Thánh Đa Minh: Con người và sự nghiệp

0

200

Với châm ngôn của Tổng Hội Tam Hiệp XIV “CANH TÂN ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN THEO LINH ĐẠO ĐA MINH, ĐỂ LOAN BÁO TIN MỪNG”, thiết nghĩ đây là cơ hội để chúng ta trở về nguồn cội, trở về với ơn gọi Đa Minh, một ơn gọi hoàn toàn phục vụ Lời và sống cho Lời. Nói đến ơn gọi Đa Minh, điều hiển nhiên trước tiên là qui chiếu vào Đấng sáng lập, vào những ước mơ đầu tiên đã thúc đẩy cha thánh đến việc thành lập Dòng “Anh em giảng thuyết”. Chúng ta có thể tóm tắt cuộc đời cha thánh qua ba “say mê”, ba “say mê” này phù hợp với ba giai đoạn sống của cha thánh:

– Thời sinh viên tại Palencia với niềm say mê Lời Chúa
– Thời gian sống tại Osma với sự say mê ơn cứu rỗi các linh hồn
– Hành trình đến với nhân loại với sự say mê hoạt động tông đồ

1. Palencia, thời sinh viên: say mê lời Chúa

Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, cậu sinh viên Đa Minh đã được Lời Chúa cuốn hút, đã sớm nhận ra tầm quan trọng của Lời:

“Mặc dù Đa Minh rất thông thạo những khoa học phần đời, nhưng cậu không cảm thấy hứng thú gì, bởi vì cậu không tìm được sự khôn ngoan thông sáng của Thiên Chúa trong các khoa học đó, ít là cách trực tiếp. Các khoa học đó thường không nói đến danh thánh Chúa Giêsu. Vì vậy, để khỏi tốn phí sinh lực của tuổi thanh niên vào các khoa học đời, mà để thỏa mãn lòng khao khát khoa học cao siêu, Đa Minh vùi đầu tìm hiểu Thiên Chúa và Chúa Giêsu trong khoa thần học” Thierry dApollda, Vie de saint Dominique, (Cuộc đời thánh Đa Minh), ch I, n 17..

Chính vì thế, Đa Minh đã dành 4 năm để học hỏi Lời Chúa, theo lời kể của cha Giordanô, nhiều lúc Đa Minh thức trắng đêm để nghiền ngẫm lời hằng sống. Đa Minh không chỉ nghiên cứu để hiểu Lời Chúa bằng con đường tri thức, nhưng còn để sống Lời, hay nói cách khác Đa Minh muốn Lời Chúa là động lực duy nhất chi phối cuộc đời mình. Chính vì thế, trong nạn đói lớn xảy ra tại quê hương, Đa Minh đã bán đi những quyển sách chép tay bằng gia thuộc rất công phu, quý giá để có tiền giúp những người đang chết đói: “Làm sao tôi có thể yên tâm học hành trên đống da chết, trong khi bao nhiêu người đói lả quanh tôi” Marie-Humbert Vicaire, Saint Dominique, La Vie Apostolique, (Thánh Đa Minh, cuộc sống Tông đồ), Paris, Cerf, 1953, tr. 35.. Biến cố này được xem như “kinh nghiệm giác ngộ” đối với Đa Minh. Qua biến cố này, thánh nhân đã mở một “nhà hàng của con tim”, ngài nhắn nhủ với chúng ta rằng nếu Tin Mừng không đưa ra thực hành, thì nó chỉ là những dòng chữ chết. Tin Mừng không hội nhập trong cuộc sống, thì nó chỉ như bao cuốn sách khác. Cha thánh đã để lại cho Dòng một điểm căn bản đó là suy niệm, tìm hiểu và sống Lời.

Trong ơn gọi Đa Minh, Lời Chúa được đón nhận và cử hành trong đời sống cộng đoàn: “Nếu một tu viện không sẵn lòng tôn vinh Lời cách trọng thể hoặc loan báo Lời trong mọi hoàn cảnh thì tu viện đó đang suy thoái” Alain Quilici- Guy Bedouelle, Anh em giảng thuyết hay anh em Đa Minh, 2005, tr. 198.. Vậy tất cả các cộng đoàn trong Dòng Đa Minh phải có lòng khao khát sống và phục vụ Lời, đây là điều mà cha thánh đã sống và ước mong trong suốt cuộc đời.

