Sống tình bạn với Chúa Giêsu

0

  • Lời ngỏ

Thiên Chúa nói với chúng ta qua Thánh Kinh bằng chính ngôn ngữ của chúng ta. Người hạ mình xuống tới thân phận hư vô của chúng ta là loài thụ tạo của Người để bày tỏ tiếng nói của trái tim Người. Thiên Chúa chỉ nói một “Lời” duy nhất, là chính Đức Giê-su. Qua Người, Thiên Chúa nói hết với chúng ta về chính mình. Qua cuộc nhập thể và Vượt qua của Đức Giê-su, Thiên Chúa đã bày tỏ sâu đậm ý định yêu thương của Người cho chúng ta một cách tiệm tiến, từ khởi nguyên cho đến khi chính Ngôi Lời, Đấng Emmanuel đến ngự giữa chúng ta, để chúng ta cảm nhận được tình yêu chân thật của Người như tình yêu của một người Cha (x. GLHTCG 101,102, 53) và gần gũi, thân tình hơn như một người bạn nghĩa thiết. Chính nơi đây, chúng ta nhận ra món quà vô giá của Người – đó là sự bình an từ một tình bạn chân thật.

Đức tin Công Giáo không thể nuôi dưỡng chỉ bằng việc chu toàn lề luật, nhưng chúng ta được mời gọi sống quảng đại, mô phỏng tình yêu của chính Thiên Chúa, của một tình bạn thẳm sâu, chân thành – có nghĩa, đáp trả tình yêu của Người bằng cách yêu mến và sống gắn bó với Người đến mức Người nên nhu cầu của cuộc sống chúng ta, và từ sự sống sung mãn tình yêu của Người, chúng ta được sống hạnh phúc tròn đầy và chia sẻ tình yêu phong phú ấy với anh chị em, chia sẻ một tình bằng hữu như Người từng khao khát.

1. Thiên Chúa đối với con người như bạn hữu

Nhờ mặc khải, “do tình yêu vô biên, Thiên Chúa vô hình ngỏ lời với con người như với bạn hữu. Người đối thoại với con người, để mời gọi cho họ hiệp thông với Người” (x. DV 2- Domain Validated 2). Khi xuyên suốt Kinh Thánh, trái tim hữu hạn của chúng ta chạm được tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Thật vô cùng cảm kích, vì chúng ta cảm nhận một cách cụ thể, sống động được tình bằng hữu thắm thiết của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Vâng, tình yêu khi phát triển đến mức hoàn hảo đều quy về tình bạn.

a. Qua Cựu Ước

Khi tạo dựng con người, một trong những ơn cao cả nhất, là con người không phải chỉ được sáng tạo tốt lành mà thôi, nhưng còn được đặt trong tình thân với Đấng Tạo Hoá. Hằng ngày, Thiên Chúa thường đến hàn huyên với con người – Sách Sáng Thế kể rằng: “Nghe thấy tiếng Đức Chúa là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, Đức Chúa là Thiên Chúa liền gọi con người và hỏi: “Ngươi đang ở đâu?” Con người liền thưa: “Con nghe thấy tiếng Đức Chúa trong vườn, con sợ hãi, vì đang ở trần truồng nên con lẩn trốn”. Đức Chúa là Thiên Chúa hỏi: “Ai đã nói cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không ? (St 3,8-12). Trước lỗi phạm to lớn này, con người đã nghe lời tên quỷ lừa đảo bất tuân lệnh Thiên Chúa – “ăn trái Chúa cấm” – nhưng cuối cùng, Thiên Chúa vẫn không bỏ mặc con người, Người đã ra án lệnh cho con rắn. Chính từ đó đã vang lên lời sấm: “Ta sẽ đặt mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy, dòng giống đó sẽ đánh vào đấu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó”. Thiên Chúa đã ban  “Lời Hứa cứu độ” cho con người (St 3,15).

