Chiêm ngắm Thánh Phaolô Tông Đồ

0

CHIÊM NGẮM THÁNH PHAOLÔ TÔNG ĐỒ   

Nhân ngày mừng kính thánh Phaolô sắp tới, chúng ta muốn dành những phút giây lắng đọng chiêm ngắm Ngài – như Đức Bênêdictô XVI trong buổi cử hành Các Giờ Kinh Phụng vụ, Kinh Chiều I, lễ trọng kính thánh Phêrô và thánh Phaolô Tông đồ, tại Vương Cung Thánh Đường thánh Phaolô ngoại thành, ngày 28.06.2008 đã nói: “Chúng ta họp nhau nhau nơi đây để thắc mắc về vị Tông đồ vĩ đại của các dân tộc. Chúng ta không chỉ tìm xem thánh Phaolô đã từng là ai? Nhưng nhất là Thánh nhân đang nói gì với tôi?”.

1. Thánh Phaolô là ai?

Phaolô có tên Do thái là Saulê, sinh ra tại Tarsô (Cv 22,3) cha mẹ gốc Do thái thuộc chi họ Benjamin (Rm 11,1; Ph 3,5). Bởi đó Ngài nói được cả hai thứ tiếng Hy lạp và Aram (Cv 21,40.26,14) Ngài lên Giêrusalem theo đuổi việc học hành với thầy Gamaliel (Cv 22,3) và trở thành người biệt phái nghiêm nhặt (Cv 23,6. Lc 15,9. Gl 1,13. Ph 3,5). Do đó khi thấy một nhóm tôn giáo mới xuất hiện, Saulê đã nhiệt thành tìm cách ngăn chặn.  Nhiệt tâm ấy đã dẫn tới việc đổ máu Stêphanô (x Cv 9; 1,58). Nhiệt tâm này còn thúc đẩy Ngài đi xa hơn nữa trên đường đi Damas tìm bắt những người tin vào Đức Giêsu, và chính trên con đường này Saulê đã được cải hóa. Chúng ta hãy nghe chính vị tông đồ nói về cuộc trở lại của mình:

  – “Tôi là người Do thái, sinh tại Tarsô, xứ Cilieia, đã được nuôi nấng trong thành này (tức Giêrusalem) đã thụ giáo dưới chân Gamaliel, rập theo khuôn phép nhiệm nhặt của lề luật cha ông, nhiệt tâm thờ phượng Thiên Chúa cũng như các ông hết ngày hôm nay. Tôi đã bắt bớ đạo này, đến chết chóc cũng không từ, tôi đã được các thượng tế cho cầm trát để thông tri cho đồng bào mà lên đường đi Damas, bắt trói những người Kitô hữu ở đó và giải về Giêrusalem để trừng trị. Số là dọc đường khi tới gần Damas, thì vào lối giữa trưa thình lình tự trời, một ánh sáng chói lòa lóe rạng bao phủ lấy tôi, tôi ngã xuống nền đất, và nghe có tiếng nói với tôi:

  – Saulê, Saulê tại sao ngươi bắt bớ ta?

Tôi đáp:

  – Thưa Ngài, Ngài là ai?

Và Ngài nói cùng tôi:

  – Ta là Giêsu Nazareth, ngươi đang bắt bớ!

Những người đi với tôi có thấy ánh sáng, nhưng họ không nghe tiếng Người nói với tôi.

Tôi nói:

  – Lạy Chúa tôi phải làm gì?

Và Chúa nói cùng tôi:

  – “Chỗi dậy mà vào thành. Ở đó người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì”. Bởi tôi không còn thấy được, lòa vì ánh sáng của sự sáng kia, nên tôi đã được các người đi với tôi dắt tay vào Damas.

Lúc bấy giờ có môn đệ tên Kha-na-nia, một người đạo đức chiếu theo lề luật. Và được chứng nhận nơi mọi người Do thái sở tại, ông đến gặp tôi, đặt tay trên tôi  và đứng bên tôi, ông nói:

  – Anh Saulê, Chúa sai tôi đến đây để anh lại thấy được, và để anh được đầy Thánh Thần. Và ngay giờ ấy, có cái gì như cái vảy bong ra khỏi mắt tôi và tôi đã được thấy lại.

