Cộng đoàn tu sĩ thi hành sứ mạng

0

Bài thuyết trình tại Hội nghị thường niên Liên hiệp Bề Trên Thượng cấp Việt Nam năm 2014

Đề tài sẽ được trình bày là “Cộng đoàn tu sĩ thi hành sứ mạng”. Hy vọng đề tài này sẽ góp thêm lửa cho các cộng đoàn của chúng ta trong việc thi hành sứ mạng Chúa trao. Bài thuyết trình này gồm ba phần:

I. Thực tế: an ủi và sầu khổ

II. Về nguồn: Kinh Thánh, huấn quyền, đặc sủng – linh đạo

III.   Nhà lãnh đạo và cộng đoàn: bản thân vị lãnh đạo, tương quan, khó khăn cần vượt qua

Vài câu hỏi mở đầu:

  1. Liệu có một cộng đoàn tu sĩ được hình thành mà lại không có sứ mạng gì không?
  2. Thử nhìn lại xem cộng đoàn của tôi đang thi hành sứ mạng gì và thi hành thế nào?
  3. Khi thi hành sứ mạng, có thể có khó khăn gì và làm thế nào để vượt qua?

Chúng ta dành ít phút để suy nghĩ về điều đó.

Giờ đây, chúng ta đi vào phần đầu của bài thuyết trình.

I. THỰC TẾ

Khởi đi từ việc thi hành sứ mạng trong các cộng đoàn tu sĩ, chúng ta có thể thấy nhiều điều tích cực và nhiều điều làm chúng ta trăn trở. Thực tế, đây là những điều con nghe được từ đây đó.

A. An ủi

–  Cha ơi! Chúng con rất hạnh phúc khi được sống trong cộng đoàn này. Ai cũng có sứ mạng của mình, nhưng chúng con vẫn thường chia sẻ để nâng đỡ nhau mỗi dịp gặp mặt.

– Cha ơi! Cộng đoàn chúng con vừa quyết định bỏ một việc vì nó làm chúng con bận lòng với vật chất, chứ không phải là thi hành sứ mạng Chúa trao. Chúng con được qui tụ đâu phải để kiếm tiền!

– Cha ơi! Con rất vui vì có sự quân bình trong đời sống cộng đoàn. Các mặt thiêng liêng, nhân bản, trí thức và tông đồ đều được phát triển.

– Cha ơi! Bề trên chúng con thật tuyệt! Anh luôn quan tâm đến cộng đoàn, đến từng người và làm gương cho anh em. Anh cũng trực tiếp làm việc tông đồ nữa.

–  Cha ơi! Việc phục vụ ở nhà trẻ của cộng đoàn chúng con là cơ hội để chị em ý thức về việc giáo dục mang tính nền tảng cho xã hội, một xã hội mà đạo đức xuống cấp trầm trọng.

– Cha ơi! Con đi phục vụ ở nơi xa và anh em con nâng đỡ con nhiều lắm, dù anh ấy khác với con nhiều. Nếu không có anh em, con không biết thế nào.

B.  Sầu khổ

–  Cha ơi! Bề trên con khó tính quá! Tất cả chị em đều sợ, không dám làm gì trái ý ngài. Chẳng ai dám có sáng kiến tông đồ.

–  Cha ơi! Các em nhà con khó bảo quá! Con nói một đàng, họ làm một nẻo!

– Cha ơi! Con là giáo dân và con biết có nhà dòng nọ mở trường mẫu giáo thật to và đẹp, nhưng học trò phải đóng rất nhiều tiền mới được nhận.

– Cha ơi! Các em trong nhà chúng con đi làm mục vụ và bị cha xứ không tin tưởng, lại còn chèn ép và khinh thường.

– Cha ơi! Con thật sự không biết làm sao, vì khi đi phục vụ con bị lạm dụng. Con không đủ can đảm để chia sẻ với chị em hay trình bày với bề trên.

– Cha ơi! Làm sao lại có chuyện bề trên và bề dưới thương riêng nhau? Lệch lạc như vậy thì làm sao mà có tự do để đi phục vụ nơi khác!

– Cha ơi! Tại sao chị ấy luôn được bề trên quan tâm, tin tưởng, trao sứ vụ, còn con thì không?

– Cha biết không, có cộng đoàn tối ngày chỉ có luẩn quẩn với những chuyện làm ăn, chẳng biết gì đến truyền giáo cả.

–  Cha ơi! Con đã suy nghĩ kỹ và con quyết định sẽ không đi tu, vì con thấy các sơ chẳng chịu đi loan báo Tin Mừng!

Hãy nghĩ đến thực tế của đời tu chúng ta. Có lời nào giống với tình trạng của cộng đoàn của tôi không?

II. VỀ NGUỒN

Giờ đây, ta cùng trở về với nguồn cội của cộng đoàn để xem việc thi hành sứ mạng được diễn ra thế nào.

A. Lời Chúa

Trước hết, chúng ta xem Lời Chúa nói gì về điều này. Trong Kinh Thánh, các cộng đoàn được thiết lập để làm gì? Có rất nhiều hướng dẫn từ Kinh Thánh. Chúng ta chỉ rút ra một ít giáo huấn từ Tân Ước.

a. Cộng đoàn do Chúa Kitô qui tụ là cộng đoàn vì sứ mạng

+ Nhóm 12: Mc3,13-19. Đức Giêsu gọi các ông đến để các ông ở với Người và được Người sai đi loan báo Tin Mừng (LBTM). Đức Giêsu đến trần gian này để thi hành sứ mạng Chúa Cha trao cho Người. Người kêu gọi những môn đệ đầu tiên với mục đích tạo lập một cộng đoàn gồm những người chia sẻ cuộc sống và sứ mạng của Người. Hai khía cạnh ở với Đức Giêsu và được Đức Giêsu sai đi làm nên căn tính của cộng đoàn.

