải giữ là sống vị tha: “Điều răn trọng nhất là: ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi và ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.” (x Mt 22, 34-40). Chính Đức Giêsu là đá tảng để dựng xây vững quốc ấy: “Anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, nhưng là người đồng quyền với dân thánh, là người nhà của Thiên Chúa, bởi đã xây dựng trên nền móng là các Tông đồ và Ngôn sứ, còn đá tảng góc tường là chính Đức Kitô Giêsu.” (Ep 2, 19-20)

Nếu Thánh Thể là con đường duy nhất còn lại, để Đức Giêsu thể hiện tình yêu của Ngài với loài người, thì chính Ngài đã trở thành Đấng trung gian duy nhất, là cầu nối duy nhất để con người có thể thông hiệp với Thiên Chúa trong cuộc sống tại thế này: “Chỉ có một thân thể, một Thần Khí cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa Cha của mọi người Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người.” (Ep 4, 4-6) Quả vậy, nơi Đức Giêsu lòng yêu thương trở nên hữu hình: sự sống, cái chết và sự Phục Sinh của Ngài đã chứng minh điều đó.

Nền đã được xây lên, đó chính là Giáo Hội vì Giáo Hội được khai sinh từ mầu nhiệm Vượt qua, như Đức Gioan Phaolo II đã khẳng quyết: “Nếu chính nhờ Chúa Thánh Thần được ban vào ngày lễ Ngũ Tuần mà Giáo Hội được khai sinh và bắt đầu cuộc hành của mình trên các nẻo đường của thế giới thì chắc chắn việc thiết lập bí tích Thánh thể trong nhà Tiệc ly là một khoảnh khắc quyết định của việc thiết lập Giáo Hội. Nền tảng và nguồn gốc của Giáo Hội, chính là tất cả Tam Nhật Vượt Qua.”4  Chính nơi Bí Tích Thánh Thể mà mối thân tình xuất hiện: con người được mời gọi để lớn lên trong sự thân mật với Chúa, họ được mời gọi để làm thành một cộng đoàn sống với Chúa: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng” (CvTđ 2, 42) Sống với Chúa Giêsu Thánh Thể là học với Ngài để biết suy tư, biết đánh giá và biết nhận định như Ngài. Biết nhìn với ánh mắt của Ngài, cư xử như  Ngài và sống như Ngài, vì: “Hội Thánh không ai khác hơn là “chính bản thân Đức Kitô.”5  Khi thấy Đức Giêsu hiến mạng vì con người, khi thấy Đức Giêsu đổ Máu mình ra vì yêu thương con người thì chính hành động đó của Ngài đã bắt đầu khuôn đúc nên người tín hữu thực sự: “Chính vì thế mà Thánh Thể, bí tích tuyệt hảo của mầu nhiệm Vượt qua nằm ở trung tâm đời sống Giáo Hội.”6

Tuy nhiên, cái “nền” đức ái đó chỉ trở thành kiểu mẫu cho mọi hành vi của chúng ta khi nào tình yêu của Giêsu Thánh Thể ăn rễ sâu vào đời sống chúng ta. Điều này khiến chúng ta phải tự vấn: làm sao biết được nếp sống của chúng ta là người có văn hóa Thánh Thể để chúng ta chỉ có thể là sống yêu thương?

2. Tới “nét” văn hóa vị tha

Theo quan điểm nhân học, một cách rất thông thường người ta cho rằng: có sinh trưởng trong cùng một nền văn hóa thì con người mới dễ hiểu nhau và nắm bắt được hết mọi vấn đề của nhau. Nền văn hóa Thánh Thể là nền văn hóa phổ quát: “Tính cách phổ quát của Bí Tích Thánh thể là tính cách vũ trụ […] Bí Tích Thánh Thể  được cử hành trên bàn thờ của thế giới.”7  Như vậy Giêsu Thánh Thể đã chẳng muốn nói với chúng ta rằng phải yêu  như  Ngài đã yêu và làm cho lòng yêu thương ấy trên xuất hiện ở thế giới của chúng ta một cách cụ thể.

Điều khiến cho con người phải bối rối là tình yêu của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể có đặc điểm tự hủy, tự hạ: “Thiên Chúa đã nhập thể trong Đức Kitô, nhưng chúng ta, chúng ta vẫn còn cần phải học cho biết cách nhập thể chính mình vào trong thân xác chúng ta. Chúng ta phải hạ cánh xuống lại trên mặt đất này.”8  Một Thiên Chúa toàn năng và hay xót thương; một vị Thiên Chúa ở với chúng ta qua Đức Giêsu, Đấng khi thấy dân đau khổ đã động lòng thương, đã cảm thấy đau, đói và cùng cực… Chỉ khi Ngài nếm cảm những đau khổ thì những đau khổ ấy mới được đổi thay. Ngài đã đi đến chỗ mà đau khổ xuất hiện, đã cắm lều ở đó và không chịu quay lưng trước khi chính mình cảm thấy sự bần cùng, lo âu, cô độc, khắc khoải của con người.

