“Chính Tôi đây”

0

“Chính Tôi đây”

Câu trả lời của Chúa Giêsu với các Thượng tế và Thượng hội đồng xác định Người đích thực là Thiên Chúa.

Bởi: JEANNE KUN

Bấy giờ các thượng tế và toàn thể Thượng hội đồng tìm lời chứng buộc tội Đức Giêsu để lên án tử hình; nhưng họ không tìm ra. Vì tuy có nhiều kẻ đưa chứng gian tố cáo Người, nhưng các chứng ấy lại không ăn khớp vào nhau. Có vài kẻ đứng lên cáo gian về Người rằng: Chúng tôi có nghe ông ấy nói: Tôi sẽ phá Ðền Thờ này do tay người phàm xây dựng và nội trong ba ngày, tôi sẽ xây một Đền Thờ khác, không phải do tay người phàm”.  Nhưng ngay về điểm này, chứng của họ cũng không ăn khớp với nhau. Bấy giờ, vị thượng tế đứng lên giữa hội đồng hỏi Ðức Giêsu: “Ông không nói lại được một lời sao? Mấy người này tố cáo ông gì đó?” Nhưng Ðức Giêsu vẫn làm thinh, không đáp một tiếng. Vị thượng tế lại hỏi Người: “Ông có phải là Ðấng Kitô, Con của Ðấng Đáng Chúc Tụng không?” Ðức Giêsu trả lời: “Phải, chính thế! Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến!”

Vị thượng tế liền xé áo mình ra và nói: “Chúng ta cần gì nhân chứng nữa! Quý vị vừa nghe hắn nói phạm đến Thiên Chúa, quý vị nghĩ sao?” Tất cả đều kết án Người đáng chết… (Mc 14,55-64).

Vừa tảng sáng, các thượng tế đã họp bàn với các kỳ mục và kinh sư, tức là toàn thể thượng hội đồng. Sau đó, họ trói Ðức Giêsu lại và giải đi nộp cho ông Philatô. (Mc 15,1).

Không giống như các tác giả phúc âm khác, Gioan không mô tả lời cầu nguyện đau khổ của Chúa Giêsu trong vườn Ghếtsêmanê. Tuy nhiên, trước đó trong phúc âm này, việc Chúa Giêsu đã chiến đấu với cái chết sắp xảy ra của mình và sự đồng ý với kế hoạch cứu rỗi của Chúa Cha, được tác giả Phúc Âm kể lại: “Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến. Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha” (Ga 12,27-28; x. Ga 10,18). Bây giờ, chúng ta bắt gặp Chúa Giêsu trong vườn, sẵn sàng tiến lên với quyết tâm và sức mạnh tinh thần và đạo đức để gặp Giuđa và những kẻ bắt Người. Như thể để nhấn mạnh sự phản bội không thể tin được của tình bạn này, Gioan lưu ý rằng Giuđa biết nơi để tìm Chúa Giêsu – vì là một trong các tông đồ, kẻ phản bội thường ở trong vườn Giếtsêmani với Chúa Giêsu (x. Ga 18,2).

Những người lính đến bắt Đức Giêsu đã được trang bị vũ khí, nhưng Đức Giêsu là người làm chủ hiện trường. Với thẩm quyền nhưng điềm tĩnh – ngay cả sự uy quyền – Đức Giêsu đã phải đối mặt với những tên lính, Người hỏi: “Các anh tìm ai?” Để trả lời cho câu hỏi của họ, “Giêsu Nadarét”, Đức Giêsu đã đáp lại với một sự thật sâu sắc hơn “chính tôi đây” (Ga 18, 3-5, theo Cuốn Kinh Thánh của Mỹ mới).

Khi Thiên Chúa nói với Môsê về Danh (Tên) “cá nhân (ngôi vị)” của Người “Ta là Đấng Hiện Hữu”, trong cuộc gặp gỡ ở bụi cây đang cháy (x. Xh 3,13-14), Đức Giêsu đã mạc khải Nhân vị Thiên Chúa, bản chất và tính cách của Người. Cụm từ tiếng Do Thái ’ehyeh ’asher ’ehyeh  thường được dịch là “Ta là Đấng ta là”, diễn tả sự hiện hữu tuyệt đối, hoặc như là “Ta muốn sao sẽ nên vậy”, nó bao hàm một ý nghĩa của quan hệ nhân quả, đó là nguyên tắc nhân quả. Tuy nhiên, không có bản dịch nào là hoàn toàn thỏa đáng: “(Tên) Danh thánh này có tính chất huyền nhiệm cũng như Thiên Chúa là mầu nhiệm. Đó vừa là Danh được mạc khải, vừa như từ chối một Danh xưng, và vì vậy, Danh này diễn tả Thiên Chúa một cách tốt nhất, vì Ngài là Đấng vô cùng vượt quá tất cả những gì chúng ta có thể hiểu biết” (Giáo lý Giáo hội Công giáo, 206). Bằng cách tuyên bố Danh (tên) này là tên của mình, Chúa Giêsu đã tự nhận mình là Thiên Chúa.