Thế rồi con người lại tiếp tục sa đọa, lòng nó suốt ngày toan tính những chuyện gian ác xấu xa; đất đã ra hư hỏng và đầy bạo lực trước nhan Chúa. Thiên Chúa đã buồn rầu tâm sự với Nô-ê, một người công chính như với bạn hữu thân tình: “Ta sẽ xóa bỏ khỏi mặt đất con người mà Ta đã sáng tạo, từ con người cho đến gia súc, giống vật bò dưới đất và chim trời, vì Ta hối hận đã làm ra chúng”. “Ta đã quyết định giờ tận số của mọi xác phàm, vì tại chúng mà đất đầy bạo lực. Ta sắp tiêu diệt chúng cùng với đất” (x. St 6,5-8). Rồi Thiên Chúa chỉ vẽ tận tình cho Nô-e: “Ngươi hãy làm cho mình một cái tàu bằng gỗ bách. Ngươi hãy làm tàu có những ngăn và lấy nhựa đen mà trám cả trong lẫn ngoài. Ngươi sẽ làm tàu thế này: chiều dài một trăm năm mươi thước, chiều rộng hai mươi lăm thước, chiều cao mười lăm thước. Ngươi sẽ làm một cái mui che tàu, và đặt mui cách phía trên tàu nửa thước. Cửa tàu, ngươi sẽ đặt ở bên hông; ngươi sẽ làm tầng dưới, tầng giữa rồi tầng trên. Phần Ta, Ta sắp cho hồng thủy, nghĩa là nước lụt, xuống trên đất, để tiêu diệt mọi xác phàm có sinh khí dưới gầm trời; mọi loài trên mặt đất sẽ tắt thở. Nhưng Ta sẽ lập giao ước của Ta với ngươi; ngươi hãy vào tàu, ngươi cùng với các con trai ngươi, vợ ngươi và vợ của các con trai ngươi. Trong mọi sinh vật, mọi xác phàm, ngươi sẽ đưa vào tàu mỗi loại một đôi, để giữ cho chúng sống với ngươi; phải có một con đực và một con cái. Trong mỗi loại chim, mỗi loại gia súc, mỗi loại vật bò dưới đất, mỗi loại một đôi sẽ đến với ngươi, để ngươi giữ cho chúng sống. Phần ngươi, hãy lấy mọi thứ ăn được và tích trữ cho mình; đó sẽ là lương thực của ngươi và của chúng”. Ông Nô-ê đã làm như vậy; ông làm đúng như Thiên Chúa đã truyền cho ông (St 6).

Đọc cuộc đời của tổ phụ Abraham chúng ta thấy Thiên Chúa đã kêu gọi ông bỏ quê cha đất tổ, gia đình tại thành Ur, bên Iraq ngày nay. Trình thuật Kinh Thánh chỉ cho biết Thiên Chúa phán với ông và truyền cho ông làm điều này điều nọ. Và đây là một trong những nét đẹp nhất: Thiên Chúa liên lỉ nói chuyện với tổ phụ một cách rất thân tình, và hướng dẫn ông như một người bạn. Đức Chúa yêu mến Ông, Người đã chọn gọi và thân thương nói với ông: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 7, 1-3).

Lần khác, Chúa đã ban Lời hứa và giao ước với Ap-ram. Trong một thị kiến, Người thân tình nói với Ông: “Hỡi Áp-ram, đừng sợ, Ta là khiên che thuẫn đỡ cho ngươi; phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn” (St 15,1). Có lần, bằng một tình bạn nghĩa thiết, Đức Chúa tự hỏi về quyết định của Người: “Ta có nên giấu Áp-ra-ham điều Ta sắp làm chăng? Áp-ra-ham sẽ trở thành một dân tộc lớn mạnh và mọi dân tộc sẽ được chúc phúc nhờ nó. Thật vậy, Ta đã chọn nó, để nó truyền cho con cái nó và gia tộc nó sau này phải giữ đường lối của Đức Chúa mà thực hiện điều công minh chính trực”. Và Đức Chúa sẽ làm cho Áp-ra-ham điều Người đã phán với ông. Người nói tiếp: “Tiếng kêu trách Xơ-đôm và Gô-mô-ra thật quá lớn! Tội lỗi của chúng quá nặng nề! Ta phải xuống xem thật sự chúng có làm như tiếng kêu trách đã thấu đến Ta không. Có hay không, Ta sẽ biết” (St 18, 17-21).