+ Nhóm 72: Lc10,1-12. Đức Giêsu chỉ định nhóm này như một nhóm mở rộng do nhu cầu tông đồ và sai đi LBTM kèm theo những huấn dụ cụ thể dành cho người truyền giáo.

+ Nhóm môn đệ sau PS: Ga20,19-23. Chúa Phục Sinh ban Thánh Thần sai họ đi làm chính việc Người đã nhận từ Chúa Cha. Các môn đệ Chúa Giêsu tiếp nối sứ mạng của Người.

Cả 4 sách Tin Mừng đều cho thấy cộng đoàn môn đệ Chúa Giêsu không phải là cộng đoàn qui về mình nhưng là cộng đoàn mở ra, hướng đến tha nhân; đó là cộng đoàn vì sứ mạng LBTM.

b. Cộng đoàn tín hữu sơ khai là cộng đoàn vì sứ mạng

–  Cv2,1-41: Các tông đồ lãnh nhận Thánh Thần để công bố những kỳ công của Thiên Chúa cho các dân tộc khác nhau. Họ nghe được lời công bố bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình và sám hối, chịu phép rửa và làm thành cộng đoàn mới, cộng đoàn của những người tin vào Đức Giêsu tử nạn và phục sinh. Như vậy, ngay từ trung tâm Giêrusalem, cộng đoàn môn đệ Chúa Giêsu đã bắt đầu sứ mạng công bố ơn cứu độ cho khắp thế giới.

–  Cv4,32-34: Cộng đoàn ấy đông đảo mà vẫn một lòng một ý, không ai phải thiếu thốn. Chính hiện hữu của cộng đoàn trở nên chứng từ của quyền năng Thiên Chúa và vì thế sứ mạng LBTM được thực hiện, vì  loan báo về một thực tại mới đem người ta đến hạnh phúc đích thực. Sức sống của cộng đoàn bùng nổ. Do đó, số tín hữu gia tăng nhanh chóng.

– Cv6.1-7: Các chức vụ trong cộng đoàn được thiết lập cũng vì sứ mạng. Các phó tế được tuyển chọn trong khung cảnh của cộng đoàn Hội Thánh với nhiều thành phần mới. Việc này đem lại kết quả là cộng đoàn thêm đông, lan đi khắp nơi, mở ra với dân ngoại.

B. Huấn quyền

Cộng đoàn Hội Thánh ngày nay vẫn luôn là cộng đoàn vì sứ vụ. Tất cả mọi hoạt động, tổ chức trong Hội Thánh đều nhắm đến thi hành sứ vụ Chúa đã trao. Chúng ta để ý đến vài văn kiện.

a. Giáo luật nói về sứ mạng của Hội Thánh và các cộng đoàn

Sau khi nói về nhiệm vụ của mọi kitô hữu trong việc thi hành sứ mạng Chúa ủy thác cho Hội Thánh (204,1; 216), Giáo luật nói về các tu sĩ như sau: Các Kitô hữu được thánh hiến cho Thiên Chúa qua việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm sẽ tham dự vào sứ mạng cứu rỗi của Giáo Hội cách đặc biệt theo mục tiêu và tinh thần của tu hội (207,2; 574,2).

Việc các tu sĩ phải làm chứng công khai cho Đức Kitô và cho Giáo Hội bao hàm sự xa cách thế gian là điều hợp với đặc tính và mục tiêu của mỗi tu hội (607,3).

Trong mỗi tu hội, sau khi tuyên khấn lần đầu, tất cả mọi thành viên phải được tiếp tục đào tạo, để tiếp tục sống nếp sống riêng của tu hội cách trọn vẹn hơn và thực hiện sứ mạng của tu hội cách phù hợp hơn (659,1).

Từ đó, qui định chương trình và thời gian đào tạo, xét theo nhu cầu của Giáo Hội, hoàn cảnh của con người và thời cuộc, cũng như mục đích và đặc tính của tu hội đòi hỏi.

b. Công đồng Vatican II

Có rất nhiều văn kiện của công đồng Vatican II liên quan đến đời sống cộng đoàn tu sĩ và sứ mệnh loan báo Tin Mừng. Chỉ xin nêu ở đây vài trích dẫn với mong ước được thấy rõ hơn điều chúng ta phải làm, đặc biệt là việc canh tân thích nghi để thi hành sứ mạng:

“Việc canh tân thích nghi đời sống dòng tu một trật bao gồm sự liên tục trở về với nguồn mạch của đời sống Kitô hữu và ơn linh ứng nguyên thủy của hội dòng cũng như sự thích nghi hội dòng với những hoàn cảnh thay đổi qua các thời đại” (PC số 2).

Việc canh tân thích nghi này theo một số nguyên tắc:

+ Tiêu chuẩn tối hậu: bước theo Chúa Kitô như Tin Mừng dạy;

+ Noi giữ tình thần và ý hướng của Đấng sáng lập;

+ Tham dự vào đời sống Giáo Hội theo tính cách riêng của mình;

+ tìm hiểu đầy đủ về hiện trạng con người, thời thế và các nhu cầu của Giáo Hội để có thể nâng đỡ con người cách hữu hiệu hơn qua nhận định và nhiệt tâm truyền giáo;

+ Điều then chốt là canh tân về tu đức: theo Chúa Kitô và kết hợp với Thiên Chúa qua các lời khuyên Phúc Âm. Cần ý thức rằng “hoạt động tông đồ của các tu sĩ phải được phát sinh từ cuộc sống kết hiệp mật thiết với chính Chúa Kitô, nhờ đó, chính đức mến Chúa yêu người được triển nở” (PC, số 7).

c. Tông huấn Niềm Vui của Tin Mừng (Evangelii Gaudium – 8/12/2013)

