Thơ: 70 năm – Nhớ về Hội Dòng Đa Minh Tam Hiệp

0

Đọc tập hai (2) giai đoạn của lịch sử,
Con, hậu sinh xin ngỏ một ít điều,
Được kể lại, như đền đáp tình yêu,
Thiên Chúa ban qua các Mẹ, các Chị.

Một chín năm năm (1955) bước ngoặt truyền ký,
Hội dòng chấp nhận hoàn cảnh chia tay,
Một số chị em từ Bắc vào đây,
Để giữ “giống”cho Hội Dòng tồn tại.

Rồi Nam tiến từ bờ sông Bến Hải,
Nơi chị em chưa biết đến bao giờ,
Bước chân đi như thể một giấc mơ,
Một hành trình ban đầu thật vất vả.

Rồi hồng ân Chúa luôn luôn nhiệm lạ,
Đất Tam Hiệp chị em đã cắm lều,
Để hôm nay trên mảnh đất thân yêu,
Hội dòng mừng bảy mươi (70) năm hiện diện.

Ghi ơn trước hết, các Mẹ kính mến.
Mẹ Êmilia sống mãi giữa chúng ta,
Mẹ Antônia, Mẹ Agnès, Mẹ Anna,
Các Mẹ sống hiền từ và thánh đức.

Chị Toản, Chị Cậy, Chị Nhẫn rất mực,
Quá hi sinh…thêm Chị Nhiệm. Chị Khen,
Chị Hường, Chị Vâng chịu khó, dịu hiền,
Chị Phương, Chị Lân, Chị Hoa, Chị Hướng.

Trong Ban Tổng mà như không bận vướng,
Chị Công thêm viết nhật ký từng ngày,
Để Hội dòng với trang sử hôm nay,
Thương nhớ lắm công lao Mẹ và Chị.

Phát cây, san đất không hề nản chí,
Không quản gì khi gặp phải nắng mưa,
Ăn không no, ngủ đất rộng người thưa,
Chưa ổn định nhờ Tân Mai tạm trú.

Hôm sau tiếp tục san đất chuyên chủ,
Đa Minh Tam Hiệp diện tích ngày nay,
Bảy mươi (70) năm ơn Chúa đếm từng ngày,
Những thăng trầm Hội Dòng luôn chuyển biến.

Ngày hôm nay ngoảnh nhìn từng bước tiến,
Với những tiện nghi đầy đủ, khang trang,
Cuộc sống theo Chúa ổn định vững vàng,
Càng tân tiến càng không quên cảnh cũ.

Những dãy nhà tranh, tôn, gỗ, Nhà Mụ…
Đến cảnh Tu Viện, Nhà Mẹ dễ thương,
Nhà Khấn, nhà Cơm, Tập Viện, Nguyện đường,
Khu rộng lớn dành cho Đệ Tử Viện.

Nơi trọng tâm chính là ngôi Nhà Nguyện,
Đây là nơi Chúa tuôn đổ hồng ân,
Sáng, trưa, chiều…đến Thánh Thể chuyên cần,
Đời tu trì có Chúa là tất cả.

Mỗi buổi sáng nghe tiếng chuông buông nhả,
Chúa gọi mời chị em đến Nguyện đường,
Giờ Kinh Sáng vang vọng giữa đêm sương,
Tiếp theo đó giờ niệm suy thinh lặng.

Những phút giây ngồi an bình suy ngắm,
Dâng lên Chúa tất cả những quyết tâm,
Những tâm sự, những kinh nguyện âm thầm,
Rồi sau đó cùng hiệp dâng Thánh lễ,

Cha Bề trên ngày ngày làm chủ tế.
Chị em quây quần hiệp ý với Cha,
Thánh lễ sốt sắng câu hát lời ca,
Sau Thánh Lễ, bắt đầu một ngày mới.

Những địa điểm chị em cần đi tới,
Sau giờ điểm tâm ai nấy lên đường,
Thi hành sứ vụ với cả tình thương,
Trăm công nghìn việc mà lòng chỉ một.

Ngày ấy điểm tâm bằng cơm, sữa bột…
Mỗi một người ly nước lã cạnh bên,
Một chai nước mắm là món ăn “nền”,
Cho cả bữa trưa cùng là bữa tối.

Tất cả giống nhau: mâm trên, mâm dưới,
Được Mẹ chăm lo cả xác lẫn hồn,
Sau cơm sáng là công tác tới luôn,
Chị làm nhà may, chị thì cuốc đất.

Ai nấy nhanh nhẹn chỉnh chu hoàn tất,
Nhất là các chị dạy học ở trường,
Soạn bài, giáo án với cả tình thương,
Công tác trong nhà các em Nhà Tập.