Ông Áp-ra-ham đã dám can thiệp cho thành Xơ-đôm

Khi Đức Chúa báo: Người sẽ tiêu diệt hai thành Sodoma và Gomora tội lỗi, Ap-ra-ham xót xa lại gần nài nỉ Đức Chúa thật thân thương: “Chẳng lẽ Ngài tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao? Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao? Chẳng lẽ Ngài không dung thứ cho thành đó, vì năm mươi người lành trong đó sao? Ngài làm như vậy, chắc không được đâu! Giết chết người lành một trật với kẻ dữ, coi người lành cũng như kẻ dữ, chắc không được đâu! Đấng xét xử cả trần gian lại không xét xử công minh sao?” Đức Chúa đáp: “Nếu Ta tìm được trong thành Xơ-đôm năm mươi người lành, thì vì họ, Ta sẽ dung thứ cho tất cả thành đó.”

Ông Áp-ra-ham lại nói: “Mặc dầu con chỉ là thân tro bụi, con cũng xin mạn phép thưa với Chúa: Giả như trong số năm mươi người lành lại thiếu mất năm, vì năm người đó, Ngài sẽ phá hủy cả thành sao?” Chúa đáp: “Không! Ta sẽ không phá hủy, nếu Ta tìm được bốn mươi lăm người.” Ông lại thưa một lần nữa: “Giả như trong thành tìm được bốn mươi người thì sao?” Chúa đáp: “Vì bốn mươi người đó, Ta sẽ không làm.”

Ông nói: “Xin Chúa đừng giận, cho con nói tiếp: Giả như ở đó có ba mươi người thì sao?” Chúa đáp: “Nếu Ta tìm được ba mươi người, Ta sẽ không làm.” Ông nói: Con xin mạn phép thưa với Chúa: “Giả như tìm được hai mươi người thì sao?” Chúa đáp: “Vì hai mươi người đó, Ta sẽ không phá hủy.” Ông nói: “Xin Chúa đừng giận, cho con nói một lần này nữa thôi: Giả như tìm được mười người thì sao?” Chúa đáp: “Vì mười người đó, Ta sẽ không phá hủy Xơ-đôm.”

Sau khi phán với ông Áp-ra-ham, Đức Chúa đi, còn ông Áp-ra-ham thì trở về nhà (St 18, 22-33).

Nhân vật kế tiếp trong Thánh Kinh là ông Moyse (Moyse viết theo tiếng Latin) – ông được Thiên Chúa hiện ra và nói chuyện thân tình. Ông Moyse là con của một người thuộc dòng họ Lêvi. Hồi đó, Pharaô, vua Ai Cập ra lệnh giết hết các con trai của người Do thái, và chỉ để cho con gái sống sót. Ông được cứu sống nhờ sự thông minh của bà mẹ đã đưa con bỏ vào một cái thúng nơi công Chúa Pharaô thường ra tắm. Nghe tiếng trẻ khóc bà đã cho nữ tỳ vớt lên và biết là đứa trẻ con người Do Thái. Bà nhận làm con và Moyse được nuôi dưỡng trong triều đình. Khi lớn, ông đã thấy nỗi khổ cực của dân mình bị người Ai Cập hành hạ. Một hôm, do chứng kiến một người Ai Cập đánh đập một người Do Thái, ông đã giết tên Ai Cập. Sau tiếng đồn đến tai vua Pharaô, ông bị truy lùng nên trốn về miền Madian. Sau lập gia đình với con gái vị tư tế tại Madian.