Đức Thánh Cha (ĐTC) Phanxicô khởi đầu tông huấn của ngài bằng điều kiện phải có của người LBTM đó là kinh nghiệm gặp gỡ với Chúa Kitô (số 1). Nếu cộng đoàn thực sự là cộng đoàn sống niềm vui gặp gỡ thì chúng ta mới có thể là cộng đoàn loan báo Tin Mừng. ĐTC kêu gọi canh tân việc gặp gỡ cá nhân của ta với Chúa mỗi ngày (số 3), nghĩa là liên lỉ làm mới lại kinh nghiệm gặp gỡ với Chúa Kitô là Tin Mừng vĩnh cửu. Nhờ sự gặp gỡ mới mẻ này với tình yêu Thiên Chúa, mỗi người chúng ta sẽ được gỡ ra khỏi sự cô độc và tự kỷ, sẽ lên đường đến với anh chị em vì không thể kềm giữ được lòng khao khát muốn chia sẻ (số 8) và cảm thấy như thánh Phaolô: “khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr9,16). Từ đó, ngài cho thấy như thánh Giáo hoàng GP II trong thông điệp Redemptoris Missio (RM) rằng đối với cộng đoàn Hội Thánh, “lý do truyền giáo phải đứng hàng đầu” (số 15, trích RM số 86).

ĐTC đề nghị chúng ta hãy làm  một cuộc chuyển đổi sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội (số 19-49). Bao nhiêu lâu, chúng ta cứ ở bên trong một thành trì an toàn để bảo vệ cơ cấu, để lo cho sự yên ổn của mình, trong khi anh em thì ở bên ngoài đang chịu đói khát và Chúa bảo: “Chính các con phải cho họ ăn” (Mc 6,37). Cuộc lên đường của cộng đoàn là cuộc ra đi theo mệnh lệnh của Đức Giêsu để làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Người (Mt28,19-20a).

Để lên đường, Giáo Hội luôn cần sự liên kết mật thiết với Đức Giêsu. Đó là sự mật thiết truyền giáo và cộng đòan tỏ hiện một cách cở bản là một cộng đoàn truyền giáo. Từ đó cộng đoàn bước ra ngòai để rao giảng Tin Mừng cho mọi người trong mọi hoàn cảnh, không do dự, không âu lo, không sợ sệt (số 23). ĐTC dùng từ “bung ra” để diễn tả chọn lựa truyền giáo của cộng đoàn có khả năng chuyển đổi mọi sự, sao cho những thói quen, phong cách, thời biểu, ngôn ngữ và cơ chế được thích ứng để Phúc Âm hóa thế giới hơn là tự bảo tồn mình. Ngài nhấn mạnh sự chuyển đổi theo nghĩa: lo lắng để  các cơ cấu mang tính chất truyền giáo hơn, để mục vụ bình thường trong mọi hoàn cảnh được mở rộng đến hết mọi người.

ĐTC mời gọi “từng người phải gan dạ và sáng tạo trong trách nhiệm suy nghĩ lại các đối tượng, các cơ cấu, phong cách và phương thức truyền giáo của cộng đoàn mình” (số 33). Và “điều quan trọng là không đi một mình, nhưng luôn luôn với các bạn và đặc biệt dưới sự hướng dẫn của các vị Giám mục, theo một mục vụ khôn ngoan và thực tiễn” (số 33). Để không bị lạc hướng, phải xuất phát từ trung tâm của Tin Mừng (số 34) và “đến với tất cả mọi người, không loại trừ ai, việc rao giảng tập trung vào điều cơ bản, điều đẹp nhất, vĩ đại nhất, lôi kéo nhất và đồng thời cần thiết nhất. Lời nói phải đơn sơ, nhưng không đánh mất chiều sâu và chân lý, thật sự có tính thuyết phục và rõ ràng” (số 35). Đồng thời, vì ta đang sống trong một thế giới với mọi đổi thay về văn hóa nên cần nhớ “cách diễn tả chân lý có thể có nhiều hình thức, và việc canh tân các diễn tả cũng cần thiết để truyền đạt cho người ngay nay sứ điệp Tin Mừng trong một ý nghĩa bất biến” (số 41, trích thông điệp Utt unum sint của ĐGH Gioan Phaolô II, ngày 25.5.1995, số 19).

C. Đặc sủng và linh đạo

Mỗi cộng đoàn khi được thành lập đều có một sứ mạng Chúa trao cho vị sáng lập và các thành viên, tùy theo nhu cầu của thời điểm lịch sử cụ thể. Với sứ mạng này, mỗi dòng đều nỗ lực thực hiện ngang qua nhiều tác vụ khác nhau. Xin nêu ở đây sứ mạng của vài hội dòng.

Dòng Biển Đức (OSB): Khẩu hiệu Ora et Labora nói lên cuộc sống của các  đan sĩ là cầu nguyện và làm việc. Xa cách thế gian, chìm ngập trong chiêm niệm, họ trở nên là sứ điệp cho biết bao anh chị em sống giữa đời.

Dòng Phanxicô (OFM): Đi khắp nơi để loan báo Đức Kitô nghèo khó, khiêm hạ và chịu đóng đinh, đồng thời mang đến hòa giải và bình an cho mọi Người, theo tinh thần của thánh Phanxicô Assisi (1181-1226).

Dòng Đa Minh (OP): Để phục vụ cho đức tin tinh tuyền, các tu sĩ Đa Minh được kêu gọi đi rao giảng về Chúa Kitô theo khẩu hiệu “nói với Chúa và nói về Chúa”: bắt nguồn từ cầu nguyện và rao giảng cho mọi người.

Dòng Tên (SJ): Với mục đích làm mọi sự cho vinh danh Chúa hơn, các tu sĩ dấn thân phục vụ đức tin nối kết với thăng tiến công bình của Nước Thiên Chúa trong đối thoại với các nền văn hoá và các tôn giáo khác, nhằm thiết lập những nhịp cầu hòa giải giữa con người với Thiên Chúa, với nhau và với môi trường thiên nhiên.

