
2 V 2,1.6-14; Mt 6,1-6.16-18
Lm. Gioan Pheny Ngân Giang, OP
Phụng vụ hôm nay đưa chúng ta từ một biến cố thật đặc biệt trong đời ngôn sứ Êlia và Êlisa đến những lời tâm huyết của Đức Giê-su về cầu nguyện, bố thí và ăn chay. Sự nối kết ở đây là gì ? Chính bản văn về Êlia đã âm thầm dời trọng tâm từ cái ngoạn mục sang cái kín ẩn, và đó là nhịp cầu dẫn chúng ta đi vào lời mặc khải của Đức Giêsu về Chúa Cha, “Đấng thấu suốt những gì kín đáo”.
Quả vậy, câu mở đầu của bài đọc 1 không nói Êlia chết, nhưng nói Đức Chúa “cất” ông lên (xc. 2 V 2,1). Động từ Hípri ở đây là lāqaḥ, “đem đi, đón lấy”, và nó trở đi trở lại như sợi chỉ đỏ suốt trình thuật (xc. 2 V 2,3.5.9.10)[1]. Đó cũng chính là động từ sách Sáng Thế dùng cho Khanốc: “Thiên Chúa đã đem ông đi” (St 5,24), và là từ mà Thánh vịnh dám thốt lên như niềm hy vọng của người công chính: “Chúa sẽ đón nhận con trong vinh quang” (xc. Tv 73,24). Như vậy, ngay trong chính tầng ngôn ngữ, cuộc ra đi của Êlia đã được đọc lại thành một cuộc được đón vào vinh quang (kāḇôḏ).
Thế nhưng vinh quang ấy không nảy sinh từ chỗ phô diễn. Cơn gió lốc (sĕʿārâ) đem Êlia đi vốn là phương thế Thiên Chúa từng dùng để tỏ mình cho ông Gióp “từ giữa cơn bão” (xc. G 38,1). Một chi tiết cần chúng ta để ý đó là năm mươi người trong nhóm ngôn sứ đứng “đằng xa” (xc. 2 V 2,7), và họ không thấy gì; sau đó còn phải đi tìm Êlia ba ngày mà không gặp (xc. 2 V 2,16-18). Cỗ xe lửa, ngựa lửa, cơn lốc, tất cả những cái ngoạn mục ấy tách hai thầy trò ra rồi tan biến. Có thể nói, vinh quang phô diễn chỉ lóe lên một khắc rồi tắt, y như thù lao đã được trả cho kẻ nào cốt làm để cho người ta thấy, như trong bài Tin mừng nói đến.
Cái còn lại không nằm nơi cảnh tượng. Khi Êlia được cất lên, cái rơi xuống đất chỉ là tấm áo choàng (ʾaddéreṯ), vốn từ đầu đã là dấu chỉ của ơn kêu gọi và của sự kế vị (xc. 1 V 19,19). Nhưng tấm áo chỉ là dấu chỉ; điều thực sự được trao ban thì vô hình, là “thần khí” (rûaḥ) của Êlia. Trình thuật chơi chữ cách tinh tế ở đây, nghĩa là cùng một chữ rûaḥ vừa là cơn gió đem Êlia đi, vừa là thần khí Êlisa cầu xin, vừa là điều nhóm ngôn sứ nhận ra sau cùng, “Thần khí của Êlia đã ngự xuống trên Êlisa” (xc. 2 V 2,9.15). Cái hữu hình thì rơi xuống và được cầm lên; cái thật thì lặng lẽ ngự xuống.
Lời Êlisa cầu xin cũng thường bị hiểu lầm. Nguyên ngữ pî šĕnayim, “hai phần”, không phải là xin gấp đôi quyền năng, nhưng là một thuật ngữ luật pháp chỉ phần gia nghiệp của người con trưởng (xc. Đnl 21,17)[2]. Nói khác đi, Êlisa không xin nhiều quyền phép hơn thầy; ông xin được kế thừa chức vụ như người con trưởng kế nghiệp cha, xin được nhận làm con. Vì thế ngay sau đó ông bật lên tiếng kêu “Cha ơi, Cha ơi” (ʾāḇî, 2 V 2,12). Tương quan ở đây là con với Cha, không phải thầy trò, không phải đo lường công trạng.
Và toàn bộ gia nghiệp ấy được đặt điều kiện trên một động từ duy nhất: “nếu con thấy thầy được đem đi, con sẽ được như vậy” (2 V 2,10). Chữ ấy là rāʾâ, “nhìn thấy”. Chỉ Êlisa, kẻ nhất định không rời thầy (xc. 2 V 2,2.4.6), kẻ dán mắt vào người mình thương cho đến cùng, mới thấy và mới được tiếp nối. Rồi bản văn kể tiếp, ông đập áo xuống nước sông Giođan, nước rẽ ra, lặp lại cử chỉ Môsê và Giôsuê thuở trước (xc. Xh 14,21-22; Gs 3,14-17). Như thế, ơn kế vị là có thật, nhưng ơn ấy chỉ đến sau cái nhìn thầm lặng mà chăm chú.
Đến đây, nhịp cầu sang Tin Mừng đã mở sẵn. Trong 2 V 2, người môn đệ phải thấy (rāʾâ) thì mới được gia nghiệp; trong Mt 6, chính Chúa Cha là Đấng thấy, “Đấng thấu suốt những gì kín đáo (ho blepōn en tō kryptō) sẽ trả lại cho con” (Mt 6,4.6.18)[3]. Một bên là cái nhìn của con cắm vào thầy, một bên là cái nhìn của Cha cúi xuống con; cả hai đều diễn ra xa đám đông, trong khoảng lặng chỉ hai người biết.
Tựu chung lại, vinh quang thật, của Êlia mà Êlisa đã nhìn thấy cũng như vinh quang của người biết bố thí, biết cầu nguyện và biết ăn chay với cửa phòng đóng kín, không phát xuất từ chỗ được người ta thấy, nhưng từ chốn kín ẩn nơi một mình Thiên Chúa thấy. Vậy chúng ta hãy tự hỏi nếu mai này tấm áo choàng hữu hình (= thứ vinh quang phô diễn) chẳng còn ai trầm trồ, chúng ta có còn dám nhìn Đấng đang lặng lẽ nhìn mình, có còn muốn xin thần khí và muốn làm con, hay chỉ mải chạy theo cỗ xe lửa ?
________________
[1] lāqaḥ (“đem đi, đón lấy”) là cùng động từ dùng cho Khanốc trong St 5,24; chỉ hai nhân vật Cựu Ước được Thiên Chúa “đem đi” mà không qua cái chết.
[2] Đnl 21,17: pî šĕnayim (“phần gấp đôi”) là quyền thừa kế của con trưởng. X. August H. Konkel, 1 & 2 Kings, NIV Application Commentary (Grand Rapids: Zondervan, 2006), chú giải 2 V 2,9.
[3] Mt 6,4.6.18 lặp ba lần công thức ho patēr sou ho blepōn en tō kryptō: động từ blepō (“thấy”) đặt nơi Chúa Cha, đối xứng với rāʾâ (“thấy”) đặt nơi người môn đệ Êlisa (2 V 2,10).