Khi ông đi chăn chiên cho bố vợ, Chúa hiện ra với ông giữa bụi gai, Người nói với ông:  “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai-cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng. Ta xuống giải thoát chúng khỏi tay người Ai-cập, và đưa chúng từ đất ấy lên một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật, xứ sở của người Ca-na-an. Bây giờ, Ta sai ngươi đến với Pha-ra-ô để đưa dân Ta là con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập”. Moyse tỏ ra sợ hãi: “Con là ai mà dám đến với Pharaô và đưa con cái Ít-ra-en ra khỏi Ai-cập?”. Người phán: “Ta sẽ ở với ngươi. Và đây là dấu cho ngươi biết là Ta đã sai ngươi: khi ngươi đưa dân ra khỏi Ai-cập, các ngươi sẽ thờ phượng Thiên Chúa trên núi này”. Ông Moyse rụt rè thưa với Thiên Chúa: “Bây giờ, con đến gặp con cái Ít-ra-en và nói với họ: Thiên Chúa của cha ông anh em sai tôi đến với anh em. Vậy nếu họ hỏi con: Tên Đấng ấy là gì? Thì con sẽ nói với họ làm sao?” Thiên Chúa phán với ông Moyse: “Ta là Đấng Hiện Hữu.” Người phán: “Ngươi nói với con cái Ít-ra-en thế này: “Đấng Hiện Hữu sai tôi đến với anh em.”Thiên Chúa lại phán với ông Moyse: “Ngươi sẽ nói với con cái Ít-ra-en thế này: Giavê, Thiên Chúa của cha ông anh em, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp, sai tôi đến với anh em. Đó là danh Ta cho đến muôn thuở, đó là danh hiệu các ngươi sẽ dùng mà kêu cầu Ta từ đời nọ đến đời kia.” (Xh 3, 1-15). Xuất Hành chương 34 đã cho thấy bao nhiêu lần dân chống đối, bất tuân lệnh Chúa, Người đã quyết đánh phạt dân, nhưng Ông Moyse vội vàng phục xuống đất thờ lạy và thưa: “Lạy Chúa, nếu quả thật con được nghĩa với Chúa, thì xin Chúa cùng đi với chúng con. Dân này là một dân cứng đầu cứng cổ, nhưng xin Ngài tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi của chúng con, và nhận chúng con làm cơ nghiệp của Ngài.”

Thiên Chúa nhân hậu, từ bi. Người lắng nghe lời ông và luôn hàn huyên với ông trên núi để hướng dẫn ông từng bước cho đến khi ông đưa dân đến đất Hứa Canaan. Ông Moyse là người duy nhất đã được thưa chuyện mặt giáp mặt với Thiên Chúa (Xh 19).

b. Qua Tân Ước

Càng lúc Thiên Chúa càng gần gũi con người. Theo kế hoạch yêu thương, Thiên Chúa đã sai Con Một xuống cứu độ chúng ta. Tiên tri Isaia đã tiên trưng trong Cựu Ước: “Một trinh nữ sẽ thụ thai Và sinh hạ một con trai và người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, – nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (Is 7,14). Người đã nên người anh em giữa chúng ta. Thánh sử Gioan khẳng khái công bố: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1, 1 – 18).

Và thật thân thương, trong hình ảnh Cây nho thậtĐức Giê-su mời gọi các môn đệ hãy sống gắn bó mật thiết với Người như cành nho gắn liền vào thân nho để hình thành hoa trái từ Người. Với sự chăm sóc chu đáo của Chúa Cha, Người cắt những cành không sinh trái, Người tỉa những cành ít trái để nó sinh nhiều trái hơn. Và Người tha thiết: Các con hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong các con. Cũng như cành nho, không thể tự mình sinh trái nếu không gắn liền với cây nho, các con cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy. Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy anh em không làm chi được (x.Ga 15, 1-5). Người nói tiếp:“Ðây là lệnh truyền của Thầy: Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình. Các con là bạn hữu của Thầy, nếu các con thi hành những điều Thầy truyền. Thầy không còn gọi các con là tôi tớ, vì tôi tớ không biết việc chủ làm; Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết. Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con, và đã cắt đặt, để các con đi, và mang lại hoa trái, và để hoa trái các con tồn tại, để những gì các con xin nơi Chúa Cha nhân danh Thầy, Người sẽ ban cho các con. Thầy truyền cho các con điều này là: các con hãy yêu mến nhau”. (Ga 15,12-17).

