Ở Lại Trong Chúa

0

  • Lời mở

Tại sao Đức Giê-su tha thiết mời gọi chúng ta “Hãy ở lại trong Người”?

 Khi ở với các môn đệ 3 năm ròng rã, Người đã thấy rõ thân phận quá mỏng manh của chúng ta do hệ quả của tội, Người muốn bảo toàn chúng ta. Ngược dòng lịch sử, Cựu Ước đã dẫn dắt chúng ta cảm sâu được tình thương ngọt ngào của Thiên Chúa Cha, Thánh vịnh 139 đã xác định: “Người bao bọc con cả sau lẫn trước, bàn tay Ngài, Ngài đặt lên con” (câu 5). Thiên Chúa đã gìn giữ và chăm sóc tất cả những gì Người đã sáng tạo một cách cụ thể và trực tiếp (x. GLHTCG 302, 303). Giáo lý Hội Thánh Công Giáo quả quyết bản chất “bụi tro” của con người: “Thụ tạo mà không có Đấng Tạo Hóa thì sẽ biến tan” (308). Bởi vậy, trong sự khôn ngoan và tốt lành của Thiên Chúa, sau khi sáng tạo, Chúa Cha đã không bỏ mặc chúng ta, Người luôn ở sát kề để gìn giữ và cho chúng ta khả năng hành động để đưa chúng ta đến cùng đích trọn hảo tối hậu mà Người đã định sẵn (x. GLHTCG 301), dẫu khi con người đã phản bội Ngài.

Chúa Giê-su đã tiếp nối kế hoạch yêu thương này của Cha, Ngài đã thể hiện tình yêu của Cha cách thâm sâu, mong mỏi nó nên nhu cầu đích thực của con người khi Ngài khẩn thiết: “Hãy ở lại trong Thầy”. Ở lại hay lưu lại nơi rất trân quý để lưu giữ, giữ mãi nét đẹp ta quý trọng; và lưu lại để chu toàn một trọng trách chưa hoàn trọn (x. Từ điển Lạc Việt 2020).

“Ở lại trong Chúa”, chính là lưu lại trong Người để nên Một với Người, để được thông hiệp với Người, để tham dự vào sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, đón nhận hạnh phúc vĩnh hằng mà Thiên Chúa đã dọn sẵn trong kế hoạch yêu thương khi tạo dựng chúng ta. Thiên Chúa mong muốn cho chúng ta được chia sẻ vinh quang, chia sẻ phẩm chất của Người như thuở tạo dựng ban đầu (x. GLHTCG 293). Nơi đâu có Thiên Chúa ngự trị thì nơi đó không có chỗ đứng cho tội lỗi.

Bởi vậy, “Ở lại trong Chúa” phải nên nhu cầu khẩn thiết cho người Ki-tô hữu; và là nhu cầu hàng đầu của người tu sĩ.

I. ĐỨC GIÊ-SU ĐÃ NÊU MẪU GƯƠNG SỐNG TRONG CHÚA CHA

1. Giá trị được “Ở sâu trong Cha”

Khi tông đồ Phi-lip-phê khao khát được thấy Chúa Cha: “Thưa Thầy, xin Thầy tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.” Đức Giê-su trả lời: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha?” Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình”.

Ở sâu trong tình Cha đến độ tất cả cuộc sống của Đức Ki-tô nên của lễ dâng hiến Cha trong việc thực thi chương trình cứu độ của Ngài. “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”. Một người con hiếu thảo là người con luôn vâng theo ý muốn của mẹ cha, anh trân trọng những ý kiến của cha anh trong nhiều phương diện, những gì không hợp với tầm nhìn của anh, anh thường xin trao đổi lại với cha và luôn đón nhận quyết định cuối cùng của cha. Bởi đó, người ta luôn nhìn thấy thấp thoáng hình ảnh của người cha trong phong cách của anh. Cha ông chúng ta thường xác định: “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”.