Dòng Chúa Cứu Thế (CSsR): dấn thân để truyền bá đức tin cho những người thuộc tầng lớp nghèo khổ. Hoạt động: rao giảng TM, truyền giáo, cổ võ lòng sùng kính Đức Mẹ (HCG), nghiên cứu thần học luân lý.

Dòng Salesien Don Bosco (SDB): rao giảng Tin Mừng cho các thanh thiếu niên, cách riêng là trẻ em nghèo, LBTM cho người chưa biết Chúa, giáo dục đức tin trong các môi trường bình dân, đặc biệt với việc truyền thông xã hội. Sứ mạng trên được thực hiện qua các trung tâm giới trẻ, đại học, trung học, dạy nghề, kỹ thuật,…

Dòng Mến Thánh Giá (MTG): Với linh đạo Mến thánh giá, tập trung vào Chúa Giêsu chịu đóng đinh là đối tượng duy nhất của mình, người nữ tu sống sứ mạng chuyển cầu và dấn thân phục vụ trong cuộc sống cụ thể về các mặt văn hóa, xã hội, y tế, luân lý, đức tin với ưu tiên cho nữ giới.

Dòng Phaolô thành Chartres (SPC):Sứ mạng của dòng: giáo dục, chăm sóc y tế và công tác mục vụ, đặc biệt luôn sẵn sàng đi đến các miền truyền giáo để phục vụ. Các nữ tu mong muốn như thánh Phaolô là trở nên mọi sự cho mọi người (1Cr 9,22).

Dòng Đức Bà Truyền Giáo (RNDM): Đặt mình trong Sứ mạng của Chúa Ba Ngôi, người nữ tu muốn là những nhà truyền giáo với một trái tim dành cho cả thế giới, đặc biệt cho những phụ nữ và giới trẻ bị gạt ra bên lề xã hội, mong muốn xây dựng một tương lai tươi sáng hơn trong hòa bình, công bình và hội nhất cho mọi người.

Các tu hội đời: Tu hội đời là một hội dòng tận hiến, trong đó các tín hữu sống giữa đời nhắm tới sự trọn lành của đức ái và dấn thân mưu cầu sự thánh hóa đời ngay từ ở giữa đời (GL710). Sứ mạng của họ: Các phần tử của các tu hội diễn tả và thực hành sự tận hiến qua hoạt động tông đồ, và tựa như men bột, họ hãy cố gắng thấm nhiễm hết mọi sự với tinh thần Phúc Âm, ngõ hầu củng cố và tăng triển nhiệm thể Ðức Kitô (GL713).

Vài suy nghĩ:

1/ Nhìn vào lịch sử đời tu, ta có thể đồng ý với Catherine M. Harmer rằng: “Mỗi khi một nhóm tu sĩ trở về với đặc sủng của Đấng Sáng Lập, hoặc là nhân dịp một cuộc cải cách nền tảng hoặc vào một dịp họp Tổng Hội, thì mỗi lần đó họ có thể khám phá lại sứ vụ của mình.” (Đời tu trong thế kỷ XXI – Hành trìnhvề Canaan hôm nay. Bản dịch của Lm Giuse Đỗ Ngọc Bảo, NXB Phương Đông, 2014, tr. 41). Cần canh tân đời sống liên tục trong sự trung thành với đặc sủng để thi hành sứ mạng Chúa trao trong hoàn cảnh mới.

2/ Có sự khác biệt giữa sứ mạng và các tác vụ mà cộng đoàn thi hành. Có thể nói sứ mạng là lý do để hội dòng được khai sinh, phát triển và duy trì. Sứ mạng ấy khởi hứng từ chính sứ mạng của Chúa Giêsu trong Tin Mừng và thường ít thay đổi qua các thế hệ. Mỗi hội dòng theo một linh đạo riêng, phản ánh một nét đặc thù của sứ mạng Chúa Kitô nơi trần gian. Các tác vụ xác định làm thế nào để thực hiện sứ mạng của hội dòng trong những thời điểm và môi trường cụ thể,…và như vậy các tác vụ thay đổi nhiều theo thời gian (Harmer, Sđd, tr.41-58).

III.  LÃNH ĐẠO CỘNG ĐOÀN

Có lẽ sẽ ích lợi nếu ta chú ý đến điều mà các nhà lãnh đạo cần biết để thi hành sứ mạng trong và cùng cộng đoàn.

A. Bản thân người lãnh đạo

–  Ơn gọi:

+ Về nền tảng, ơn lãnh đạo xuất phát từ Thiên Chúa, Đấng ban cho con người khả năng lãnh đạo khi tạo dựng nên họ (St1,28). Để dẫn dắt con người, Thiên Chúa dùng chính con người. Lịch sử cứu độ cho thấy: “Mỗi khi Thiên Chúa muốn thực hiện một điều gì vĩ đại, Ngài đã chọn một người lãnh đạo để tiến về phía trước. Ngày nay Người vẫn tiếp tục kêu gọi những người lãnh đạo tiến ra phía trước để thực hiện tất cả mọi công việc, dù lớn hay nhỏ” (John C. Maxwell, Lãnh đạo, những điều ước hẹn từng ngày, tr.8).

+ Đọc Is 6,1-8, ta thấy Thiên Chúa cần con người để làm lãnh đạo. J.C. Maxwell nhận thấy ba nhân tố làm nên một lời mời gọi thánh thiêng để lãnh đạo:

  • Cơ hội (thời gian),
  • khả năng (nhận ra ơn ban để làm gì cho nhu cầu) và
  • ước muốn (sẵn sàng đứng lên để thực hiện). (Sđd, tr.113)

+ Điều đó cho thấy vị lãnh đạo phải là con người được bắt rễ sâu trong cầu nguyện, vì chính trong cầu nguyện vị này lắng nghe Lời Chúa mời gọi và nhận ra điều Người muốn mình thực hiện. Khuôn mẫu luôn luôn người lãnh đạo của cộng đoàn tu sĩ phải học theo là chính Chúa Giêsu. Hãy học với tôi vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng… (Mt11,25-30).

