Dấn thân – lời mời gọi

0

Mỗi người được tạo nên giống hình ảnh của Thiên Chúa, có lý trí, ý chí và trái tim biết yêu thương. Vì thế, một cách nào đó “Sống với” chính là quy luật khởi đầu trong dự định của Thiên Chúa. “Sống với” đó chính là hệ lụy để mỗi chúng ta trở về gặp lại chính mình. Nhưng sống với ai? Với người quanh tôi, với tha nhân, với người thân cận để khám phá ra mỗi một con người là một huyền nhiệm, chính huyền nhiệm của tha nhân là câu trả lời cho hành trình làm người của chính “bản ngã” tôi. Có như thế, mỗi chúng ta mới trả lời cho câu nói cuả Gabriel Marcel: “Chỉ có dấn thân thật sự khi dấn thân vì tha nhân”. Đó cũng chính là lời mời gọi trong tiến trình thành nhân.

Quả thật, chúng ta có thể tìm lại chính mình trong một cách sống quảng đại, phục vụ và dấn thân. Chính công đồng Vaticano II nhắc nhở chúng ta một điều mà Đức Thánh Cha cũng nhiều lần nhắc lại: “Con người là tạo vật duy nhất được Thiên Chúa dựng nên vì chính họ, nên họ chỉ có thể gặp được chính mình khi thành thật hiến dâng” (MV s: 24). Đó là hành trình đòi hỏi phải tái khám phá liên tục, khám phá ra huyền nhiệm chính mình, huyền nhiệm nơi người khác, cái gì đã và có thể nối kết nhịp tim “sống dấn thân” “sống vì người khác” trong những hoàn cảnh và môi trường khác nhau.

GS 12: “Từ bản tính thâm sâu của mình, con người là một hữu thể có xã hội tính, và nếu không liên lạc với đồng loại, con người không thể sống và phát triển tài năng của mình”. Ngoài ra, trong thông điệp: “Đấng cứu chuộc loài người” số 14 ĐGH Gioan Phaolô II nhắc đến: Nói đến con người là nói đến mỗi người, bởi vì mỗi người đều bao hàm trong chương trình Cứu Độ… là một hữu thể độc nhất (con người có nhân vị riêng), nhưng không vì thế con người đóng khung trong chính mình, nhưng tôi nhập thể là tôi tương quan với người khác, sống là dấn thân, là sống với,… Con người là một thực thể có tính xã hội.

Ngoài ra, con người là thế giới mở, tức dám ra khỏi chính mình. Theo quan điểm của Thánh Tôma, nét đặc thù của con người trong thế giới này là trí hiểu, trì hiểu là khả năng giúp hữu thể con người mở ra đến tất cả những gì có thể hiện hữu. Nhưng trí hiểu con người bị giới hạn, chúng ta mở ra vươn tới mọi điều, nhưng chúng ta lại không biết hết mọi sự. Con người “ở giữa chân trời của hai thế giới”, mở ra với chân trời vô biên của hữu thể, trong khi vẫn sống trong thân xác yếu đuối và giới hạn[1]. Nên mỗi con người phải có những cuộc đăng trình, “phải nhìn nhận người anh em đồng loại không trừ một ai hết, như một cái mình khác của chính mình”[2]. Đây chính là đặc điểm tự nhiên phân biệt con người với các thụ tạo khác trên trần gian[3], nên đời sống xã hội không phải là cái gì nằm ngoài con người mà con người chỉ có thể tăng trưởng và thực hiện ơn gọi của mình khi sống trong mối tương quan với người khác[4].

Chính Martin Buber mời gọi chúng ta đến với một “đời sống đối thoại” và một cộng đồng đối thoại trong đó con người quý trọng nhau, gắn bó, dấn thân và trân trọng tất cả những gì hình thành trên thế giới. Trong tác phẩm “I and Thou” – sống là tương quan, sống là gặp gỡ, ông đã khai hóa hai lối nhìn “quan hệ I – It” và “tương quan I – Thou”. Chỉ khi sống tương quan “I-Thou” gồm: hòa nhập (Inherently involving), hiện diện hết tình (wholehearted Presence), dấn thân vô điều kiện (Intense engagement) con người mới ra khỏi được chính mình, ra khỏi quan hệ “I – It” để nhìn nhận tha nhân như một chủ thể đáng trân trọng.

Như thế, giữa chúng ta “anh” và “tôi”, giữa “tôi” và “tha nhân” có mối tương quan mật thiết với nhau. Sự dấn thân của tôi là một lời đáp ứng lời mời gọi của anh, nói chính xác hơn phải có sự hưởng ứng, sự cộng tác của hai bên. Cả hai phải hoà nhập, hiện diện hết tình và dấn thân vô điều kiện. Đó chính là yếu tố hội đủ cần phải có, vì khi dấn thân mỗi người sẽ mang tất cả lịch sử tính của mình vào trong cách cư xử, nếu không có mẫu số chung chắc chắn dấn thân không trọn vẹn.