Đối với thánh Đa Minh, loan báo Tin Mừng trước tiên không phải là một hoạt động, nhưng là một cách thức “hiện hữu trước Lời và cho Lời”. Vì thế, đời sống Đa Minh trước tiên là lắng nghe tiếng Chúa. Điều này dẫn chúng ta đến công thức của ngày tuyên khấn: “Tôi tuyên khấn và hứa vâng lời”. Vâng lời ở đây mang một ý nghĩa rộng, “vâng lời” theo tiếng La tinh “ob-audire”, có nghĩa là để lỗ tai dưới miệng của người nói. Vậy tôi khấn vâng lời, nghĩa là trước tiên tôi đoan hứa “tai tôi mở rộng dưới Lời Chúa, lắng nghe tiếng Chúa”, và thứ đến tôi lắng nghe tiếng Chúa qua các Bề trên và qua những người chị em. Sau khi đã lắng nghe tiếng Chúa, chúng ta đến với tha nhân để nói với họ về Thiên Chúa, về những gì đã chiêm niệm trong đời sống cầu nguyện, vì thế Dòng có châm ngôn: “Nói với Chúa và nói về Chúa”.

Nói đến sự say mê Lời Chúa, chúng ta cũng cần nói đến những phương pháp học hỏi Lời Chúa mà thánh Đa Minh đã đón nhận.

a. Đọc các chú giải của các giáo phụ

Đa Minh đã say mê với các sách chú giải của các Giáo phụ. Ngài hướng về vấn đề nan giải, đặt những câu hỏi khó và tìm câu trả lời chính xác, thỏa đáng. Chính vì cách học Lời Chúa này đã giúp cho Đa Minh trở thành nhà hùng biện. Điều này cho thấy việc học trong ơn gọi Đa Minh:

– Mục đích: lợi ích cho tha nhân.
– Phương pháp: trao đổi, đối thoại để cùng nhau tìm chân lý.
– Kết quả của cuộc đối thoại: biết người, biết mình, biện luận và đấu tranh cho sự thật của Tin Mừng.

b. Lectio Divina

Đọc lời Chúa, suy gẫm nhằm đạt đến sự khôn ngoan và đem ra thực hành chứ không đơn giản chỉ hiểu biết như một khoa học đời. Cách đọc Lời Chúa này được thực hiện trong các đan viện, nhằm đến ơn cứu độ. Cách đọc này gồm 4 bước: đọc, suy niệm, cầu nguyện và chiêm ngắm. Đây là cách đọc mà cha Thánh đã thực hiện trong suốt cuộc đời của mình. Cách đọc lời Chúa này đem lại cho chúng ta 4 kết quả sau: luyện trí nhớ, thực hành, kinh nghiệm sống và suối nguồn để rao giảng.

Đa Minh ghi nhớ lời Chúa bằng trí hiểu và bằng con tim. Điều này rất cần thiết cho nhà giảng thuyết. Lời Chúa được ghi bằng con tim và mang lại hoa trái trong cuộc sống. Chúng ta biết trong các đan viện, các tu sĩ đọc Kinh Thánh lớn tiếng để nghe những lời mình đọc và ghi nhớ trong lòng. Bởi vì Lời Chúa không chỉ nghe bằng lỗ tai mà còn nghe bằng con tim. Việc lắng nghe Lời Chúa bằng cách đọc lớn tiếng và ghi nhớ trong lòng giúp chúng ta luyện khả năng trí nhớ, trí hiểu và ước muốn. Tuy nhiên việc đọc Kinh Thánh của cha thánh không giống các đan sĩ, bởi vì việc đọc này mang chiều kích tông đồ, như thánh Phaolô đã nói:

“Và lời tôi nói, việc tôi rao giảng đã không cốt nơi lời lẽ có sức thuyết phục của khoa khôn ngoan, nhưng nơi việc chứng minh bằng vào Thần khí và quyền phép, ngõ hầu việc anh em tin không bằng vào sự khôn ngoan của người phàm, song bằng vào quyền phép của Thiên Chúa” (1Co 2, 4-5).