–  Một số đức tính căn bản:

+ Tin-cậy-mến:  Mọi kitô hữu đều được mời gọi sống ba nhân đức đối thần cách mạnh mẽ và liên lỉ. Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với người lãnh đạo cộng đoàn.

  • Vị này phải tin tưởng vào Chúa hết lòng, vì Người là Đấng lãnh đạo đích thực của cộng đoàn và ban sức mạnh để con người cộng tác với Người. Song song với điều đó, vị này phải thực sự tin tưởng nơi anh chị em trong cộng đoàn là những người Chúa dùng để tỏ cho mình biết điều cần phải làm và cùng phục vục cho sứ mạng chung.
  • Vị này cũng phải cậy trông nơi một mình Chúa, đặc biệt là khi khó khăn bủa vây mà thấy mình không đủ sức, khi có nguy cơ tìm cậy dựa vào những phương thế nhân loại, nơi những khôn ngoan của người đời, nơi những hứa hẹn hão huyền của tên cám dỗ.
  • Vị này phải có lòng yêu mến tha thiết. Chẳng phải vô cớ mà Chúa Giêsu đã hỏi Phê-rô tới ba lần “con có yêu mến Thầy không?” (Ga21). Rõ ràng, để phục vụ cộng đoàn, người lãnh đạo phải có lòng yêu mến Chúa Giêsu, phải gắn bó với Người tha thiết, vì chỉ như vậy người này mới có thể dẫn dắt đoàn chiên của Người và từ đó thi hành sứ mạng Chúa trao cho cộng đoàn, vì sứ mạng làm chứng cho Tin Mừng Tình yêu chỉ được công bố trong tình yêu mà thôi.

+ Tận tụy: Xuất phát từ tình yêu đối với Chúa, vị lãnh đạo sẽ tận tụy chăn dắt anh chị em mình và cùng với họ làm chứng cho Chúa. Phê-rô khuyên nhủ các vị lãnh đạo trong Giáo Hội: Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tuỵ.Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên (1Pr5,2-3). Phaolô nói với các trưởng lão ở Êphêsô về tương quan của ngài với cộng đoàn khi Ngài từ biệt họ để lên đường đi Giêrusalem. Ngài thể hiện sự tận tụy như thế nào trong sứ mạng Chúa đã trao cho ngài giữa đoàn chiên và ngài mong muốn các vị hữu trách lo cho cộng đoàn, luôn dấn thân phục vụ theo lời Chúa là ‘cho thì có phúc hơn là nhận’ (Cv20,17-37).

– Như vậy, để phục vụ Chúa trong tư cách lãnh đạo, cần có một tấm lòng. Đó là lý do Chúa chọn Đavít, không dựa trên cái con người cho là quan trọng (1Sm16,7). Nguy hiểm thường  xảy ra khi các cộng đoàn quá vội đánh giá chỉ vì bề ngoài. Điều đó ảnh hưởng rất nhiều đến sứ mạng của cộng đoàn. (x. Maxwell, sđd tr.67). Đồng thời, nhà lãnh đạo cần nhìn thấy tấm lòng của anh chị em mình như Thiên Chúa nhìn nơi Rakháp (Gs6,17).

+ Khiêm tốn: Vị lãnh đạo đích thực khiêm tốn phục vụ như Đức Giêsu cúi mình rửa chân cho các môn đệ (Ga13,1-17). Môn đệ của Chúa theo gương Người: kẻ làm đầu thì phải làm đầy tớ mọi người và hiến mạng vì họ (Mc10, 41-45). Đặc tính quan trọng: đặt lợi ích của người khác lên trên lợi ích của chính mình, không coi trọng mình, không chú trọng địa vị nhưng phục vụ vì yêu mến.

+ Can đảm là một đặc nét của nhà lãnh đạo: “Mạnh bạo lên, can đảm lên nào” (Đnl 31,7). Sự can đảm khởi sự với cuộc chiến nội tâm, khi ta đương đầu với khó khăn thử thách. Nó có sức lây lan và có sức mở mọi cánh cửa (Maxwell, sđd, tr.66). Nhờ sự can đảm của vị bề trên, cộng đoàn sẽ sẵn sàng thi hành sứ mạng khó khăn. Hãy nhớ đến chuyện của Dân Chúa trước khi vào Đất Hứa. Những người do thám đi về và báo cáo tình hình cho Môsê. Đám dân lúc ấy khiếp sợ trước những ‘người khổng lồ’ của vùng đất mới, dân vẫn tiến vào được nhờ sự can đảm của Caleb và Giosuê (Ds13-14).

+ Tầm nhìn. Đọc 2Sm5,1-3.6, ta thấy Đavít lôi cuốn và tiếp sinh lực cho dân bằng tầm nhìn của ông (p.208).Tầm nhìn giúp liên kết mọi người lại với nhau vì nó truyền cảm hứng giúp người khác cùng nhận ra mục đích cao cả, tập trung vào điều chính yếu và cùng vị lãnh đạo thực hiện. Chính tầm nhìn giúp khởi lên ngọn lửa nhiệt tình trong việc lãnh đạo. Làm sao để tìm thấy tầm nhìn? Thưa: phải lắng nghe các tiếng nói từ nội tâm, ngang qua những buồn sầu, thành công và từ trên cao (Maxwell, Sđd, tr.210). Đức Giêsu có một tầm nhìn và Người lãnh đạo môn đệ thi hành sứ mạng: Đến ngày Đức Giêsu được rước lên trời, Người nhất quyết lên Giêrusalem, Người dẫn đầu các môn đệ lên đường…(Lc 9,51).