Nét văn hóa hóa Thánh Thể đẩy chúng ta hướng tới Thiên Chúa bằng cách đi đến người thân cận. Muốn yêu mến Thiên Chúa, chúng ta phải yêu thương tha nhân lẫn bản thân chúng ta nữa. Tình yêu này rất mạo hiểm. Khi nhìn ngắm Đức Giêsu thương con người, chữa trị, và tha thứ cho họ thì nét văn hóa này thức tỉnh nơi chúng ta một lối sống đồng hình đồng dạng với Ngài: Chúng ta có yêu nhau với một tình yêu như Đức Kitô không? Chúng ta có lớn lên trong việc thông cảm, thương xót, khoan dung đối với những người mà chúng ta sống với không? Đây là yếu tố quyết định tình yêu Kitô giáo: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13, 34-35).

Khi gọi chúng ta là bạn hữu, khi nhận chúng ta là nghĩa tử, Đức Giêsu đã trao ban cho chúng ta tất cả: “Ngài phó thác thân thể của Ngài là Giáo Hội cho chúng ta. Ngài tín thác vào trí óc khờ dại của chúng ta, vào đôi tay yếu đuối của chúng ta sự thật của Ngài: mầu nhiệm của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, mầu nhiệm của Thiên Chúa.”9  Đó là một bảo chứng tình yêu. Đó là di sản của nền văn hóa Thánh Thể. Vì khi tác tạo chúng ta vào đời, Thiên Chúa đã cho chúng ta đi vào lịch sử, chính lịch sử tạo nên một bề dày truyền thống và chính truyền thống lưu giữ một nền văn hóa vừa rất cố cựu vừa rất tân kỳ của Bí Tích Thánh Thể. Vì thế mà chúng ta phải bắt chước Đức Kitô và phải làm cho người khác nhận ra Đức Kitô ở trong họ: “Anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, vì anh em là con cái được Ngài yêu thương, và hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy tế dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt.” (Ep 5, 1-2)

Chúng ta có cùng một di sản tinh thần là nền văn hóa Thánh Thể, chính nền văn hóa này làm nên sắc diện riêng của mỗi cá vị.

3. Để được hiện hữu như : “Tôi là …”

Khoa thần học nhân chủng học bám trụ vào nguyên tắc: “Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Thiên Chúa.” (St 1,26)  “Giống hình ảnh Thiên Chúa” là gì?  Chúng ta đang khám phá nơi mầu nhiệm Thánh Thể nét vị tha như một nền văn hóa thì trong phạm vi này, “giống hình ảnh Thiên Chúa” không chỉ là một hình thức hợp dạng văn hóa mà còn là “nhập thể” nền văn hóa thần linh ấy vào cuộc sống: “Tâm trí tôi phải nhập thể trong chính ngôi vị của tôi đúng như bản chất tôi đang là, trong cuộc sống mà Chúa đã chọn lựa tôi, trong thân xác này và trong máu huyết này.”10  Thực vậy khi rèn luyện con người có văn hóa là rèn luyện chính tâm thức của con người đó để làm cho nó có một “căn cước văn hóa”. Chúng ta đã hình thành căn cước này qua từng giai đoạn:

– Là người

Hoành Sơn khẳng định “Chỉ có con người mới có văn hóa, để rồi văn hóa sẽ tạo nên khuôn mặt “người” của nó: và đây là tính nhân văn của văn hóa.”11  Nếu từ nền văn hóa Thánh Thể, bài học vị tha có một giáo án cần thiết và hấp dẫn thì chính nền văn hóa ấy sinh ra cho thế giới những con người hữu dụng. Họ là hạt giống tốt cho đời. Bài học cơ bản vẫn luôn là phải trở thành chính mình, trở thành một con người có khát vọng và mơ ước và cố gắng với những khả năng thực của mình mà đạt đến những mục đích sống mà con người mong đợi. Mục đích đó thu gọn trong hai chữ : vị tha. Giai điệu vị tha trong nền văn hóa Thánh Thể luôn mang lại cho đời những âm hưởng tốt đẹp nhất, và những đóng góp đó luôn là khởi điểm, không bao giờ đáp ứng cho đủ, vì thế giới có một chiếc túi không đáy chứa những đau khổ vô biên của con người. Nhưng dù sao chúng ta cứ làm, cứ thực thi lòng nhân hậu như một sáng tạo luôn luôn mới mẻ, vì đã để lại những nét văn hóa đẹp nhất cho đời. Kinh nghiệm  cho thấy, để được trở nên người hơn thì phải biết sống yêu thương hơn, vì yêu thương là khát vọng của con người. Do đó, bài học dạy cho con người trở nên nhân hậu hơn bao giờ cũng là bài học quan trọng nhất. Nền văn hóa Thánh Thể đã đem lại cho con người những kỹ năng tinh thần để có thể vượt qua những rào cản trên đường đời với đôi mắt và trái tim rộng mở để thưởng thức những điều kỳ diệu mà cuộc sống ban tặng. Mỗi người phải nhận biết mình là ai và cần phải trở nên một người như thế nào. Giá trị của cuộc sống chúng ta đo được bằng cuộc sống mà chúng ta đã hy sinh cho người khác. Đó mới là niềm hạnh phúc thật. Đó là một lựa chọn. Nếu con người mà không sống tự do thì không phải là người, mà căn bản của tự do là biết lựa chọn. Nếu chúng ta không lựa chọn là chúng ta không sống tự do. Chúng ta đứng trước nguy cơ đánh mất chính mình.

– Là Kitô hữu

Phải thâm tín rằng Thiên Chúa yêu chúng ta một cách vô điều kiện như  “chúng ta LÀ” Chính Ngài đã dưỡng nuôi chúng ta bằng Mình Máu Chúa Giêsu trong tương quan chúng ta là con của Ngài. Nhờ Thánh Thể, chúng ta cảm nghiệm sâu xa Ngài đã yêu chúng ta vô điều kiện suốt cuộc đời chúng ta: “Thánh Thể là nguồn mạch và là đỉnh điểm của đời sống Kitô hữu.”12  Vì thế, tiêu chuẩn để nhận ra cuộc đời chúng ta thành công hay thất bại không phải hệ ở chỗ chúng ta hoàn thành được cái gì, xây dựng được cái gì mà ở chỗ trả lời cho lời mời gọi đơn giản của Chúa: sống vị tha.

Vả lại, cốt lõi của việc sống triệt để căn tính người Kitô hữu là trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa, lấy cách thức thực thi đức ái của Ngài làm của mình để lối sống của Ngài chỉ huy toàn bộ đời sống của chúng ta. Được mời gọi trở nên giống như Ngài vì chỉ có Ngài cho chúng ta hình ảnh xác thực về Thiên Chúa. Vậy hãy xây dựng cuộc sống chúng ta bằng sự tốt lành nhân hậu: “Hãy đứng vững: lưng thắt đai là chân lý, mình mặc áo giáp là sự công chính, chân đi giày là lòng hăng say loan báo Tin Mừng bình an; hãy luôn cầm khiên mộc là đức tin, nhờ đó anh em có thể dập tắt mọi tên lửa của ác thần. Sau cùng, hãy đội mũ chiến là ơn cứu độ và cầm gươm của Thần khí ban cho, tức là Lời Thiên Chúa.” (Ep 6, 14-17).

Nhờ Bí tích Thánh Thể, chúng ta có thể thâm tín rằng: chúng ta đang sống hạnh phúc giây phút hiện tại, vượt qua những vấp ngã của quá khứ  và mạnh dạn hướng tới một tương lai trong niềm tin yêu và phó thác. Thánh Phaolo đã viết cho các tín hữu Philipphê: “Quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước, tôi chạy thẳng tới đích, để chiếm được phần thưởng từ trời cao Thiên Chúa dành cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Kitô Giêsu.” (Pl 3, 13-14). Tóm lại, đức tin trang bị cho chúng ta một niềm xác tín để chúng ta dám lao mình vào tình yêu Thiên Chúa, là dám chấp nhận vũ trụ quan của Chúa Giêsu trong tiến trình trở thành một Kitô hữu chính danh: “…cho đến khi đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm óc viên maơn của Đức Kitô.” (Ep 4, 13)