Ngay cả khi Chúa Giêsu đã tự nguyện với cuộc khổ nạn của mình, Người đã chăm sóc các môn đệ của mình. Trước đó, Chúa Giêsu đã tuyên bố rằng không ai trong số những người đã được trao cho Người sẽ bị mất ngoại trừ Giuđa (x. Ga 6,39; 17,12). Mặc dù điều này chủ yếu là một sự đảm bảo rằng những người theo Chúa sẽ được bảo vệ khỏi hình phạt đời đời, Chúa Giêsu cũng lo lắng cho họ về sự an toàn trước mắt. Giống như một người chăn chiên bảo vệ đàn chiên của mình khỏi bầy sói và những tên cướp (x. 10,7-13), Chúa Giêsu đã thương lượng về việc để cho các môn đệ của Người được tự do: “Vậy nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi” (Ga 18,8). Mátthêu (26,56) và Máccô (14,50) lưu ý rằng các môn đệ đã chạy trốn khi Chúa Giêsu bị bắt giữ – rất có thể đây là sau khi Chúa Giêsu đã chắc chắn rằng họ sẽ không bị lính bắt giữ.

Chính quyền Do Thái từ lâu đã tìm cách loại trừ Chúa Giêsu (x. Mt 26,3-5; Mc 14,1-2; Lc 22,1-2; Ga 7,1.30.32; 11,57). Bây giờ Chúa Giêsu đã bị bắt giữ trước các vị thượng tế và hội đồng Do Thái được gọi là Sanhedrin – Thượng Hội đồng Do Thái trong một cuộc họp bất thường ban đêm, có lẽ để tránh sự phản đối của những người ủng hộ giáo sĩ Do Thái được dân chúng quý mến. Phiên tòa đầu  tiên tập trung vào các cáo buộc liên quan đến những gì Chúa Giêsu đã nói về Đền thờ. Sự phá vỡ về thương mại của Chúa Giêsu trong các khu vực Đền thờ (x. Ga 2,15-18) và sự ám chỉ của Chúa đối với sự phá hủy của Đền thờ (x. Ga 2,19-21) là một mối đe dọa đối với chính quyền kiểm soát và trục lợi từ việc kinh doanh tại Đền thờ. Chúa Giêsu đã không trả lời các nhân chứng mâu thuẫn và sự giải thích sai những lời nói của Người; sự im lặng của Chúa Giêsu nhắc lại lời tiên tri của Isaia: “Như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, Người chẳng hề mở miệng” (Is 53,7).

Khi không có được lời chứng đồng tình chống lại Giêsu, Caipha đã cố gắng đẩy Chúa Giêsu vào một góc nơi ông sẽ kết án chính Người bằng lời nói của Người. Nhấn vào điểm then chốt của vấn đề, vị thượng tế đã trực tiếp hỏi Chúa Giêsu: “Ông có phải là Đấng Kitô, Con của Đấng Đáng Chúc Tụng không?” (Mc 14,61). Từ chối là Đấng Kitô sẽ mâu thuẫn với tất cả những gì Chúa Giêsu đã nói và làm, nhưng nếu Chúa Giêsu nói có, câu trả lời của Người sẽ được hiểu là phạm thượng, một sự xúc phạm đến Danh Thiên Chúa và là một tội đầu mối, sẽ bị trừng phạt bằng cái chết (x. Lv 24,16) .

Câu trả lời của Chúa Giêsu không hề nao núng và không mơ hồ: “Phải, chính thế (phải, chính tôi đây)” (Mc14,62). Trớ trêu thay, chính tại thời điểm này, khi Chúa Giêsu dường như bất lực nhất, danh tính thực sự của Người đã trở nên rõ ràng: Chúa Giêsu không phải là một vị vua Thiên Sai chính trị, người đến để lật đổ những kẻ áp bức dân Ítraen mà là “Người Tôi Tớ Đau Khổ” của Giavê (x. Is 52,13-53,12). Và chính Đấng Cứu Thế đau khổ này – “Con Người” và là Đấng cứu chuộc của chúng ta – Đấng hiện đang ngự bên hữu Thiên Chúa và vương quốc của Người sẽ tồn tại mãi mãi (x. Mc 14,62; Đn 7,13-14).

Tên của Chúa “I am (chính Ta đây)” có ý nghĩa gì đối với cá nhân bạn? Làm thế nào chúng ta có thể có một mối tương quan cá vị với Thiên Chúa khi Người vẫn còn là một mầu nhiệm đối với chúng ta?

Đây là một tuyển lựa từ Hành trình đến thập giá của Chúa Giêsu, của Jeanne Kun (The Word Among Us Press, 2009). Có sẵn tại wau.org/books

Theo The Word Among Us
Saints & Heroes Resources
Chuyển ngữ:  Sr. Maria Trần Thị Ngọc Hương

Comments are closed.