Với Đức Giê-su, Ý của Chúa Cha là nhu cầu sống của Người: “Của ăn của Thầy là làm theo ý Đấng đã sai Thầy”. Vâng, Đấng “từ trời xuống không phải để làm theo ý Người nhưng để làm theo ý Đấng đã sai Người” (Ga 6,38). “Khi vào trần gian, chính Người nói: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10,5). “Lương thực nuôi sống Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy và hoàn tất tốt đẹp công trình của Người” (Ga 4,34). Đức Giê-su khẳng định: “Thế gian phải biết rằng, vì yêu mến Cha tôi, nên tôi làm đúng như Cha tôi truyền cho tôi về sứ mạng cứu độ” (Ga 14,31). Nói tóm, ước muốn sống chết với ý định yêu thương cứu chuộc của Chúa Cha là động lực cho cả cuộc đời Đức Ki-tô (Lc 12,50; 22,15). Người đã kiên quyết khẳng định với những người Do Thái về sự liên kết thâm sâu khi Người thể hiện sứ mạng Cha trao: “Tôi và Cha Tôi là một” (Ga 10,30). Quả thế, toàn bộ cuộc đời Đức Ki-tô là mặc khải về Chúa Cha (GLHTCG 516).

2. Chúa Giê-su đã hoàn tất sứ mạng quá khó khăn

a. Những thực tại đau thương

Kịch bản mà Thiên Chúa Cha viết cho Chúa Giê-su (GLHTCG 599) quá nghiệt ngã, đầy khó khăn, xem như nghịch lý. Giáo lý  Hội Thánh Công Giáo đã khẳng định: “Toàn bộ cuộc đời Chúa Giê-su là mầu nhiệm Cứu Chuộc” (Ph I, Đ 2, Ch 2, T.3, I). Mầu nhiệm thì không thể hiểu được, chỉ có tình yêu mới định nghĩa được.

  • Qua mầu nhiệm Nhập Thể, chúng ta đã thấy một Đấng Tạo Hóa chấp nhận xuống thế nhập thể và làm con một người phụ nữ Do Thái, với dưỡng phụ nghèo nàn, sinh ra trong cảnh đời quá ư bần cùng, không cửa nhà, đến độ phải nhờ hang súc vật để ra đời. Những người bạn đầu đời của Người là các người chăn chiên vô gia cư; Nhưng thật kinh khủng! khi Người bị loài thụ tạo là bạo chúa Herode đuổi giết. Thánh Gioan đã than lên: “Ôi! Người đã đến, nhưng người nhà đã không đón nhận Người” (Ga 1,11). Toàn bộ cuộc đời Chúa Giê-su là mầu nhiệm Cứu Chuộc. Mà Ơn Cứu Chuộc đến với chúng ta trước hết là nhờ máu. Chính Người đổ máu ra trên Thánh Giá (x. Ep 1,7; Cl 1,13-14), hình ảnh của sự sát tế trong Cựu Ước được thực hiện cho Người để làm cho Người nên lễ vật hiến tế dâng lên Thiên Chúa Cha. Vâng, Mầu nhiệm này được mô tả trong toàn bộ cuộc đời Đức Ki-tô: việc Người Nhập Thể, Người đã trở nên nghèo để lấy cái nghèo của Người mà làm cho chúng ta nên giàu có; trong cuộc sống ẩn dật, Người vâng phục để sửa lại sự bất phục tùng của chúng ta; trong sứ vụ rao giảng, lời Người nói thanh tẩy những người nghe; và lúc chữa bệnh và trừ quỷ cho dân chúng, “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta, và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,17) (x. GLHTCG 517).
  • Trực diện với sứ mạng: Tiên tri Isaia, vị tiên tri có cuộc sống hết sức sâu sắc với Thiên Chúa, đã mặc khải cho chúng ta qua áng văn “tả chân” về sứ mạng “Người Tôi Trung” của Thiên Chúa là chính Đức Ki-tô, Đấng Cứu Độ.

  “Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị người đời khinh khi, không đếm xỉa tới. Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề. Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành. ĐỨC CHÚA đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta. Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng. Người đã bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu. Dòng dõi của người, ai nào nghĩ tới ? Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh, vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt. ĐỨC CHÚA đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội muôn dân (Is.53, 3-8.10).

Cận kề cuộc khổ nạn, Đức Giê-su càng thấy rõ viễn cảnh ấy, Người cho ta thấy hiện thực những gì Isaia đã mô tả, khi Người thốt lên trong nỗi đau cùng cực với các môn đệ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mc 14,34). “Người lâm cơn xao xuyến bồi hồi, nên càng khẩn thiết cầu xin. Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22,44). “Người sấp mặt xuống, cầu nguyện rằng: Cha ơi, nếu được, xin Cha cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39). Và thật thương đau, trước khi tắt thở, vào giờ thứ 9, Người kêu lớn tiếng: Êlôi, Êlôi, Lamaxabactani! Nghĩa là: Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Cha nỡ bỏ con” (Lc 15,34).            

