Sống trên Đât Tam Hiệp, Em có nhiều kỷ niệm

0

Nhân ngày kỷ niệm 67 năm thành lập Hội Dòng Đa Minh Tam Hiệp (30/04/1951-30/04/2018), BTT trích nguyên văn bài viết được tìm thấy trong nhật ký của Chị Maria Bùi Thị Huyền vừa được Chúa gọi về ngày 22/03/2018. Bài viết cung cấp một vài thông tin được hiểu như chứng nhân sống của Chị về “buổi bình minh” của lịch sử dòng. Bài được viết vào năm 2001, khi Hội Dòng Mừng Kim Khánh thành lập.

Nhưng ăn cơm mới phải nói chuyện cũ nó mới ra.

Năm 1954, em là đệ tử đầu tiên của dòng, lúc đó em 13-14 tuổi gì đó, vừa thi tiểu học xong, được lên Nam Định Trường St.Tôma của dòng để nghỉ, để học hè. Mới được hai tuần, hôm ấy sáng thức dậy, nhìn ra đường, thấy treo nhiều cờ đỏ sao vàng, giật mình, hỏi ra mới biết, đêm qua quân đội Việt nam rút, đất nước chia đôi ?

Thế là bé tìm cách bò về Bùi Chu xem sao, nhà dòng vắng teo, bé lại mon men xin giấy thông hành ra Hà Nội kiếm nhà dòng, gặp cha Bề Trên Phạm Năng Tĩnh, ngài đưa cho một xấp giấy thông hành, ngài bảo bé cầm về nhà dòng đưa cho các chị em đi, bé vừa thò xấp giấy ra nói được vài câu, thế là mẹ Na mắng cho một tua : “đuổi, từ nay cấm em không được về đây rủ người đi, nếu còn về đây, báo Việt Minh bắt…”

Bé sợ quá, ba chân bốn cẳng ra Hà Nội ngay, vừa đến nơi, nhà dòng lại chuyển ra Hải Phòng, bé tức tốc lên xe ra Hải Phòng. Thật, đúng là gái nhà quê lên tỉnh như ngố.

May gặp được thầy dòng Đồng Công, thầy hỏi:

– “em đi đâu mà ngơ ngác thế?”
Bé thưa: “Thưa thầy, con đi tìm nhà dòng Đa Minh, không biết ở đâu?”
Thầy lại hỏi : “Em là đệ tử Đa Minh à? Để thầy gọi xích lô đưa em đến phố Buôn Lan, em sẽ gặp nhà dòng”
– “vâng, con cám ơn thầy ”

Đến nơi, thấy nhà dòng, mừng quá, vừa mếu, vừa khóc, ai cũng túm vào hỏi thăm tíu tít.
Ở Hải Phòng được hai tuần, xuống tàu vào Nam, phải đi tàu há mồm. Họ chở xe nhà binh. Bé bị say sóng quá thể, suýt nữa bị người Mỹ vứt xác xuống biển. Tầu cập bến nhưng bé hãy còn say. Họ chở bé vào nhà thương Nam Việt. Tiền không có một đồng dính túi, may có bà hộ lý quét dọn, bà thấy bé không ăn gì, cứ khóc, bà hỏi bé:

– “ở đâu đến đây, không có người nhà sao? Nhà bé ở đâu? Bắc vô hả? ”
Bé gật đầu, thế là mỗi ngày bà cho bé một bát cơm. Có hai ông bà người Nam cứ xin bé về nuôi, nói là ba má rất giầu tiền của mà lại không có con cháu. Bé cứ lắc đầu.

Hôm sau gặp được người Bắc vào thăm người bệnh, bé hỏi thăm:
-“chị có biết nhà dòng Đa Minh ở Bắc vào đây ở đâu không ? Làm ơn chỉ dùm em ?”
Chị nói: “biết”

Thế là chị thuê xe cho về đến trường Tôn Thọ Tường. Bé gặp được nhà dòng mừng quá, Bé khóc.

Ở đây hai tuần, nhà dòng được chuyển về Mỹ Hảo. Ở Mỹ Hảo ba tháng lại chuyển về Châu Hiệp. Ở đây nước phèn, đục, chua mặn, chát, không ăn uống được. Phải đi hai cây số mới mua được nước ngọt. Ngày không có nước rửa mặt, sáng thức dậy, mỗi người được một ca rửa mặt, đánh răng, ăn thì rất kham khổ, nhưng vui. Đó cũng là ơn Chúa.

Ở đây được một thời gian, lại bồng bế nhau về Tam Hiệp.

Tam Hiệp là nơi định cư phút chót của dòng cho đến nay.

Đến Tam Hiệp cũng trăm ngàn gian truân, từ đường lộ vào, phải xe ủi mới có lối vào, vào hết trại Đa Minh là rừng tre, bụi trúc, tre, trúc tốt um tùm, ai cũng nhìn rừng tre, bụi trúc, rồi lại nhìn nhau, chán nản, buồn thiu…Nhiều đệ tử bỏ ơn gọi. Bé cứ thấy nay mất chị này mai rụng chị kia, cũng nản, nhưng nhìn gương các dì không quản ngại vất vả, khó nhọc sáng tối, lo tinh thần, vật chất, cho Hội dòng ; nhờ vậy mà các em biết hy sinh, chịu khó hơn. Nhờ ơn Chúa hướng dẫn đời tu vững vàng hơn.

Chả thế mà ngày hai bữa cơm cá khô, rau muống, chấm nước tương. Sau đó, với dao quắn ra rừng phá cây, đốn trúc tù sáng đến trưa, từ trưa đến tối…Bé tự hỏi mình: không biết phá cây cắt cỏ đền bao giờ?

Đến tháng 7 năm 1958 vào năm tập. Nhà dòng xây cái nhà dài, rất dài trước nhà hưu bằng gạch đất, ngày nào cũng vác gạch. Ngày nào cũng như ngày ấy, cứ mỗi viên gạch em lại cứ nghĩ là đang xây nhà Chúa, xây nhà thì phải vất vả, viết đến đây em nghỉ đến Đức cha Ngô Quang Kiệt nói: tôi về nhận chúc giáo phận Lạng Sơn, không ai đón, không người chỉ dẫn, chỉ có một cha già hơn chín mươi tuổi, một bà sơ trăm tuổi, tôi cứ thế hết mọi việc lớn nhỏ, trong ngoài, quần quật suốt ngày, như một người hộ lý đa năng, ở ngoài nhiều hơn trong nhà, nhờ đọc bài của Đức cha mà em biết hy sinh, chịu khó hơn.

Những năm tháng, ngày giờ em sống trong dòng trên đất Tam Hiệp từ 1954 đến nay, được mẹ Hội dòng chăm sóc mọi mặt, lớn khôn trong ơn thánh Chúa.

Em vô cùng tri ân hội dòng mãi mãi đời em và tất cả những ai đã nâng đỡ em đời hiến dâng cách này hay bằng cách khác.

Xin Chúa chúc lành và thưởng công bội hậu cho quý vị.

Nữ tu Maria Bùi Thị Huyền

Comments are closed.