Ông lại nói:

  – Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã tiền định cho anh được biết thánh ý Ngài, được thấy đấng công chính và nghe tiếng phát xuất tự miệng Ngài, vì anh sẽ là chứng tá cho Ngài trước mặt mọi người về điều anh đã thấy đã nghe. Và bây giờ sao còn chần chừ gì nữa? Hãy chỗi dậy chịu Phép rửa cho sạch các tội của anh, miệng kêu khấn danh Ngài. Thế là tôi được khỏe lại (x Cv 9, 1-19)

Những tường thuật này cho thấy kinh nghiệm trên đường Đa-mat không chỉ nơi cuộc trở lại của Phaolô mà còn ấn định những tư chất cá nhân trong đức tin và Tin Mừng của vị tông đồ (x Cv 22,3; Pl 3,5-6), “Thánh Gioan Kim khẩu ca tụng thánh Phaolô như một con người trổi vượt hơn nhiều thiên thần và tổng lãnh thiên thần”.  Ngài thực là một con người độc đáo – hay nói đúng hơn ngài là một con người siêu việt – siêu việt tuyệt vời.

Sử gia Công giáo Pháp thời danh Henri Daniel-Rops đã tóm tắt đặc sủng của Thánh Phaolô cách này: “Thánh nhân gần gũi với chúng ta làm sao, con người mà ánh sáng của Thiên Chúa quật ngã trên đường Đa-mat này đã chịu thua, nhưng chính nhờ chịu thua, bị đè bẹp bởi một sự thúc đẩy mạnh mẽ của ân sủng – bởi vì, rốt cuộc, chính chúng ta cũng đang bước đi trên đường Đa-mat hôm nay! Sau Chúa Giêsu, Thánh Phaolô là một nhân vật sống động và đầy đủ nhất trong tất cả các gương mặt của Tân Ước, một con người mà người ta có thể hình dung ra diện mạo cách rõ ràng nhất… ”.

2. Sự siêu việt của thánh Phaolô:

Siêu việt vì dẫu tự hào về dòng dõi và việc sống theo luật Môsê đến độ không ai có thể chê trách bất cứ điều gì (x Pl 3,5-6); Nhưng khi được gặp gỡ Đấng Phục Sinh trên đường Damas lịch sử, ngài đã khiêm tốn không dám giơ chân đạp mũi nhọn – nhưng chấp nhận để được Đức Giêsu Phục Sinh biến đổi một cách triệt để (x Cv 9,1-15; Pl 3,7-8).

Siêu việt vì ngài đã can đảm thú nhận cách chân thành về lòng hăng say bắt bớ và muốn tiêu diệt Hội Thánh của Thiên Chúa. Hơn ai hết, Ngài là người nhiệt thành đến cuồng tín với các truyền thống của cha ông. (x Gl 1,13-14).

Siêu việt vì ngài đã được Chúa tuyển chọn trở thành lợi khí của Chúa và được dành riêng để mang danh Chúa đến trước mặt các dân ngoại, các vua chúa và con cái Ít-ra-en. (x Cv 9,15; 13,2)

Siêu việt vì Tin Mừng ngài loan báo không phải là do loài người. Vì không có ai trong loài người đã truyền lại hay dạy cho ngài Tin Mừng ấy, nhưng là chính Đức Giê-su Ki-tô đã mặc khải. (Gl 1,11-12)

Siêu việt vì ngài là một nhà truyền giáo không biết mỏi mệt, đã lên đường với 3 cuộc hành trình tính theo đường bộ và đường thủy, cũng phải hơn 9000 cây số (lần 1: 1392 km; lần 2: 5200 km; lần 3 2640km) – mà cách đây 2000 năm, phương tiện giao thông không như ngày nay.

Siêu việt vì ngài là vị Tông đồ độc nhất vô nhị được đưa lên tầng trời thứ ba, được nhắc lên tận thiên đàng – và đã được nghe những lời khôn tả mà loài người không được phép nói lại. (x 2 Cr 12,3-4)

Siêu việt vì ngài đã được Chúa cho làm nhiều phép lạ phi thường, đến nỗi người ta lấy cả khăn cả áo đã chạm đến da thịt ngài mà đặt trên người bệnh, và bệnh tật liền biến đi, tà thần cũng phải xuất – và ngài còn làm cho người chết sống lại (x Cv 19,11-12; 28,9; 20,10-12).