b. Điều gì làm cho Đức Ki-tô toàn thắng

Cả cuộc đời của Đức Kitô là mộc Mạc khải về Chúa Cha: những lời Người nói, những việc Người làm, những lúc Người im lặng, những đau khổ Người chịu, cách thế Người sống và giảng dạy. Chúa Giêsu có thể nói: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga l4,9), và Chúa Cha nói: “Đây là Con Ta, Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người” (Lc 9,35). Vì Chúa chúng ta đã làm người để chu toàn thánh ý của Chúa Cha, nên ngay cả những điểm nhỏ nhặt nhất trong các mầu nhiệm của Người đều biểu lộ cho chúng ta thấy tình yêu của Người với Cha và tình yêu của Thiên Chúa Cha dành cho nhân loại (GLHTCG 516).

Sự hủy mình ra không đã khiến Người vâng phục Cha cách tuyệt đối, sống chìm sâu trong Cha; và Tình yêu thương nhân loại đến cùng, tất cả đã nên sức mạnh, đã là chìa khóa giúp Người hoàn thành sứ mạng Cha trao. Quả vậy, Người đã hoan hỉ thốt lên:  ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui. Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ. Có ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phù trợ tôi,  vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng (Is. 50, 5-7). Đấng tuyên bố rằng tôi công chính, Người ở kề bên. Ai tranh tụng với tôi? Cùng nhau ta hầu tòa. Ai muốn kiện cáo tôi ? Cứ thử đến đây coi Này, có ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phù trợ tôi, ai còn dám kết tội? Này, tất cả chúng sẽ mục đi như chiếc áo, và sẽ bị mối ăn (Is 53, 8-9).

II. CHÚNG TA PHẢI Ở LẠI TRONG CHÚA

Đức Giê-su đã yêu thương nhân loại bằng một tình yêu hiến mạng, Người yêu thương chúng ta đến cùng, nên Người luôn khao khát mãnh liệt, mong mỏi chúng ta liên kết với Người. Khi dậy về Dụ ngôn “Cây Nho Thật”, trái tim Người mở toang niềm khát mong: “Cha Thầy là người trồng nho. Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).

Sau lễ Ngũ Tuần, các tông đồ càng lúc càng trở nên mạnh mẽ. (Cv 5,41), càng lúc, càng gắn kết với Thầy cách thâm sâu, họ trở thành những cành nho sai trái, sách Công vụ Tông đồ xác định: “Thiên Chúa ban cho các ông dồi dào ân sủng” (Cv 5,33), làm cho vụ mùa bội thu, “Chúa cho cộng đoàn có thêm nhiều người được cứu độ (Cv 2,47). Thánh Phan-xi-cô de Sale viết: “Cành liên kết với thân và sinh trái không bởi tự chính nó nhưng là nhờ thây cây: hiện nay chúng ta được gắn kết trong tình mến với Đấng Cứu Độ như chi thể với đầu. Vì thế, những việc lành phúc đức hưởng nhờ từ Ngài đem lại cho chúng ta sự sống vĩnh cửu” (Trattato dell’amore di Dio, XI, 6, Roma 2011, 601).

Người còn khẩn thiết mời gọi chúng ta đi sâu hơn trong tình yêu kết hợp: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy. Và như tôi sống nhờ Cha tôi  thế nào, thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,56-57). “Vì ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời và tôi sẽ cho người ấy sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6, 54).

Đức tin là hành trình của người Ki-tô hữu. Đức tin đem đến cho chúng ta sự sống. Đức tin không có sức mạnh, nếu không dựa vào một “kinh nghiệm” với Thiên Chúa, sống thâm sâu trong Người và sống động với Người. Nếu không trải qua kinh nghiệm này, thì tất cả sẽ làm chúng ta luôn hoảng sợ mọi thứ nơi trần gian. Phần Dẫn Nhập sách I-sai-a đã cho chúng ta tấm gương tuyệt vời của nhà Tiên Tri I-sai-a, ông là người đã sống kinh nghiệm ấy và đã gặp Thiên Chúa Hằng Sống. Người thanh niên quý tộc này “đã thấy Đức Chúa” (Ch.6) và không ngừng lên tiếng nhân danh Thiên Chúa đang hiện diện nơi Is-ra-el, Đấng mà Israel không nhận biết. Nội dung sách cho thấy:

  • Những âm vang của một thời đầy lo sợ, nước Giuđa nhỏ bé bị kẹt giữa hai nước lớn là At-sua và Ai Cập. Và để chọn phương sách ít nguy hại nhất, các nhà chính trị tự hỏi, phải tìm đến nước nào trong hai nước ấy mà dựa dẫm. Ông I-sai-a trả lời: “Trước hết, anh em hãy tìm kiếm Vương Quốc Thiên Chúa và thiết lập sự công chính giữa anh em. Và Thiên Chúa sẽ làm cho anh em mạnh hơn các kẻ hùng mạnh”.
  • Ông I-sai-a lặp lại cho những người không sống thành tâm với Thiên Chúa: “Anh em hãy tin vào Người, Người đang ở giữa anh em; nếu anh em không muốn được hùng mạnh nhờ Người, Người sẽ nghiền nát anh em”.
  • Tổ Phụ Ab-ra-ham đã sống thân tình nghĩa thiết với Gia-vê Thiên Chúa cách tuyệt đối, nên ngay cả khi Đức Chúa đòi ông sát tế đứa con một mà chính Đức Chúa đã ban cho Ông lúc tuổi già, Ông bình tâm và lặng lẽ đem con đi giết để hiến tế cho Thiên Chúa. Vì Ông tin vào một Thiên Chúa quyền năng và không lừa dối Ông, nên điều Người muốn, Ông tuyệt đối vâng theo. Qua đó, Thiên Chúa ngỡ ngàng và thốt lên: “Ta là Đức Chúa, Ta lấy chính danh Ta mà thề: bởi vì ngươi đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển. Mọi dân nước trên mặt đất sẽ cầu chúc cho nhau được phúc như dòng dõi ngươi, bởi vì ngươi đã vâng lời Ta” (St 22, 1-18). Ông quá đẹp lòng Thiên Chúa.

Trong biến cố Truyền Tin, thiên sứ Gabriel chào kính Đức Trinh nữ Maria: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Bà” (Lc 1, 28). Quả thật, vì có Thiên Chúa ở với Mẹ nên Mẹ dư tràn ân sủng. Điều đó có nghĩa gì? Lời giải trình thật rõ ràng –  trong suốt hành trình cuộc đời, Mẹ đã hoàn thành sứ mạng là Mẹ Đấng Cứu Chuộc và được nên đồng công cứu chuộc với Con mình. Một cuộc lữ hành đức tin thật cam go – từ khi đón nhận vai trò làm Mẹ Đấng Messia – từ mầu nhiệm Giáng Sinh, đến cuộc đời ẩn dật của Con Thiên Chúa, cho đến cuộc đời công khai đầy đau thương và kết thúc chương trình cứu độ bằng cuộc khổ hình thập giá vô cùng thương đau. Mẹ đã chứng kiến và Mẹ đã kiên vững trong đức TIN, tin vững vàng vào chương trình yêu thương cứu chuộc nhân loại tự ngàn xưa của Thiên Chúa Cha. Giáo Hội đã phong tặng Mẹ, “Đấng vâng phục trong đức tin”.

Chính “Đức Giê-su ở cùng Mẹ” và “Mẹ ở sâu thẳm trong Người” mà Mẹ đã kiện toàn hành trình sứ mạng một cách tuyệt vời cùng với Con của Mẹ. 

Sau lễ Ngũ Tuần, các tông đồ đầy tràn Thánh Thần và chan chứa sức mạnh trong tình yêu Thầy mình, Đấng Phục Sinh, các ông đã trở nên mạnh mẽ, kiên cường, đầy khôn ngoan. Trước Thượng hội đồng, Ông Phê-rô rất khôn ngoan làm chứng về Đấng Cứu Độ. Ông lớn tiếng công bố: “Ngoài Đức Giê-su, không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12). Ông đã khiến Thượng hội đồng kinh ngạc: “Họ ngạc nhiên khi thấy ông và ông Gioan mạnh dạn, và biết rằng hai ông là những người không có chữ nghĩa, lại thuộc giới bình dân” (Cv 4,13). Các Ngài không còn sợ hãi trước gian nan thách đố, trái lại còn vui mừng khi được chịu như thế vì Đức Kitô: “Các Tông Đồ ra khỏi Thượng Hồi Đồng, lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giêsu” (Cv 4,41). Trong Thánh Thần, Thánh Phê-rô đã nâng đỡ và chữa lành người đau yếu, sửa dạy người sai đường lạc lối và củng cố cộng đoàn (Cv 5,1-11; 15-16).