+ Nhạy bén và ứng trực. Vị lãnh đạo được trao cho nhiệm vụ chăn dắt cộng đoàn và giúp cộng đoàn thi hành sứ mạng. Bởi đó ngài cần sự nhạy bén với tiếng Chúa gọi ngang qua những hoàn cảnh cụ thể của thời cuộc để từ đó khởi xướng việc phục vụ cụ thể cho sứ mạng và mau mắn đưa cộng đoàn vào cuộc. Sự ứng trực của ngài sẽ thúc đẩy cộng đoàn thực hiện tốt đẹp sứ mạng Chúa trao.

+ Biết dùng người. Các thành viên trong cộng đoàn những đặc sủng khác nhau tùy theo ân huệ Chúa ban cho mỗi người và phải được dùng mà phục vụ Giáo Hội (Rm12,6). Dựa vào đoạn thư của Phaolô, Maxwell gọi người lãnh đạo là người môi giới đặc sủng, là người quản lý có nhiệm vụ làm cho tài năng nơi mỗi người được phát triển một cách tối đa. Nếu các thành viên được sai đi làm việc theo tài năng Chúa ban, hẳn là kết qủa sẽ tốt đẹp. Dĩ nhiên, đây không phải là chuyện dễ dàng, vì còn nhiều yếu tố chi phối khi phân phối anh chị em của mình trên cánh đồng mênh mông và đa dạng hôm nay.

+ Hiểu biết: Vì lý do trên, người lãnh đạo cần hiểu biết

  • về mục đích của cộng đoàn nhắm tới và cố theo đuổi những thành tựu có tính lâu dài;
  • về những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, từ đó biết dành ưu tiên cho những trách nhiệm của mình, tập nói “không” (Maxwell, sđd tr.70). Nguyên tắc của Giosuê: “Đừng đi trệch bên phải bên trái, ngoài lề luật, để ngươi được thành công bất cứ nơi nào ngươi đi tới” (Gs1,7). Is33,14-16 nói về thứ lửa phải có của nhà lãnh đạo là sự chính trực, công bằng, trong sạch, tập trung vào điều tích cực, kiên quyết trong tính cách và nguồn sức mạnh của mình (Sđd, tr.12).
  • về người của cộng đoàn mình một cách càng rõ ràng càng tốt. Vì thế, những cuộc gặp gỡ, trao đổi trong tình thần đối thoại bình đẳng là vô cùng quan trọng. Nếu bề trên biết điểm yếu điểm mạnh của một anh/chị em trong cộng đoàn, sẽ có thể đặt ở vị trí thích hợp của cánh đồng.
  • về môi trường anh em trong cộng đoàn được sai tới. Xã hội hôm nay đầy biến động, đổi thay, tiến bộ về khoa học kỹ thuật, cùng với những vấn đề nảy sinh, những lo âu khắc khỏai của con người thời đại mình đang sống. Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít…”

+ Không độc quyền: Từ cái nhìn ở trên, vị lãnh đạo sẽ không còn là người độc quyền trong việc thực hiện chương trình của cộng đoàn đã cùng đề ra với mục đích chung, nhưng là người biết trao quyền cho người khác, phân chia công việc cùng với quyền thực hiện (phân quyền). Bản thân vị lãnh đạo nhận thức sự giới hạn của mìn về nhiều mặt (kiến thức, kỹ năng, sức lực, v.v.), không thể thực hiện một mình. Sách Công Vụ thuật lại việc Banaba khi gặp được Phaolô đã làm gì để đem lại ích lợi lớn lao cho công cuộc truyền giáo (Cv9,27). Ông đã tin tưởng Phaolô trước mọi người, đã xác nhận quyền lãnh đạo của Phaolô trước các vị lãnh đạo khác, đã tạo cho Phaolô cơ hội để tận dụng các tiềm năng của mình. “Khi bạn trao quyền cho người khác, bạn sẽ tạo ra sức mạnh trong tổ chức của bạn” (Maxwell, sđd tr. 111).

+ Chuyên cần học hỏi với tình thần cởi mở: “Một người khôn ngoan nghe và gia tăng việc học hỏi của mình” (Cn1,5). Không phải ai sinh ra cũng có khả năng lãnh đạo, hầu hết là do học hỏi và phát triển. Lãnh đạo thì phức tạp và nó có nhiều khía cạnh: sự tôn trọng, kinh nghiệm, mạnh mẽ trong cảm xúc, kỹ năng, kỷ luật, tầm nhìn, sức đẩy, sự tính toán thời gian, sự kiên trì, v.v. Cái gì cũng phải học và học mãi. 

B. Tương quan trong cộng đoàn và việc thi hành sứ mạng

–  “Ai không chăm sóc người thân, nhất là những người sống trong một nhà thì họ đã chối bỏ đức tin và còn tệ hơn người không có đức tin” (1Tm5,8). Cộng đoàn là một gia đình trong đó anh chị em chăm sóc cho nhau, đặc biệt người lãnh đạo đối với các thành viên khác. Nhiều người sống trong một cộng , nhưng không được hạnh phúc do thiếu sự quan tâm của bề trên và anh chị em. Vì thế họ đi ra ngoài tìm bù trừ. Không cảm nhận cộng đoàn là mái ấm, người tu sĩ không thể thi hành sứ mạng của cộng đoàn là làm chứng về niềm hạnh phúc của những người tin và theo Đức Giêsu cách trọn vẹn. Từ đó, cuộc lên đường của họ dễ bị lung lay và bung mất rễ. Nick Stinnet nói: “Khi bạn có một cuộc sống gia đình vững chãi thì bạn biết rằng bạn được yêu thương, chăm sóc và coi trọng. Nguồn nhiên liệu tích cực của sự đón nhận được tình yêu thương và sự tôn trọng sẽ mang lại cho bạn những nguồn nội lực để có thể đối phó với cuộc đời cách thành công hơn.” (Maxwell, sđd, tr.26).