Khi hiểu rõ tại sao con người cần móc xích lại gần nhau bởi ý nghĩa làm người rất thâm thuý, con người khác con vật ở chỗ đó: Sự tự do – tôi có quyền dùng tự do của mình để tự dấn thân cho bản thân tôi chứ mắc mớ gì tới người khác. Nhưng có đấy, khi dấn thân cho tha nhân chúng ta mới nhận ra sự tự do thực sự của chính mình. Suy cho cùng, làm người đâu có thể dễ dàng dấn thân nếu không hiểu hết ý nghĩa thâm sâu của việc dấn thân. Thực tế cuộc sống cho thấy, khi người chồng/ vợ dấn thân phục vụ yêu thương nhau – điều đó ai cũng có thể hiểu được, vì họ là “xương bởi xương tôi” “thịt bởi thịt tôi”, cả hai nên một, cho nên việc dấn thân là điều rất bình thường và hiển nhiên. Ngược lại, với người tôi chưa biết, tôi có thể đặt tha nhân hiện diện như ngôi thứ hai (anh/chị) hay không? Đó chính là vấn đề, mối tương quan ngôi vị bao hàm ý nghĩa: sống là sống như một chủ thể đối diện với một chủ thể khác, và khi con người thiết lập được mối tương quan chân chính với người khác thì phải biết khẩn cầu cho nhau như một chủ thể độc đáo không thể thay thế được[5], nên đã bước vào cuộc đời: Sống là chia sẻ. Kinh Thánh gọi kinh nghiệm này là bằng hữu, thông công, hiệp thông. Đó là cùng nhau cảm nghiệm cuộc sống, cùng dấn thân, mở lòng mình cho tha nhân, tự hiến cho tha nhân bao gồm sự gặp gỡ, yêu mến với một tình yêu không vị kỷ: chia sẻ chân thành, phục vụ cách thực tế, trao ban đầy hy sinh, an ủi đầy cảm thông, nghĩa là yêu thương tha nhân, nhìn nhận tha nhân như một chủ thể và bảo đảm sự hiện diện của tha nhân.

Trong sự dấn thân thật sự, con người sẽ gặp gỡ được nhau: gặp gỡ đích thực giữa hai nhân vị, giữa hai chủ thể chứ không phải gặp gỡ giữa chủ thể và đối tượng. Tôi chỉ thực sự gặp gỡ tha nhân khi coi tha nhân như Anh/ Chị, và biết chờ đợi ở tha nhân, truy nhận tầm quan trọng của câu trả lời nơi tha nhân; băn khoăn, áy náy khi chờ đợi, khi hy vọng một ánh sáng nào đó cho câu trả lời. Một sự giao tiếp như thế mới thực sự là một sự gặp gỡ và là điều kiện để có được nhân đạo và mới làm phong phú con người[6]. Hình ảnh Mẹ Têrêsa Calcuta là một minh chứng hùng hồn cho người thời đại hôm nay, Mẹ đã nói một câu thât đáng phải hổ thẹn “Cái xấu lớn nhất trong thế giới ngày nay là thiếu vắng tình yêu, sự thờ ơ khủng khiếp đối với người thân cận”. Sống trong xã hội máy móc, vô tình con người càng ngày càng đánh mất vùng trời “thân thương”. Đó là sự tiếp cận và gặp gỡ, Mẹ Têrêsa như là một dấu chứng hùng hồn của việc dấn thân vì tha nhân, Mẹ đã gặp gỡ, cảm thông, đối xử với từng con người như là một nhân vị độc đáo và như là kiệt tác tình yêu của Thiên Chúa.

Trong sự dấn thân thật sự, con người sẽ cảm nhận được lòng chân thành

Trong sự dấn thân thật sự, con người sẽ cảm nhận được sự tương trợ

Trong sự dấn thân thật sự, con người sẽ cảm nhận được sự cảm thông

Trong sự dấn thân thật sự, con người sẽ cảm nhận được lòng thương xót

Và cuối cùng, trong sự dấn thân thật sự, con người sẽ cảm nhận đươc lòng yêu mến: sự gặp gỡ, sự tương trợ, sự cảm thông, lòng thương xót đều trở nên trọn vẹn trong tình yêu. Thái độ dấn thân ấy đưa đến thái độ truy nhận tầm quan trọng của tha nhân đối với bản thân mình. Thái độ ấy bao gồm sự khẩn cầu đối với tha nhân, và chỉ thái độ khẩn cầu mới đem lại tình yêu chân thực. Theo Gabriel Marcel, đây là cấp độ cao nhất của sự dấn thân nói lên sự lệ thuộc của tôi và lời đáp trả của tha nhân, tức nhận ra sự độc đáo tuyệt đối không thể thay thế được nơi mỗi nhân vị, tha nhân không phải là vật mà tôi có thể chiếm hữu và ngược lại, nhưng đó là sự bổ túc cho nhau “tôi” “anh” = “chúng ta”. Và chúng ta sẽ tìm thấy chân trời rộng mở cho hữu thể của mình.

“Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8b) và Ngài đã mời gọi “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. Ngài mời gọi mở ra trong các mối tương quan “Không sống cho mình nhưng sống cho người khác” để niềm vui của Tin Mừng luôn bừng cháy và tình của nhân loại luôn hợp nhất trong cùng một Cha trên trời.

Sr. Têrêsa Xuân Đào

 

[1] Gilles Bercelle, OP, sự nhận biết Thiên Chúa và ý nghĩa của cuộc đời con người

[2] Gs 27

[3] Tủ sách chuyên đề, toát yếu học thuyết xã hội công giáo, page 134

[4] Thánh bộ Giáo lý đức tin, huấn thị “Liebrtatis Conseientia”32:AAS 79 – 1987

[5] LM. NGUYỄN TRỌNG VIỄN,OP, Những căn bệnh trầm kha trong đời sống đức tin công giáo tại Việt Nam, NXB Phương Đông

[6] Gabriel Marcel

Comments are closed.