Với thân phận bụi tro đầy yếu đuối của chúng ta, Chúa Giê-su, Đấng là nguồn tình yêu, Người biết quá rõ nên rất yêu thương chúng ta, Người đã tha thiết kêu mời chúng ta “Hãy đến và ở lại trong Người”, để được cứu độ. Người đã xóa bỏ khoảng cách giữa Người là Đấng Tạo Hóa và chúng ta là loài thụ tạo khi chia sẻ nghĩa tình: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu” (Ga 15,16) để kéo lôi chúng ta đến với Người. Chỉ trong Chúa Giê-su chúng ta mới thực sự được hạnh phúc toàn vẹn như Thánh Augustin đã thốt lên: “Lạy Chúa, lòng con chỉ no thỏa cho tới khi tâm hồn con được an nghỉ trong Chúa”.

  • Lời kết

Đức Giê-su đã yêu nhân loại đến tận cùng. Người yêu thương chúng ta bằng tình yêu vĩ đại, sẵn sàng hiến mạng để trao đổi lấy cuộc sống diệu kỳ mà chúng  ta đã bị mất vì nguyên tội; cuộc sống làm con cái Thiên Chúa, được hưởng hạnh phúc bất diệt cùng Thiên Chúa, được tham dự vào cuộc sống thánh thiện của Ba Ngôi Thiên Chúa. Người đích thực chấp nhận yêu chúng ta bằng một tình yêu đơn phương. Người kiên nhẫn mời gọi và đợi chờ. Trong yêu thương, Người đã giáo dục chúng ta cách tiệm tiến. Từng bước, Người thành tâm nói với chúng ta: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu” (Ga 15,16); và thật thân thương, Người mời gọi chúng ta: Hãy liên kết với Thầy như cành nho gắn liền vào thân nho để anh em sinh được nhiều hoa trái. Người khẳng định: vì không có Thầy anh em chẳng làm chi được (x. Ga 15,5); và đi tới đỉnh điểm của tình yêu, Người tha thiết: “Ai ăn thịt và uống máu Thầy thì ở trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, và người ấy sẽ có sự sống đời đời” (Ga 6, 56.58). Đức Giê-su chấp nhận đánh đổi tất cả để được chúng ta “sống trong Người”.

Mục tiêu, Đức Giê-su muốn in vào trái tim ta ba “Gia Bảo” trân quý đối với thân phận mỏng manh của phận người, để chúng ta bền vững trong tình yêu Người xây dựng, đó là:

  • Sự hủy mình ra không;
  • Kế đến, sự vâng phục ý Thiên Chúa Cha cách tuyệt đối;
  • Sau cùng là yêu thương anh em như Chúa yêu.

Tất cả để Thiên Chúa được tôn vinh.

Chính Đức Giê-su đã nên mẫu gương hủy mình ra không, khi tông đồ Phao-lô đã xây dựng hình ảnh vĩ đại của Thầy mình qua áng văn:“Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nhất thiết duy trì địa vị ngang hàng Thiên Chúa. Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, giống như người trần thế. Người đã hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên thập tự giá” (Pl 2, 1-6). Chính Người đã hủy mình ra không để vâng phục Thiên Chúa Cha cách tuyệt đối khi hoàn thành sứ mạng cứu độ Cha trao. Và cũng chính Người đã yêu thương nhân loại đến cùng qua cuộc khổ nạn thương đau, qua việc thiết lập bí tích Thánh Thể để còn hiến mình mãi, để ở lại và nuôi nhân loại không cùng. 

“Ở lại trong Chúa” thật sâu thẳm, sống động như Thầy Giê-su ở lại trong Cha đến độ nên Một với Cha khi Người khẳng định: “Ai thấy tôi là thấy Chúa Cha”, để chúng ta cũng bình tâm khẳng định về sự “Ở lại trong thẳm sâu với Thầy Giê-su”, rằng: “Ai thấy tôi là thấy Đức Giê-su”. Sự hoan lạc đích thực và bình an sâu thẳm trong Thánh Thần sẽ cho người môn đệ thủ đắc được ba gia bảo mà Thầy đã thủ đắc và muốn trao lại cho chúng ta. Đó là sự đáp trả tình yêu thâm sâu nhất chúng ta dâng lên Thiên Chúa Cha qua Thầy Chí Thánh Giê-su.

Nữ tu Theresa Nguyễn Thị Mừng,O.P.

Comments are closed.