– Trong gia đình này, mọi người yêu thương, tin tưởng lẫn nhau và sẵn sàng cộng tác với nhau, cùng làm việc vì mục đích chung. Sự cộng tác để thi hành sứ vụ hết sức quan trọng. Chúa đặt Aaron như là miệng của Môsê (Xh4,14-16) tức là người cộng tác với Môsê để thi hành sứ mạng khó khăn. Môsê còn bổ nhiệm 70 bô lão và họ trở nên các cộng tác viên hữu hiệu. Phaolô làm việc với nhiều cộng tác viên và đem lại kết quả tốt đẹp trong Giáo Hội sơ khai. Ngày nay, Giáo Hội cũng nói nhiều đến sự cộng tác. Rõ ràng, trong thế giới hôm nay, không thể có ai thành công được khi làm việc một mình.

– Cộng đoàn cần đồng tâm nhất trí để cùng bàn định và tìm hướng đi trong hoàn cảnh thực tế. Hội Thánh tại Côrinhtô gặp đối kháng, chia rẽ; Phaolô kêu gọi họ sống hiệp nhất. Ông nhìn thấy điều tích cực nơi họ (1Cr1,10). Đây là một nét quan trọng cho việc thi hành sứ mạng của cộng đoàn. Nếu có sự chia rẽ trong cộng đoàn thì lời chứng trở thành phản tác dụng, không còn là LBTM nữa, nhưng là phá hoại. Thực tế, có những cộng đoàn không bao giờ có một cuộc bàn định thiêng liêng và tông đồ đúng nghĩa, tức là cùng nhau nghe tiếng Chúa nói với mình, trong tâm hồn từng cá nhân và cả cộng đoàn xét như một thân thể tông đồ, cùng thi hành sứ mạng Chúa trao.

–  Tình bạn trong cộng đoàn là một yếu tố quan trọng để xây dựng ơn gọi và thi hành sứ mạng. Nhờ gặp gỡ trong chiều sâu của tâm hồn, chứ không hời hợt bên ngoài theo kiểu xã giao hay làm ăn buôn bán, anh chị em trong cộng đoàn cùng nhau chia sẻ, đối thoại thiêng liêng và tông đồ với tất cả con tim của những người thuộc về Thiên Chúa. Ta nhớ đến tình bạn giữa Gionathan và Đavít, giữa Gioan thánh giá và Têrêxa Avila, giữa Inhaxiô và Phanxicô Xaviê, v.v. Đó là những tình bạn đem lại hoa trái thiêng liêng và tông đồ rất dồi dào phong phú. 

C. Những khó khăn khi thi hành sứ mạng

– Sợ hãi. Khi vị lãnh đạo cùng cộng đoàn lo sợ rằng mình không đủ khả năng (nhân lực, tài lực, vật lực…) thì sứ mạng không thể được thi hành. Dĩ nhiên, phải cân nhắc thực tế trong sự khôn ngoan nhận định để không liều mạng làm điều vượt sức của mình. Ai cũng nhớ dụ ngôn xây tháp và ông vua đem quân đánh giặc (Lc 14,25-33). Tuy nhiên, nhiều khi nỗi sợ lấn át vì không có niềm tin, như nhiều người Dothái xưa không dám tiến vào Đất Hứa vì sợ những người khổng lồ ở đó dù biết đó là Đất chảy sữa và mật (Ds 13-14). Các môn đệ đã sợ hãi khi đứng trước viễn tượng của thập giá và họ đã bàn lui. Tuy nhiên, với ơn Chúa Thánh Thần, họ đã chiến thắng sợ hãi và trở thành những người can đảm loan báo Tin Mừng.

– Cám dỗ. Khi thi hành sứ mạng, từng cá nhân cũng như cả cộng đoàn phải đối diện với nhiều loại cám dỗ mà họ phải vượt qua.

+ Làm chủ. Đi vào sứ mạng, cộng đoàn quên rằng mình là người lãnh nhận chứ không phải là ban phát, mình cộng tác với Chúa theo lời Người chứ không phải mình là chủ của mùa gặt.

+ Chạy theo công việc.Người thi hành sứ mạng có thể bị cuốn vào kết quả của công việc và quên hết những điều quan trọng khác của đời sống hiến dâng và cộng đoàn. Các tác vụ vốn là điều để thực hiện sứ mạng thì có khi lại trở nên cái lấn át sứ mạng. Bởi đó, trong thời khóa biểu, không còn những khỏang tĩnh lặng cần thiết hay những giây phút thư giãn bên nhau.

+ chuyển đôi mục đích. Khởi đầu thì rất có ý nghĩa thiêng liêng và tông đồ, nhưng sau đó vật chất lên ngôi chúa tể. Nhiều ví dụ: nhà trẻ, dự án giúp người nghèo, thăm viếng tông đồ, v.v.

– Mệt mỏi. Thực tế của việc thi hành sứ mạng tốn hao công sức. Elia đã có lúc nài xin Chúa cho được chết vì quá mệt mỏi với sứ mạng (1V 19,4). Chúa Giêsu có lúc phải ngồi xuống bờ giếng vì đường xa, khát nước. Mệt mỏi có thể khiến ta muốn bỏ cuộc, không tiếp tục thi hành sứ mạng đã được trao phó. Tuy nhiên, sự mệt mỏi có khi đến từ phía những vấn đề mà cộng đoàn hoặc cá nhân tu sĩ gặp trong khi thi hành sứ mạng. Nhiều người mất sức lực vì chuyện tình cảm nảy sinh, vì sự hiểu lầm của người mình cộng tác, sự khó chịu của người mình phục vụ,… và nhiều khi do chính sự lãnh đạo và đời sống của cộng đoàn không nâng đỡ.