Siêu việt vì ngài có những thách đố lạ kỳ: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? …Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta” (Rm 8,35-39).

Siêu việt vì tình yêu dào dạt đối với các giáo đoàn mà ngài đã thiết lập: “Tôi mang anh em trong lòng tôi. Khi tôi bị xiềng xích, cũng như lúc tôi bênh vực và củng cố Tin Mừng, anh em đều thông phần vào ân sủng tôi đã nhận được. Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi: tôi hết lòng yêu quý anh em tất cả, với tình thương của Đức Ki-tô Giê-su. (Pl 1,7-8). Với giáo đoàn Tê-xa-lô-ni-ca, thánh nhân như người mẹ dịu hiền hết lòng vì con cái: “Khi ở giữa anh em, chúng tôi đã cư xử thật dịu dàng, chẳng khác nào mẹ hiền ấp ủ con thơ. Chúng tôi đã quý mến anh em, đến nỗi sẵn sàng hiến cho anh em, không những Tin Mừng của Thiên Chúa, mà cả mạng sống của chúng tôi nữa, vì anh em đã trở nên những người thân yêu của chúng tôi. (1 Tx 2,7-8). Với giáo đoàn Cô-rin-tô, ngài khéo léo trách cứ và ủi an: “Đây tôi sẵn sàng đến thăm anh em lần thứ ba. Tôi cũng sẽ không phiền luỵ anh em đâu, bởi vì điều tôi tìm kiếm không phải là của cải của anh em, mà là chính anh em. Thật vậy, không phải con cái có nhiệm vụ thu tích của cải cho cha mẹ, mà là cha mẹ phải thu tích của cải cho con cái. Phần tôi, tôi rất vui lòng tiêu phí tiền của, và tiêu phí cả sức lực lẫn con người của tôi vì linh hồn anh em. Phải chăng vì yêu mến anh em nhiều hơn mà tôi được yêu mến ít hơn?”. (2 Cr 12,14-15)…

Siêu việt vì trong việc hướng dẫn các giáo đòan, thánh Phaolô đã gặp biết bao khổ đau sầu buồn ray rứt, nhưng Ngài vẫn thẳng thắn khẳng định vai trò của mình. Ngài coi mình là người ruột thịt của các tín hữu, là người cha duy nhất:: “Tôi viết những lời đó không phải để làm anh em xấu hổ, nhưng là để sửa dạy anh em như những người con yêu quý của tôi. Thật thế, cho dầu anh em có ngàn vạn giám thị trong Đức Ki-tô, anh em cũng không có nhiều cha đâu, bởi vì trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em.”. (1 Cr 4,14-15)

Siêu việt vì những gian nan cơ cực ngài phải chịu mà không nản chí vì lòng yêu mến các linh hồn: “Năm lần bị người Do-thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi! Ngài vượt trổi hơn tất cả các tông đồ vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em; phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng.” (2 Cr 11,24-27)

Siêu việt vì ngài có một tình yêu “như Thầy đã yêu”, nên đã dệt nên “bài ca đức ái” hoàn hảo  để giúp chúng ta biết sống yêu thương trong cuộc sống thường ngày với nhiều tranh chấp, kỳ thị (x 1 Cr 13).

Siêu việt vì định nghĩa thời danh của thánh nhân về Hội Thánh là “thân thể nhiệm mầu của Đức Kitô” mà chúng ta không gặp thấy trong các tác giả Kitô giáo khác của thế kỷ thứ nhất (x 1 Cr 12,27; Ep 4,12; Cl 1,24; 1 Cr 10,17).

Siêu việt vì dưới mái trường của ngài, giáo lý Hội Thánh đã khai sáng cho Kitô hữu tiến bước giữa niềm hy vọng trong hành trình tiến về vĩnh cửu. Ngài giúp chúng ta hiểu giá trị tuyệt đối và bất khả thay thế của đức tin (x Rm 3, 28; 2,16), về ân sủng của Thiên Chúa và về sự công chính hóa (x Rm 3,24) và còn nhiều vấn đề khác nữa…

Siêu việt vì Chúa đã làm cho ngài trở thành chứng từ hùng hồn giữa muôn dân (x Cv 18, 9-10) và đổ máu đào dưới đời Hoàng đế Nêrô tại Roma (x Cv 23, 11).