Cẩn thận chuyên cần chẳng nên hấp tấp,
Thu dọn Nguyện Đường, sắp xếp Nhà Cơm,
Khu vệ sinh, khu nhà bếp sạch thơm…
Khi xong việc các em về nhà Tập.

Để theo học những môn buộc theo luật,
Môn Tu Đức, môn Hiến pháp, Luật Dòng,
Môn Thánh Kinh, môn Lịch sử tinh thông.
Chuẩn bị tất cả cho đời dâng hiến.

Còn Đệ tử biệt cư nơi Thỉnh Viện,
Học môn đời để chuẩn bị tương lai,
Được các Dì trong nhà dạy, chỉ bài,
Từ lớp sáu cho đến xong lớp chín. (Lớp Đệ Thất đến lớp Đệ Tứ)

Một buổi sáng bao việc làm đan kín,
Rồi đến cơm trưa, cơm tối thực đơn,
Những thức ăn được đặt trong mâm cơm,
Thường mỗi bữa luôn luôn là hai món.

Cứ đến giờ Nhà Tập lại sắp dọn,
Một đĩa mặn và thêm một món canh,
Rau luộc thường xuyên cứ thế tập tành,
Món mặn “độn” được gọi là món “tạo”

Cũng có khi được thay vào món cháo,
Thường kho thịt cá cà rốt, củ mì…
Lá cải súp lơ, món độn thường khi,
Được mua tiết kiệm từ “chợ đầu mối”.

Những mẻ rau thừa khi trời chiều tối.
Bà Tổng quản lý nhanh nhẹn đến xin,
Đem về nhà chị em nhặt nhiệt tình,
Có những thứ phơi khô để kho cá.

Món ăn nấu thế nhưng lại rất lạ,
Cơm ăn nhiều và cảm thấy miệng ngon,
Từng bát canh thơm cuối bữa chẳng còn,
Thêm rau luộc: dền, mùng tơi, rau muống.

Rau mùng tơi thái mỏng cả cọng cuống.
Mẹ bảo rằng ăn thế canh bùi, thơm,
Rau muống già, lấy chày đập cọng luôn,
Đem làm dưa, thêm thức ăn ngon miệng.

Cả nhà ăn không ai than một tiếng.
Luôn vui vẻ đón nhận bữa ăn nghèo,
Chúa lại thương ban sức khỏe kèm theo,
Để đủ sức phục vụ, làm công tác.

Sinh hoạt Hội dòng còn nhiều việc khác,
Các chị dệt vải, nuôi heo, nuôi gà,
Mấy khung cửi dệt tơ bóng, vải ta.
Một số chị vừa dệt vừa đánh “suốt”.

Và “sỏ go”khung sợi không quên sót,
Công việc cũng vất vả để kiếm thêm,
Chút nguồn thu, nên các chị rất siêng,
Làm chuyên cần để mau mau có vải.

Còn nuôi gà, vài chục con gà mái,
Mỗi buổi sáng vào nhặt trứng rất ham,
Có lần được được mười, lần chỉ có năm,
Chị quản lý đem về làm đồ mặn.

Khi có nhiều, chị lại đem đi bán.
Đấy cũng được một nguồn thu nhỏ thêm,
Một số chị cũng làm nghề thuốc viên,
Đi tìm lá để nấu cao ích mẫu.

Thời gian đầu không dạy học các cháu,
Không giúp xứ, chỉ làm việc trong nhà,
Khi ổn định, chị em lại đi xa,
Đến phục vụ tại rất nhiều giáo xứ.

Coi đoàn thể, phòng thánh, làm nhiều sự,
Ưu tiên cho dạy giáo lý thường kỳ,
Rồi dần dần việc dạy học khả thi,
Nơi trường lớp chị em dồn tâm huyết.

Đời sống tinh thần nguyện cầu tha thiết,
Bằng Lời Chúa, bằng giáo huấn mỗi ngày,
Của Mẹ, Cha mời đến dạy nơi đây,
Giờ Tu đức hằng ngày trước Kinh Tối.

Cha Giuse không bao giờ mệt mỏi,
Dạy Thánh Kinh từ Cựu Ước tới Tân,
Tất cả nhà, tay cầm cuốn Phúc Âm,
Lên Nhà Hội ngày ngày học nghiêm túc.

Cha tên Huyền với tên họ Phạm Phúc,
Cha thật kiên nhẫn chấm – phát mỗi bài,
Và rất vui khi bài đúng không sai,
Được Cha khen thưởng thật là xứng đáng.

Sau giờ học, nhà Tập, các Chị Khấn,
Lên nguyện đường đọc Kinh Tối, cám ơn,
Còn Đệ tử bài ở trường nhiều hơn,
Và kết thúc bình an một ngày sống.