Tình yêu gắn kết tới mức hoàn hảo, là nên một. Một hôm, trước đám đông, Chúa Giêsu đã thổ lộ nỗi niềm khao khát: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, người ấy ở lại trong tôi và tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6, 56). Trước khi đi vào cuộc Vượt Qua thương đau, Người đưa các môn đệ đến một thửa đất gọi là Ghếtsêmani. Người nói với các ông: “Anh em ngồi lại đây, trong khi Thầy đi cầu nguyện. Rồi Người đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan đi theo. Người bắt đầu cảm thấy hãi hùng xao xuyến. Người thổ lộ với các ông: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy”. Người đi xa hơn chút, sấp mình xuống đất mà cầu xin cho mình khỏi phải qua giờ ấy, nếu có thể được. Người nói: “Ápba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con. Nhưng đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn” (Mc 14,32-36)

Các sách Phúc Âm của Mátthêu, Máccô và Luca đều mô tả cơn hấp hối của Giêsu trong vườn Ghếtsêmani khiến Người “đổ những giọt mồ hôi máu” (Lc 22,44), trước sự chứng kiến của các môn đệ.

2. Con người Sống tình bạn với Chúa Giêsu

Trong kho tàng văn học Việt Nam, một trong những chuyện cảm động mà ai cũng biết, đó là chuyện tình bạn giữa Lưu Bình và Dương Lễ. Trong lịch sử Ít-ra-en thì có tình bạn giữa hai bạn trẻ Đa-vít và hoàng tử Gio-na-than. Tình bạn thật đáng quý và là một điều thật cần thiết cho cuộc sống, bởi vì con người chúng ta sinh ra không phải để sống một mình. Chúng ta sinh ra là để sống yêu thương : để yêu và được yêu. Yêu thương trong gia đình và yêu thương ngoài xã hội. Giáo lý Hội Thánh Công Giáo xác định: “Ơn gọi căn bản và bẩm sinh của con người là tình yêu” (số 1604). Chính trong bữa Tiệc ly, Chúa Giê-su đã để lại lệnh truyền cho các môn đệ:

“Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy” (Ga 15, 12. 14)

Đỉnh cao của tình yêu là nên một, nên qua Chúa Giêsu, Chúa Cha đã mặc khải trọn vẹn tình yêu của Ngài cho nhân loại, để qua người Con này Người sẻ chia một tình yêu trọn vẹn. Đức Giêsu đã đến ở giữa chúng ta, sống chết cho chương trình yêu thương của Cha để cứu độ chúng ta, Người đã mang trọn vẹn trái tim nhân loại để khỏa lấp ơn gọi bẩm sinh và căn bản của con người là tình yêu, vì nhân loại được tạo dựng từ Thiên Chúa là tình yêu (1Ga 4,16). Người vâng lời Cha, chấp nhận hạ xuống thật thấp để sống yêu thương nhân loại bằng tình bạn nghĩa thiết: “Thầy gọi chúng con là bạn hữu”, và “Thầy đã nói với chúng con hết những gì Thầy đã nghe biết từ Cha” (Ga 15,15). Một tình yêu đến cạn cùng: “Không có tình yêu nào lớn bằng tình yêu của người đã hiến thân vì bạn hữu”. Yêu đến độ hòa quyện nên một “Ai ăn thịt và uống máu Tôi thì ở lại trong Tôi và Tôi ở lại trong người ấy” (Lc 6,56); “Anh em hãy ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong anh em như cành nho gắn liền thân nho, anh em mới sinh nhiều hoa trái” (x. Ga 15,5).