2. Osma, đời kinh sĩ: chuyên chăm cầu nguyện và say mê ơn cứu rỗi các linh hồn

Năm 1195, cha Đa Minh được thụ phong linh mục do Đức Giám mục Diego và được cử làm giáo sư Kinh Thánh tại đại học Palencia kiêm nhiệm chức linh hướng cho các sinh viên. Năm 1196, theo lời mời gọi của Đức Giám mục Diego, cha Đa Minh đã tự hiến mình hoàn toàn cho Thiên Chúa qua việc gia nhập vào kinh sĩ đoàn tại Nhà Thờ Chính Tòa thuộc Giáo phận Osma. Một cộng đoàn sống theo tu luật Thánh Augustinô, sống theo lý tưởng của cộng đoàn tiên khởi:

“Họ chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện…Các kẻ tin hết thảy đều coi mọi sự như của chung. Đất đai của cải thì họ bán đi mà phân phát cho mọi người, ai nay tùy theo nhu cầu của mình. Ngày ngày họ đồng tâm nhất trí chuyên cần lui tới Đền thờ, bẻ bánh ở nhà, cùng nhau chia sẻ của nuôi thân, lòng hân hoan, dạ đơn thành, trong lời ngợi khen Thiên Chúa, trong sự mến phục của toàn dân”. Cv 2, 42-47.

Tu luật thánh Augustinô tóm gọn trong thành ngữ: “có chung một con tim và một tâm hồn”. Vậy cộng đoàn được xây dựng trong cùng “một con tim và một tâm hồn”. Bước vào đời sống của kinh sĩ ở Osma, cha Đa Minh muốn sống như các Tông đồ, ngài chuyên chăm cầu nguyện và cầu nguyện thâu đêm. Ban ngày cha đến với tha nhân, ban đêm trò chuyện với Thiên Chúa. Cha đã xin điều gì trong lời cầu nguyện của mình? Xin Thiên Chúa một con tim biết yêu hết mọi người như Chúa Giêsu đã yêu. Cha thánh tự mở lòng cho Đấng cứu độ, bởi vì chính Ngài dạy cho biết yêu thương. Chính vì thế, thánh Đa Minh xin anh em để trong phòng ngủ của mình một ảnh Đức Kitô chịu đóng đinh. Khi chiêm ngắm Đức Kitô chịu đóng đinh, chúng ta học được sự quảng đại, lòng thương xót và sự tha thứ để rồi có lòng thương xót đối với anh chị em. Lời cầu xin liên lỉ của cha thánh đó là một lòng bác ái đích thật và hiệu quả để mang ơn cứu độ cho tất cả mọi người. Vì thế không có một giới hạn nào trong lời cầu nguyện của cha thánh :

“Cha thường xuyên có mặt ở nhà nguyện cả ban ngày lẫn đêm. Cha cầu nguyện không ngơi, và dành nhiều thời gian để chiêm niệm và hầu như không rời khỏi tu viện. Thiên Chúa đã ban cho cha một ơn đặc biệt đó là cầu nguyện cho tội nhân, người đau khổ và kẻ ưu phiền; cha mang nỗi đau của họ trong thâm sâu của lòng trắc ẩn và nỗi đau này được tỏ lộ qua dòng lệ, qua tình cảm mãnh liệt nung nấu con người cha” Libellus 12..

Trong suốt cuộc đời, cha thánh đã để lại những dấu ấn của một con người không ngừng cầu nguyện cho tha nhân. Là những người kế thừa di sản tinh than của cha, chúng ta đã sống tâm tình cầu nguyện như thế nào? Lời cầu nguyện của chúng ta có xuất phát từ nỗi khao khát Thiên Chúa và cầu mong ơn cứu độ cho tha nhân không?