Thời Cha Huyền đã mạnh tay “phát sóng”
Cha khơi mào cho Văn hóa ra đời,
Dạy viết bài, dạy viết báo, thơ rơi…
Dạy thuyết trình, tập nói nơi công chúng.

Nguyệt San Ánh Sáng bao là cảm phục,
Nhà in Phụng sự cứ thế phát hành,
Thư Luân Lưu, bài Huấn Đức, Tin nhanh,
Mẹ Bề trên viết tâm thư dạy bảo.

Cha cũng viết thêm một bài huấn giáo,
Giúp chị em hiểu biết về đời tu,
Và Cha dịch cả những bức Tông thư,
Của Tòa Thánh gởi cho người Tu sĩ.

Điều Văn kiện nói, triển khai từng ý,
Nhất là khai mở Vaticanô hai (II),
Đại Hội đồng Canh tân họp ngày dài,
Theo hướng đi đổi mới Giáo Hội.

Kể từ đó Dòng có nhiều thay đổi,
Đà phát triển đang lên tới đỉnh cao,
Bỗng một chín bảy năm (1975) sóng ập vào,
Đất nước giải phóng, tiêu tan tất cả.

Hội dòng lúc này thực là tan rã,
Đệ tử cả đoàn giải thể đầu tiên,
Cho về quê không biết được ngày lên,
Cũng phân tán các chị em Học viện.

Còn Chị khấn vùng sâu xa thẳng tiến,
Về miền quê tìm chỗ để cắm lều,
Thay cây bút là cây cuốc cầm theo,
Vì lúc này họ không cho dạy học.

Việc chuyển nghề thật nhiêu khê cực nhọc,
Kiếm hạt gạo để gởi về nhà dòng,
Cho chị em già trẻ được hưởng chung,
Công việc lận đận từ ngày giải phóng.

Một số nơi, nghề đan khay kiếm sống,
Trồng rau bán, dệt chiếu, sống qua ngày,
Năm đói “bảy tám” (1978) vội vã tới ngay,
Tất cả mọi người đều phải ăn độn.

Kế sinh nhai lao đao và bận rộn,
Bữa ăn nhà dòng không thấy hạt cơm,
Món chính bắp đỏ, khoai, sắn nhiều hơn,
Đu đủ xanh, ướp muối làm đồ mặn.

Và hạnh phúc khi được dùng với mắm,
Thỉnh thoảng thay món được trộn muối mè,
Ăn khổ thế, không thấy một ai chê,
Ăn tạm tạm, không có để no bụng….

Những ai sống trong thời gian giải phóng,
Mọi người đều sợ, bảo gì cũng nghe,
Ký túc, Cô nhi không được chở che,
Phải đóng cửa cho Nhà Nước đến mượn.

Giải phóng đến, từng đêm về lạnh ớn,
Luôn vào thăm chính thời khắc nửa đêm,
Khuấy động không gian yên tĩnh lặng êm,
Đó là cách Nhà Nước gây bất ổn.

Nhà của mình đêm không ở chạy trốn,
Vì trong nhà có các chú ở chung,
Kể từ khi Thư viện bị “niêm phong,”
Là chị em sống trong vùng kiểm soát.

Rất bàng hoàng ngày từng ngày chịu phạt,
Bỗng một hôm phép lạ xuống trên Dòng,
Cửa Thư viện được gỡ chữ “niêm phong”
Và sự bình an chính thức trở lại.

Lời cầu xin chạm tới lòng nhân ái,
Khoảng vào năm một chín chín mươi (1990),
Lúc bấy giờ Nhà Nước báo tin vui,
Thư viện từ nay không còn phong tỏa.

Thời điểm đó còn thêm nhiều ơn lạ,
Dạy Mầm Non, Nhà Trẻ, lớp Tình thương,
Và phụ huynh vui rạng rỡ đến trường,
Gởi con em vào trường Dì dạy dỗ.

Niềm vui tựu trường hân hoan nở rộ,
Học sinh đông hơn, xây trường mới thêm.
Trường Măng Non tại Nhà Mẹ vươn lên,
Luôn thăng tiến đạt nhiều thành tích tốt.

Cố làm sao để trường không mai một,
Nhưng tiến đều theo nhịp bước thời gian,
Bài toán nhân sự còn đó gian nan,
Thời mở cửa, đất nước nhiều cơ hội.

Hội dòng nhận rất nhiều ơn gọi mới,
Các thiếu nữ từ khắp tỉnh, khắp miền,
Với nét đơn sơ, chân chất, dịu hiền,
Quyết trở thành Sơ Đa Minh Tam Hiệp.

Vào ngành mẫu giáo em theo học tiếp.
Để lấy bằng trường Sư phạm Mầm non,
Và học lên Đại học mức cao hơn,
Làm hiệu trưởng trường Mầm Non, Nhà Trẻ.