Giữa Thiên Chúa và con người, khoảng cách vô tận đã được lấp đầy bằng tình yêu và tiến tới đỉnh cao là tình bạn. Đức Thánh Cha Phanxicô đã xác tín: Căn tính của chúng ta – tình bạn với Chúa Giêsu (Bài giảng trong Thánh lễ,Tại Santa Marta (Vatican Media) ngày 15/5/2018).

Đức Giáo Hoàng đã nói: chúng ta đã lãnh nhận quà tặng tình bạn này với Chúa là số phận của chúng ta, và ơn gọi của chúng ta là sống với Người như những người bạn. Ngài nói: “Tất cả mọi Kitô Hữu, đã lãnh nhận quà tặng tình bạn này, một quà tặng mà các tông đồ đã lãnh nhận đến một mức độ “mạnh”. Đó là một quà tặng mà Chúa luôn nuôi dưỡng, trung tín với quà tặng này.

Chúa Giê-su muốn chúng ta điều gì ?

Giáo lý Hội Thánh Công Giáo khẳng định một điều: Suốt cuộc đời Đức Giêsu đã nên mẫu mực cho chúng ta : là con người hoàn hảo. Chúng ta được kêu gọi nên một với Người, những gì Người đã sống trong thân xác Người, là vì chúng ta và nên mẫu mực cho chúng ta, thì Người cũng cho chúng ta được hiệp thông  như chi thể của Thân Mình Người (số 520,521). Vâng, Người mong muốn chúng ta:

  • Hãy sống gắn bó sâu sắc với Người, đó là: Hãy “ở lại trong Thầy” như “Thầy đã ở lại trong chúng con”.

Ở lại” ở đây, chính là sự thẩm thấu sâu sắc con người toàn diện của Đức Giêsu; một cuộc sống khao khát – mong Người hình thành trong chúng ta; một cuộc sống đã nên đồng hình đồng dạng với Người. Đó chính là căn tính của người tu sĩ.

Vâng, chúng ta phải “Ở lại” trong lối sống quảng đại, nhân ái, bao dung, đồng cảm sâu sắc của Người với mọi tầng lớp người quanh ta; “ở lại” trong sự tự hạ của Người khi chúng ta hết dạ noi theo (Ga 13,15) trước một xã hội tôn thờ “chủ nghĩa cá nhân”; “ở lại” trong đời sống cầu nguyện mà Người muốn lôi cuốn chúng ta sống với chiều kích tâm linh sâu thẳm giữa một xã hội ồn ào; “ở lại” trong đời sống nghèo đích thực của người môn đệ, khi kêu mời chúng ta tự do đón nhận thiếu thốn và bách hại (x. Mt 5, 11-12) giữa một xã hội đề cao vật chất.

  • Hãy “yêu tha nhân” như “Người đã yêu thương họ”.

Thật khó! Nhưng chính Đức Giêsu đã làm. Vâng, tình bạn của Chúa Giêsu dành cho nhân loại ngay khi chúng ta còn là tội nhân (Rm 5,8), ngay trước những lối hành xử phi nhân đạo với Người trong cuộc thương khó của Người: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”. Và đau đớn ngay cả với người môn đệ thân tín đã ngang nhiên phản bội Người. Đức Giáo Hoàng giải thích, nhiều lần, chúng ta không quá trung tín và tự tách mình ra khỏi Ngài “bằng các tội lỗi của chúng ta, bằng những đòn roi của chúng ta”, nhưng Chúa Giêsu vẫn “trung tín với tình bạn này”. Người vẫn bình tâm hỏi Giuda: “Anh lấy cái hôn phản bội để nộp Con Người sao?” Quả, Người yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân.