3. Trên những nẻo đường sứ vụ: say mê loan báo Tin Mừng

Năm 1203, cha Đa Minh tháp tùng Đức Giám mục Diego sang Đan Mạch để lo việc hôn nhân cho hoàng tử Ferdinand. Khi đi ngang qua miền Nam nước Pháp, thánh Đa Minh nhận thấy phe lạc giáo Albigeois đang gây thiệt hại lớn cho Giáo hội. Đức Giám mục Diego và cha Đa Minh vào một quán trọ ở Toulouse, chủ quán là một người theo nhóm Cathares. Động lòng trắc ẩn, thánh Đa Minh đã sống suốt đêm để giải thích đạo lý chân chính cho người chủ quán. Sau đêm hôm đó, người chủ quán nhận ra những lầm lạc của mình nên dứt khoát trở về với chân lý Phúc Âm. Chính đêm hôm đó, thánh Đa Minh nhận ra một điều muốn cảm hóa được lạc giáo, cần phải có những người hiểu và sống Tin Mừng cách triệt để, sẵn sàng ra đi để đối thoại và đưa họ về với ánh sáng của Tin Mừng. Biến cố này đã ghi khắc trong tâm trí Đa Minh cũng như đối với từng thành viên trong Dòng ngày hôm nay. Truyền thống Đa minh giữ lại điều cốt yếu là gặp gỡ những người khác mình, không cùng ý nghĩ với mình, không cùng tư tưởng triết lý hay tôn giáo. Điều quan trọng là biết gặp gỡ và xây dựng tình bạn trong sự khác biệt để cùng nhau tìm và sống chân lý.

Năm 1206, thánh Đa Minh đã thành lập đan viện nữ đầu tiên tại Prouilhe, miền nam nước Pháp, để quy tụ các bà quý phái đã từ bỏ lạc giáo Albigence trở về và muốn cùng nhau sống thành cộng đoàn. Đó là nền móng đầu tiên của Dòng thuyết giáo, các nữ đan viện chuyên tâm cầu nguyện cho sự trở về của tội nhân và cho việc giảng thuyết của anh em. Sự việc này cho thấy điều quan trọng trước tiên không phải là giảng thuyết, nhưng là đời sống tâm giao với Chúa. Vì thế những hoa trái trong đời sống tông đồ không hệ tại ở sức lực cá nhân, nhưng là lời cầu nguyện của các chị nữ đan viện.

Năm 1215, cha Đa Minh quy tụ một số anh em tại Toulouse làm thành một cộng đoàn sống đời tu trì cầu nguyện, học hành với ước nguyện sau này sẽ thành lập một dòng tu chuyên lo việc giảng thuyết.

Ngày 22-12-1216, Đức Giáo hoàng Hô-nô-ri-ô III ban hai sắc lệnh công nhận Dòng như một Hội kinh sĩ triều. Ngày 21-01-1217, Đức Giáo Hoàng đã chấp thuận thành lập Dòng “Anh em giảng thuyết” “Ordo Praedicatorum”. Sứ mạng chính yếu của Dòng là cung cấp cho Giáo hội những nhà giảng thuyết được đào tạo cẩn thận để rao giảng Tin Mừng.

Năm 1217 thánh Đa Minh phân tán các anh em ở Toulouse, trong đó có 8 người pháp, 7 người Tây Ban Nha và 1 người Anh Cát Lợi, thành những nhóm nhỏ, quyết định này đã làm cho các anh em phải ngỡ ngàng:

“… Người quyết định phái họ đi khắp thế giới, dù rằng con số rất ít ỏi, và như thế từ nay họ sẽ không còn chung sống tại nơi đây nữa. Mọi người đều ngạc nhiên khi nghe loan báo một quyết định dứt khoát và nhanh chóng như thế. Tuy nhiên, do uy thế và đời sống thánh thiện của cha Đa Minh, mọi người dễ dàng đón nhận, tràn đầy hy vọng trước quyết định này” (Libellus, 47, Alain Quilici, 15 ngay voi thanh Da Minh, tr. 26)

Thánh Đa Minh qua đời ngày 06-08-1221 ở tuổi 51. Ngài để lại cho anh em hai sứ điệp: hãy bảo vệ đức trinh khiết để làm đẹp lòng Chúa và giữ uy tín trước mặt người đời; sứ điệp thứ hai là hãy yêu thương nhau, sống khiêm nhường, nhịn nhục và giữ lòng khó khăn. Thánh Đa Minh ao ước được mai táng dưới chân anh em. Ngày 24-05-1233, thi hài thánh Đa Minh được đưa về nhà thờ mới xây tại Bolonia. Ngày 11-07-1233 Đa Minh được phong thánh.

Qua khẩu hiệu “Contemplata aliis tradere” “Chiêm niệm và trao cho tha nhân điều mình chiêm niệm” chúng ta thấy rõ hai mối bận tâm của anh chị em Đa Minh là chiêm niệm và thông chuyển cho người khác những gì mình đã chiêm niệm. Làm thế nào để đời sống chúng ta thể hiện nổi bật hai khía cạnh này? Đối với thánh Đa Minh, bắt chước đời sống các tông đồ theo hai cách thức: nếp sống hiệp thông huynh đệ cộng đoàn và đời sống khó nghèo Tin Mừng như các tồng đồ đầu tiên. Do đó, hai đặc điểm này đã trở nên nét đặc sắc của đời tu Đa Minh.