Chúng ta có thể mượn lời Dẫn nhập các thư thánh Phaolô do nhóm phiên dịch các GKPV, để tóm tắt về sự siêu việt của thánh nhân: “Thánh Phaolô không phải chỉ là một tác giả, mà còn là một con người nổi bật về mọi mặt. Ngài vừa là nhà thần bí vừa là người hoạt động, là nhà thần học lại là nhà truyền giáo, là nhà sáng lập kiêm người tổ chc, vừa là người khai hoang, vừa là người vun trồng, là giáo ý viên kiêm linh hướng, có tài tranh luận cũng như hùng biện. Ngài quả là một thiên tài đã được Đức Kitô chinh phục và biến thành “lợi khí chọn lọc để mang danh Chúa đến trước mặt các dân ngoại, các vua chúa và con cái Ít-ra-en.” (Cv 9,15).

3. Thánh Phaolô nói gì với chúng ta:

Cuộc đời và kinh nghiệm sống của Thánh Phaolô chính là cuộc đời của một con người chỉ sống “nhờ Đức Kitô”, “với Đức Kitô” và “trong Đức Kitô”. Ngài say mến Đức Giêsu Kitô đến nỗi danh hiệu “Giêsu Kitô” không ngớt trên môi miệng và dưới ngòi bút của Ngài. Thánh nhân đã thực sự “trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” để trở nên “mọi sự cho mọi người” (Pl 3,10; 1 Cr 9, 22).

Là Kitô hữu, chúng ta được mời gọi họa lại nếp sống của Đức Giêsu tùy theo ơn gọi đặc thù của mình. Và lời mời gọi thiết thực chính là chúng ta luôn nỗ lực học hỏi giáo huấn của thánh Phaolô,  không phải để có một mớ kiến thức, nhưng để được Đấng Phục sinh biến đổi giống như ngài, trong cách suy tưởng, hành động và yêu mến Đức Kitô Giêsu. Đó chính là bài học rất quan trọng mà Đức Bênêdictô XVI đã nhắn nhủ chúng ta khi chiêm ngắm gương sống của thánh Phaolô: “Điều đáng kể nhất, đó là đặt Đức Kitô làm trung tâm đời sống, để căn tính chúng ta được ghi đặm nét nhờ cuộc cuộc gặp gỡ với Đức Kitô, nhờ sự hiệp thông với Người và với Lời của Người”.

Vâng, chỉ khi nào chúng ta biết dành ưu tiên cho Chúa, biết ở lại với Chúa, biết để cho Lời Chúa vang vọng trong lòng và in sâu vào trung tâm cuộc sống, chúng ta mới có thể trở thành chứng nhân sống động của Đức Kitô Phục sinh. Muốn thế, Thánh Phaolô nói với chúng ta: “Vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12,1).

Thánh nhân cũng muốn chúng ta giải tỏa những tà thần đang chất chứa trong cuộc sống đã làm hoen ố đền thờ tâm hồn đã được thánh hiến cho Thiên Chúa. Ngài muốn chúng ta dứt khoát trong chọn lựa như ngài: “Ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giê-su Ki-tô, mà là Đức Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh vào thập giá” (1Cr 2,2)

Trên đường tông đồ, thánh Phaolô đã để lại cho chúng ta bài học can đảm kiên trì đương đầu với thử thách trong hành trình sứ vụ vì lòng yêu mến Đức Kitô mà không thất vọng, như chúng ta đã cảm nhận khi đọc các thư của ngài cũng như trong sách Công Vụ. Thánh nhân là một con người đầy nhiệt huyết, hết lòng xả thân cho lý tưởng mà không hề tính toán. Thánh nhân cũng ân cần nói với chúng ta hãy ý thức khi thi hành sứ vụ, không phải để làm vừa lòng người phàm, mà để làm đẹp lòng Thiên Chúa, Đấng thử luyện tâm hồn chúng ta. (x Th 2,4). Với Thánh Phaolô, mọi gian khổ đều quý giá, vì làm cho ngài được thông phần vào cuộc Thương Khó và vác thập giá của Thầy mình (2 Cr 4,10…; Pl3,10…). Chính vì thế thánh nhân khuyên chúng ta “hãy chung phần cam khổ vì Tin Mừng” (2 Tm 1,8). 