– Là tu sĩ

Được gọi mời vào ơn thánh triệu, chúng ta có những khát vọng vô biên về lý tưởng đầu tiên, nơi mùa xuân ơn gọi của chúng ta được nở hoa, khi chúng ta gặp gỡ được Thiên Chúa, Đấng là tình yêu. Nhờ đó, chúng ta được lớn lên trong Ngài, và chính sự triển nở trong tình yêu, hình thành rõ nét ngày một hơn, căn tính đời tu của chúng ta: “Chúng ta phải học cho biết cách hội nhập những tình yêu này (như: Đức Giêsu yêu loài người, hoặc tình thương người nghèo…) trong căn tính đời tu của chúng ta.”13 Có thể cuộc sống của chúng ta có nhiều thách đố nhưng nếu gắn bó với Bí Tích Thánh Thể chúng ta không bị rơi vào cơn cám dỗ bỏ neo trong những vùng nước yên lặng của đời sống bình thường. Bí tích Thánh Thể dạy cho chúng ta biết chấp nhận đời sống của chúng ta. Chính trong việc đi tìm và chấp nhận cái ngã của mình mà chúng ta đã dám chết đi cho tha nhân, để bộ mặt cuộc sống của chúng ta là vì người khác, như  Đức Kitô đã thực hiện: “Người kiến tạo hòa bình là một Đức Kitô chịu khổ nạn khác.” 14

Sống trong ơn thánh triệu, chúng ta được mời gọi để nhìn thế giới này với cái nhìn lạc quan hơn, với một viễn tượng mới hơn trong dự phóng yêu thương của Thiên Chúa: “Ngài đã làm cho trái tim con thành mênh mông rộng lớn đến nỗi có chỗ cho mọi người trong tình bác ái yêu thương.” 15  Đây là một dự phóng cho vĩnh cửu: “Hiện tại là khoảnh khắc trong đó cái vĩnh cửu bắt đầu lên ngôi. Eckhart hỏi: “Ngày hôm nay, nó là cái gì vậy?”. Và ông trả lời: “Vĩnh cửu.”16 Để có thể hiến mình một cách sáng tạo, từ Thánh Thể chúng ta cảm nhận được rằng: khả năng con người không thể đạt được điều gì thiện hảo, phải nhờ tới quyền năng Thiên Chúa. Như kinh nghiệm cầu nguyện của Thánh Ambrosiô: “Nếu Chúa Kitô hôm nay là của bạn, Ngài Phục Sinh cho bạn mỗi ngày”17

Mặt khác, chúng ta là phần tử của Dòng thuyết giáo. Chúng ta có trách nhiệm đem Tin Mừng đến cho mọi người, để giúp họ khám phá ra hình ảnh của Đức Kitô nơi  hữu thể của họ và đem hình ảnh này đến chỗ viên maơn trong ho như  tinh thần của Thánh Tổ Phụ Đaminh: “Thiên Chúa của Thánh Đaminh là đấng Thiên Chúa đầy lòng thương xót[…] Làm sao chúng ta có thể làm cho lòng thương cảm của thánh Đaminh thành hiện thực cho thế giới này được?[…] Thương cảm là chiêm niệm của Đaminh. Thương cảm chiêm niệm là học để biết nhìn tha nhân một cách vô vị lợi.”18

***

“Mình Thầy hiến tế vì anh em
Máu Thầy đổ ra vì anh em”

Chỉ nhắm tới một mục đích thôi: “vì anh em” mà Bí Tích Thánh Thể đã khai mở một nền văn hóa chung cho mọi người. Nếu như mạng người là quý nhất, thì khi hiến mạng là hiến dâng điều không gì quý bằng. Đó là tình yêu thật, tình yêu biết hiến cái tôi của mình hướng về tha nhân chứ không hướng về mình. Bí Tích Thánh Thể đã nêu bật một thứ ngôn ngữ nghe chói tai đối với những ai chỉ sống trong ích kỷ. Họ không xây dựng được gì cả cho bản thân, cho gia đình, cho xã hội, cho quốc gia và cho thế giới. Nền văn hóa Thánh thể há không lóe lên nơi chúng ta lời cảnh báo: đã đến lúc thế giới cần đổi thay, nhưng điều cần phải đổi thay trước nhất là con người. Vì, nếu bao lâu tính ích kỷ còn thống trị nơi con người thì bấy lâu thế giới còn chậm tiến và tụt hậu. Thế giới đang xích lại gần nhau bằng những con đường tương quan khả thể. Mô hình một thế giới toàn cầu hóa hay nói khác đi ngôi làng toàn cầu đang được vần xoay, thu nhỏ và xích lại gần nhau dưới hình thức một mái ấm. Chúng ta có dám ước mơ cho mái ấm này được chuyển mình trên một linh đạo rõ rệt  dưới nền văn hóa Thánh Thể không? Chúng ta hãy thực sự dám mơ giấc mơ của mình, vì như thế  hầu chắc sẽ được thấy chân trời hy vọng. Bởi lẽ, vị tha là then chốt và là ngôn ngữ chung của mọi nền văn hóa.

Sr. Agnès Hoàng Thị Hòa

Comments are closed.