Chúa muốn chúng ta: “hãy yêu anh em như Chúa đã yêu thương họ” (Ga 15,12). Ngài mời gọi chúng ta phải yêu như Ngài đã yêu. “Nếu các con yêu mến những ai yêu mến các con, thì có đáng công trạng gì đâu… hãy hoàn thiện như Cha các con trên trời” (Mt 5,46-48). Muốn hoàn thiện như Cha trên trời thì “tất cả những gì các con muốn người ta làm cho các con, các con hãy làm cho người ta trước đi!” (Mt 7,13). Ðó là cách giải thích chính xác và đầy đủ nhất giới răn “yêu người như chính mình”.

  • Hãy dành cho Người chỗ nhất trong cuộc đời chúng ta 

Vâng, tình bạn chúng ta dành cho Chúa phải tuyệt đối. Trong cuộc sống hằng ngày, sẽ có nhiều cách khác nhau để tách biệt chúng ta ra khỏi Thiên Chúa. Dù không có chủ ý đặt Ngài sau những lựa chọn khác, nhưng có thể chúng ta dễ dàng bị lôi cuốn và gạt bỏ Ngài bởi những bận rộn hằng ngày trong mọi hoạt động trong ngày, những mục tiêu theo đuổi. Vâng, và thậm chí ngay cả mối bận tâm của ta dành cho sứ vụ, cho gia đình cũng là cản trở việc sống gắn kết với Người.

Đức Giê-su đã yêu chúng ta và Người cũng cho chúng ta tự do để đáp lại tình yêu của Người. Vâng, chính Người gieo vào lòng chúng ta khả năng yêu thương, nên sự đáp lại tình yêu của chúng ta dành cho Chúa dẫu có tuyệt đối nhưng cũng không thể tỉ lệ thuận với tình Chúa yêu ta.

Chúng ta chỉ biết dâng lời tạ ơn vì chúng ta được ơn sống tình bạn với Chúa Giê-su để được hưởng sự bình an bởi tình bạn của Người. Heidi Bratton phát biểu: Mến Chúa và yêu người là cánh cửa dẫn đến cuộc đời bình an.

  • Lời kết

Tình bằng hữu là một kinh nghiệm mang tính người nhất. Qua tình bạn nhân loại chúng ta được trở nên phong phú và làm cho đời sống người khác phong phú. Chúng ta hãy nhìn lại cuộc đời mình, đã có biết bao người đóng góp vào việc tăng trưởng và tồn tại của đời sống thiêng liêng cũng như vật chất của chúng ta. Đâu đâu con người cũng cần đến người khác, và cần được nâng đỡ bằng tình yêu thương của người khác.

Qua Kinh Thánh, chúng ta biết rõ, Thiên Chúa đã yêu chúng ta bằng một tình yêu bằng hữu không bờ bến. Qua nguyên tổ, qua các tổ phụ, tình yêu của Thiên Chúa thực sự là tình yêu nhân loại, rất nhân loại, gợi được xúc cảm, khiến con người rất gần gũi Thiên Chúa, Đấng quyền năng, Đấng tạo dựng nên ta nhưng Ngài đã cư xử với ta như bạn hữu nghĩa thiết.

Sống tình bạn với Đức Giêsu một cách đầy đủ, có nghĩa, khi chúng ta nên môn đệ đích thực của Người, chúng ta sẽ thấu hiểu được mầu nhiệm Nước Trời (Mt 13,11). Còn đối với người ngoài (Mc 4,11) thì mọi sự đều bí ẩn (Mt 13,10-15).

Lạy Chúa Giêsu, Ngài là nguồn bình an của con. Bắt đầu từ hôm nay, xin nhen nhóm và đổi mới những trải nghiệm của con trong tình thân hữu với Chúa để con có thể cảm nhận tình yêu thương và bình an của Ngài (Heidi Bratton).

Nt. Têrêsa Nguyễn Thị Mừng

Comments are closed.