Nhìn lại cuộc sống, từ kinh nghiệm bản thân, lời khuyên này có lẽ không mấy giản đơn đối với bản thân chúng ta cũng như nhiều người, vì con người đâu dễ chấp nhận sự khôn ngoan của Thập giá! Nhưng chúng ta khiêm tốn tin tưởng vào sức mạnh và quyền năng của Đấng đã biến đổi Thánh Phaolô, miễn là chúng ta chấp nhận xóa mình đi để được Chúa biến đổi trong con đường thập giá của Người. Vì thế, giữa dòng đời sôi động hối hả ồn ào của tiếng động, chúng ta tin rằng, từ tâm linh sâu thẳm của những con người say mến thánh Phaolô, hẳn sẽ dội vang lên điều mà Thánh Phaolô muốn nói… Chúng ta chỉ cần giữ tâm hồn thinh lặng và thực sự muốn lắng nghe lời ngài. Ngài sẽ dạy chúng ta cách truyền giảng Tin Mừng mà ngài đã thực hiện:

  • VIẾT về Chúa Kitô cho người ta ĐỌC
  • GIẢNG về Chúa Kitô cho người ta NGHE
  • SỐNG như Chúa Kitô cho người ta NHÌN

Và thánh nhân sẽ hướng dẫn chúng ta qua phương pháp mà ai cũng có thể thực hiện, để giúp mọi người đón nhận Tin Mừng:

  • ĐỌC TIN MỪNG thế nào cho đúng 

để viết đúng Tin Mừng cho người ta đọc.

  • NGHE TIN MỪNG thế nào cho đúng

để nói đúng Tin Mừng cho người ta nghe.

  • SỐNG TIN MỪNG thế nào cho đúng

để trở thành nhân chứng cho người ta nhìn.

4. KẾT:

Gương sáng của thánh Phaolô thích hợp với thời đại của chúng ta biết bao!  “Chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì Người đã gọi thánh Phaolô, làm cho thánh nhân thành ánh sáng các dân và thầy của tất cả chúng ta”. Nơi ngài đã ứng nghiệm lời sách Khôn ngoan: “Tôi đã không cất giấu sự khôn ngoan, nhưng đem chia sẻ cho người khác. Ai sống khôn ngoan thì được rèn luyện nên con người tài đức. Họ đẹp lòng Thiên Chúa và trở thành bạn hữu của mọi người” (Kn 7,13-14) (ĐGH Benedicto XVI)

Với niềm hân hoan cảm mến, chúng ta vui bước vào dưới mái trường thánh Phaolô, để ngài dạy chúng ta về Chúa Kitô, Đấng là con đường, là sự thật và là sự sống (Ga 14,6).

Thánh Phaolô ý thức được sự yếu đuối của mình, sự giới hạn của trí khôn và cá tính của mình, cuộc vật lộn không tên với “cái gai đâm vào thịt ngài” (2 Cr 12,7). Nhưng ý thức khiêm nhường này về những yếu đuối của ngài làm cho ngài thêm tín thác vào Đức Kitô: “Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng làm cho tôi được mạnh mẽ” (Pl 4,13). Sự hiểu biết của ngài về những yếu đuối của mình làm cho ngài mở lòng ra để đón nhận sự hiện diện và quyền năng của Đức Kitô trong ngài.

Ước gì mỗi người chúng ta, dù trong lứa tuổi nào, hoàn cảnh nào, đều khiêm nhường nhận ra những giới hạn của mình mà hết lòng gắn bó, tín thác vào Chúa, luôn biết làm mới lại tương quan mật thiết với Chúa Kitô, để chúng ta có được phần nào tâm tình của thánh Phaolô:“Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?… trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta..  Vì đối với tôi, sống là Đức Giêsu Kitô” (Rm. 8:35.39; Gl 2,20).

Lạy Thánh Phaolô Tông đồ, ngài tỏa sáng như một vì sao rực rỡ nhất trong lịch sử của Hội Thánh, xin thương nhìn đến sinh hoạt của Hội Thánh Chúa, nhất là tại các mơi trường giáo dục đức tin hay những miền truyền giáo. Xin cho chúng con biết theo gương đời sống của ngài để sống ơn gọi Chúa ban cách quảng đại và chân thành.

Nữ tu Têrêsa Nguyễn Thị Phượng

Comments are closed.