Ngành nghề giáo dục thường không hề dễ,
Soạn giáo án và thanh tra đều đều,
Sống thời nào thì cũng phải tuân theo,
Dù biết rằng sứ vụ này vất vả.

Nghề giáo dục chính là nghề cao cả,
Là công việc chị em đi trồng người,
Cho Giáo hội, cho xã hội đẹp tươi,
Những con người mang nơi mình nhân cách.

Những con người luôn luôn mang trọng trách,
Xây dựng cho thế giới nền hòa bình,
Là ước nguyện của chị em Đa Minh,
Phải cố gắng vì đây là linh đạo.

Chị em cần sống tâm tình ngoan thảo,
Trên những nẻo đường thánh phụ Đa Minh,
Sống ơn gọi với tất cả tâm tình,
Vui chừng nào Chúa ban thêm nhân sự.

Chị chị, em em niềm vui trào ứ,
Nhân sự Hội dòng tăng số rất mau,
Về cơ sở không còn những vườn rau,
Hàng thông đẹp bên cạnh hè Nhà Nguyện.

Không còn cây me chiều nào lưu luyến,
Lưu dấu sử xanh đặt móng ban đầu,
Cũng hết rồi cây dừa nước thật cao.
Thay vào đó dãy nhà lầu sừng sững.

Bình địa nhà cơm… móng nền nuốt trửng,
Riêng nhà Tập còn đôi nét để lưu,
Phá tan tành hang đá Mẹ nhân từ,
Đứng viếng Mẹ mỗi buổi chiều thứ Bảy.

Khu đệ tử, công trình xây dễ thấy,
Tọa lạc gần hội trường lớn hai ngàn, (Hội trường 2000)
Để ghi dấu thiên niên kỷ bình an…
Nơi đại hội, tĩnh tâm và thường huấn.

Văn hóa Hội dòng đậm ghi dấu ấn,
Rất đa dạng và cập nhật theo thời,
Báo điện tử trang Web đẹp chị ơi,
Đem trình làng công khai toàn thế giới.

Để độc giả ngày ngày có bài mới,
Ban Văn Hóa luôn làm việc chuyên chăm,
Tìm sách, tìm bài, nghiên cứu, sưu tầm,
Rồi tung mạng cho chị em được biết.

Và chị em cũng cố theo nhịp tiến.
Những đổi thay, kỹ thuật mới diễn ra,
Cố học hỏi để còn dạy người ta,
Những mảnh đời trên con đường sứ vụ.

Và sau cùng vẫn vấn đề nhân sự,
Đáp ứng sao vừa sứ vụ nhiều nơi,
Dù khấn sinh gần chẵn năm trăm người,
Nhà Tập, Thỉnh sinh đều đều phát triển.

Cám ơn Chúa, Hội dòng đang đà tiến.
Để có người tiếp tục phục vụ Lời,
Ba mốt (31) Cộng đoàn ở khắp mọi nơi,
Trên mười (10) Giáo phận chị em hiện diện.

Là Nữ tu mang giòng máu người Việt.
Được huấn luyện trong linh đạo Đa Minh,
Chị em luôn luôn làm việc hết mình,
Cho sứ vụ được trao không thiếu sót.

Nghề giáo dục, chị em luôn đứng lớp,
Để dạy học cho các bé mầm non,
Là Nữ tu, chị em được trao luôn,
Những công việc mục vụ khi giúp xứ.

Và cứ thế dệt nên thiên tình sử,
Giúp các đoàn thể, giáo lý, người nghèo…
Vừa phục vụ vừa vui vẻ kèm theo,
Khi chiều về, lặng quì bên Thánh thể.

Mới thấy Chúa đáng yêu nhiều đến thế,
Những thành công, thất bại một ngày qua,
Và như vậy, cuộc sống tới tuổi già,
Luôn có Chúa đồng hành trong sứ vụ.

Những dòng trên ghi lại một quá khứ.
Của Hội Dòng từ khi tiến vào Nam,
Để hôm nay kỷ niệm bảy mươi (70) năm.
Ngày thiết lập Nữ Đa Minh Tam Hiệp.

Là thế hệ hậu sinh được nối tiếp.
Giữ gia tài cao quí của Hội dòng,
Lối hiện diện sao thỏa đáng ước mong,
Đem trao Lời, sau khi đã suy niệm.

Trong đời tu, làm cho Dòng phát triển,
Mãi hiện diện trên khắp cả mọi nơi,
Đa Minh Tam Hiệp nguyện ước một đời,
Là chứng nhân cho Lời trong cuộc sống.

Nt. Maria Vũ Thị Thùy Trang (Trọng)
Tx. Thánh Anrê Kim Thông

Comments are closed.