–  Căng thẳng. Đời tu căng thẳng vì nhiều lý do. Chẳng hạn khi người tu không chịu bỏ ý riêng khi đi tìm thánh ý Thiên Chúa, khi thi hành sứ mạng Chúa trao… Còn nhiều lý do khác nữa.

Giáo luật (GL), số 608 viết: cộng đoàn tu sĩ phải ở trong một nhà được chính thức thành lập, dưới quyền Bề trên được chỉ định chiếu theo qui tắc của luật,… Thực tế, vì sứ mạng tông đồ, có những anh em phải ở một nơi khác. Vd. Có những tu sĩ âm thầm làm việc trong các làng người dân tộc, trong các khu nhà ổ chuột, trong các bệnh viện, trong các trại tù, trại tị nạn,…

Gl số 629: Bề Trên phải ở tại nhà mình và không được vắng nhà, trừ trường hợp chiếu theo qui tắc của luật riêng. Thực tế, nhiều bề trên phải vắng nhà khá thường xuyên, do các cuộc họp, do thăm viếng, do nghỉ ngơi, do chữa bệnh, do việc tông đồ…

Gl số 630: Các thành viên phải đến với các Bề Trên của mình với lòng tin tưởng, họ có thể tự do và tự ý cởi mở tâm hồn với các ngài. Tuy nhiên, các Bề Trên không được xúi giục họ giãi bày lương tâm bằng bất cứ cách nào. Thực tế, nếu không gợi ý về việc bày tỏ lương tâm thì các thành viên không làm.

– Chia rẽ. Khó khăn này khá phổ biến và nhiều khi khá nghiêm trọng. Giữa lãnh đạo và các thành viên không cùng quan điểm mà ai cũng muốn giữ ý riêng mình, cho mình là hơn. Có khi bề trên ở lì trong bảo thủ, không chấp nhận những ý kiến trái với mình. Không có sự đối thoại đúng nghĩa và vì thế việc thi hành sứ mạng bị miễn cưỡng, không có đồng tâm nhất trí để tìm và thi hành ý Chúa. Thậm chí, có khi bề trên bảo người dưới phải làm những điều trái với đạo đức nữa. Người dưới không chịu nổi thì chiến tranh nổ ra ngay trong lòng và thể hiện trong việc thi hành. Có khi dẫn đến mất cả ơn gọi.

Sự chia rẽ trong cộng đoàn có khi xảy ra do những vấn đề trong tình bạn của đời dâng hiến bị trục trặc, lệch lạc. Các lý do thường thấy là sự chiếm hữu, đồng tính luyến ái, càm ràm và chỉ trích, cổ xúy lối sống tục hóa so với lối sống tu trì đích thực.

– Thất bại. Khi thi hành sứ mạng, cộng đoàn tu sĩ có thể gặp thất bại, giống như Chúa Giêsu và các tông đồ vậy. Đó là chuyện đương nhiên, nhưng nhiều lúc ta khó chấp nhận. Có những lý do gây nên thất bại: hoàn cảnh không thuận lợi, nhân lực không tương xứng, có khi do đường lối, chính sách không phù hợp,v.v. Điều quan trọng là không đổ lỗi cho người khác như chuyện trong St 3,12, vì đổ lỗi thì không bao giờ vượt qua được chính mình. Gặp thất bại, hãy xem xét cách khách quan, suy xét về nguyên do và rút ra bài học từ những sai sót. Khi bị ngã, điều quan trọng là chỗi dậy. Henry Ford nói: “Thất bại là một cơ hội giúp chúng ta bắt đầu lại một cách khôn ngoan hơn” (Maxwell, sđd, tr.72).

– Khủng hoảng. Những khó khăn trên có thể gây nên khủng hoảng. Trong khi thi hành sứ mạng cùng với cộng đoàn, người tu sĩ có thể lâm vào khủng hoảng khi không vượt qua được sợ hãi, cám dỗ, căng thẳng, mệt mỏi, chia rẽ, thất bại. Bế tắc hiện ra. Có khi cả một cộng đoàn thấy mình bị dồn vào thế nguy cơ tan vỡ, không còn lý do để tồn tại vì căn tính và sứ mạng bị lung lay, không vững nữa. Chính khi ấy, sức mạnh của người tông đồ và của cộng đoàn không còn tìm được ở đâu khác ngoài việc khiêm hạ đặt mình dưới chân thập giá và tin tưởng hướng về ánh sáng phục sinh. Cả đời ta là như vậy. 

Kết luận

Tuy khó khăn nhiều, nhưng với niềm tin vào ơn Chúa ban khi kêu gọi và trao sứ mạng, hy vọng mỗi cộng đoàn sẽ can đảm để lên đường thì hành điều Chúa muốn. Chính bản thân cộng đoàn đã là một sứ mạng mà anh/chị em xây dựng. Từ đó, trong tình hiệp nhất và dưới sự lãnh đạo của bề trên theo sứ mạng được trao riêng với tư cách là một cộng đoàn được dâng hiến cho Thiên Chúa, chúng ta sẽ tiếp tục đến với anh chị em ở mọi nơi và tìm mọi cách giúp họ hoặc bắt đầu hoặc đi sâu hơn vào trong tương quan với Thiên Chúa. Phải chăng điều đó làm cho anh chị em chúng ta được hạnh phúc thật và chính chúng ta cũng được hạnh phúc nữa?

Câu hỏi thảo luận:

  1. Cộng đoàn của tôi đang thi hành sứ mạng như thế nào, qua các tác vụ nào?
  2. Có điều gì ngăn trở cho việc thi hành sứ mạng của cộng đoàn tôi không?
  3. Việc cộng tác để thi hành sứ mạng Chúa trao phải được thực hiện thế nào trong cộng đoàn và liên cộng đoàn? 

Lm. Vinh sơn Phạm Đình Khoan, SJ

 

Comments are closed.