Sự hiệp thông, đó là đời sống chung của tình hiệp thông huynh đệ cộng đoàn như các tông đồ đã sống ở Giêrusalem Cv 2 ; 4. Hiệp thông ở đây không chỉ là sống bên nhau nhưng là hợp nhất trong Chúa Kitô, một tình huynh đệ thiêng liêng đích thực, mà nơi đó, người ta không chỉ để chung tài sản vật chất, hay cho nhau những của cải đời này mà vì muốn đạt tới sự hữu hiệu của việc loan báo Tin Mừng. Nói cách khác, nếp sống hiệp thông huynh đệ đòi hỏi mỗi người chúng ta kiên trì chia sẻ tất cả những gì làm nên cuộc sống, từ của cải vật chất đến những đóng góp thiêng liêng.

Sống khó nghèo theo Tin Mừng, không những khó nghèo về vật chất nhưng quan trọng hơn cả là khó nghèo trong tinh thần. Đối với thánh Đa Minh, khó nghèo tự nó không phải là cùng đích, nhưng nó chỉ là phương tiện cho việc rao giảng Thiên Chúa cách hữu hiệu hơn. Thánh Đa Minh khám phá ra sự rao giảng lữ hành trong khó nghèo, sống nghèo một cách thực tế. Chính vì thế, khi phong thánh cho Đa Minh, Đức Giáo Hoàng Gregorio IX nói rằng: “Tôi đã biết một người thực hành trọn vẹn luật lệ của các Tông đồ”. Trong thế giới hôm nay, một thế giới tục hóa, một thế giới đề cao vật chất, chiếm hữu, thì lời khấn khó nghèo trở nên chứng nhân hữu hiệu nhất. Người tu sĩ Đa Minh sống khó nghèo để chiếm hữu một mình Thiên Chúa. Bên cạnh đó, khó nghèo để dám đặt trọn niềm tin tưởng phó thác trong tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Khó nghèo để dám dấn thân trong sứ vụ, dám đi đến biên cương trong tâm tình phó thác như Chúa Giêsu sai các tông đồ từng hai người một, không bao bị gậy gộc, tiền bạc X. Mt 10, 9-10..

Đời sống Đa Minh là đời sống tông đồ trong tổng thể của nó, thể hiện bằng đời sống cộng đoàn và đi đến những biên cương. Vậy mọi khía cạnh của đời sống Đa Minh đều mang tính cộng đoàn, từ việc phụng vụ đến việc ăn uống, từ quyết định của tu viện đến việc bầu cử, từ việc học hành cho đến sứ vụ. Vì thế, thật là một khổ chế, một sự nghèo hèn khi chấp nhận từ bỏ làm việc một mình và quan tâm đến sứ vụ của các anh chị em khác. Chính nguyên tắc này tạo nên một cộng đoàn hòa hợp, tất cả cùng cầu nguyện cho nhau. Ai cũng cố gắng thi hành công việc của mình trước mặt Chúa và tự hào về công việc của người khác. Chúng ta không ra đi với sứ vụ một cách lẻ loi, nhưng ra đi với cả cộng đoàn.

Thay lời kết

Chúng ta vừa điểm qua ba say mê, hay ba nét chính yếu trong đời sống cha Đa Minh. Chính những say mê này đã giúp cho thánh Đa Minh có những sáng kiến, những khám phá mới để lập nên Dòng “Anh em giảng thuyết”. Chúng ta sẽ lần lượt đi vào trong những loạt bài sau, đề cập đến những khám phá của thánh Đa Minh, những yếu tố nền tảng của ơn gọi Đa Minh. Tất cả những điều này sẽ góp phần làm nên linh đạo Đa Minh. Tất cả điều này chỉ có thể thực hiện được trong việc gắn bó với Lời. Sống Lời và phục vụ Lời là đoàn sủng của thánh Đa Minh. Chúng ta đã thừa hưởng di sản này như thế nào?

Sr. Anna Hoàng Thị Kim Oanh, OP

Comments are closed.