Cầu Nguyện – Phương Thế Hiệp Thông

0

Trong thế giới văn minh ngày nay, con người có biết bao phương tiện để thể hiện tính hiệp thông với nhau như: nói chuyện, gọi điện thoại, viết thư, truyền thanh, truyền hình, đặc biệt hệ thống nối mạng internet… Luôn luôn, không ngừng, con người gởi đi và tiếp nhận những thông điệp. Giữa cuộc sống nhộn nhịp và quá bận rộn ấy, Thiên Chúa cũng dùng nhiều cách để tỏ cho chúng ta biết Thiên Chúa là Ai? Và khuyên dạy chúng ta sống cuộc sống đích thực của người Kitô hữu như thế nào? Đó là lý do Thiên Chúa luôn gởi đến con người những thông điệp tình yêu và sự quan tâm chăm sóc của Ngài đối với chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, đồng thời, chúng ta cũng muốn gởi tới Thiên Chúa những tâm tình, thao thức, ước nguyện của chúng ta.

Nhưng Thiên Chúa đã cho chúng ta phương tiện nào để thể hiện sự tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa, và giữa chúng ta với nhau?

Công đồng Vatican II đã nói: “Với tình thương chan chứa của Ngài, Thiên Chúa vô hình (x. Cl 1,15; 1Tm 1,17), ngỏ lời với loài người như với bạn hữu (x. Xh 33,11; Ga 15,14-15), Ngài đối thoại với họ (x. Br 3,38), để mời gọi và đón nhận họ hiệp nhất với Ngài” (MK. Số 2). Chính nhờ sự hiện diện của Thần Khí trong tâm hồn, con người được đối thoại với Thiên Chúa, được chia sẻ đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi (x. Th. về Chúa Thánh Thần số 34). Đời sống yêu thương đó thể hiện cách sống động, cụ thể và cao điểm qua giây phút cầu nguyện. Chính trong giây phút cầu nguyện, Thiên Chúa trang bị cho con người một quà tặng tốt đẹp để sống sự hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa, đồng thời làm triển nở sự hiệp thông đó trong Hội Thánh là Thân mình Đức Kitô và cụ thể nơi từng con người trong cuộc sống và sứ mạng.

1. Hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa

Chúng ta thường nghe nói, việc cầu nguyện trong đời sống con người cần thiết như hơi thở. Với đời sống tự nhiên, con người có thể tạm nhịn ăn, nhịn uống, nhưng không thể nhịn thở. Cũng vậy, trong đời sống thiêng liêng, một Tôn giáo muốn cho Tín hữu của mình giữ vững niềm tin hoặc để niềm tin nảy nở, vững vàng, không thể không củng cố đời sống cầu nguyện. Vậy cầu nguyện phải chăng là vấn đề sinh tử, vấn đề sống còn của một Tôn giáo?

Nếu theo cảm nghiệm của Thánh Têrêsa Avila: “Cầu nguyện là cuộc tiếp xúc thân mật với Thiên Chúa, trong đó linh hồn được đối thoại song phương với Người”. Hoặc như Thánh Âu Tinh: “Cầu nguyện là linh hồn chuyện vãn với Thiên Chúa”, thì quả cầu nguyện là mối quan hệ liên bản vị, vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính tập thể, đó là cuộc gặp gỡ thân mật, sống động giữa Thiên Chúa và con người, là kết quả của một quá trình gặp gỡ từng bước lớn dần, đòi sự hiện diện, ý thức và tình yêu mến thiết tha, bằng cả con người là tâm tư, lời nói, cử chỉ, điều mà Kinh Thánh nhấn mạnh đến – đó là tấm lòng (x. Hs 2,16), nơi sâu kín nhất của con người, nơi của sự thật phát sinh quyết định gặp gỡ Đấng luôn hiện diện và niềm nở đón tiếp chúng ta, còn chúng ta phải mở lòng đón nhận Ngài, để nhờ cầu nguyện giúp chúng ta đi sâu vào tương quan giao ước yêu thương với Thiên Chúa Cha, nhờ sự hiệp thông với Đức Kitô và trong sức đẩy của Chúa Thánh Thần.

a. Hiệp thông với Chúa Cha

Thật vậy, Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa hiệp thông. Khi tạo dựng con người trong cõi nhân sinh, Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Ê – đen, đặt vào một thế giới hài hòa hạnh phúc tinh tuyền có sự hiệp thông. Ở đó, con người có thể gặp gỡ trong yêu thương, không chỉ con người với con người, nhưng còn với Thiên Chúa, Đấng thường đến đó tản bộ, chuyện vãn với con người trong cơn gió chiều sau một ngày lao động (x. St 3,8). Thiên Chúa đã cho con người được đối thoại và có khả năng tương giao với Ngài. Ngài đặt nơi đáy lòng mỗi người nỗi khát vọng Đấng đã gọi con người từ hư vô đi vào hiện hữu. Ước muốn thâm sâu đó được diễn tả trong suốt cuộc đời của Thánh Âu Tinh: “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng chúng con cho Chúa, vì thế tâm hồn con khắc khoải cho đến khi an nghỉ trong Chúa” (Tự thú I, 1).

Điều đó có nghĩa, ngay từ ban đầu con người đã có một tương quan cá vị với Thiên Chúa như một chủ thể với chủ thể. Tương quan đó được Đức Kitô giới thiệu qua cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Ngài với phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp (x. Ga 4, 6-42), một hình ảnh tuyệt vời cho đời sống cầu nguyện của mỗi người chúng ta. Quả thật, Tin Mừng Thánh Gioan cho thấy, nếu khát vọng “sống cho có ý nghĩa”, thúc đẩy con người ra đi tìm kiếm Đấng tuyệt đối qua sự gặp gỡ cá vị, thì lạ lùng hơn, chính Đấng tuyệt đối đích thân tìm đến gặp gỡ, ngỏ lời với con người trước: “Chị cho tôi xin chút nước uống” (Ga 4,7). Thiên Chúa ngồi đợi tâm hồn này ngay giữa công việc thường ngày của chị. Ngài nhập đề bằng chính cuộc sống, mượn cớ xin nước uống để nói về tình thương của Thiên Chúa là nguồn nước hằng sống, từ đó Ngài khơi dậy nơi lòng chị nỗi khát khao sâu thẳm, và giúp chị khám phá ra Ngài là Đấng duy nhất có thể lấp đầy nỗi khát khao đó: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: “Cho tôi chút nước uống”, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị nước hằng sống” (x Ga 4,10). Nghe Chúa nói, chị muốn được Chúa giúp để khỏi vất vả gánh nước mỗi ngày (x. Ga 4,15), nhưng Thiên Chúa lại muốn giải cứu chị khỏi nô lệ vào những nhu cầu vật chất, và đòi chị phải đối diện với sự thật bất ổn của chính mình (x Ga 4, 16-18), Ngài đã kiên nhẫn, quảng đại giúp chị từng bước khám phá ra Con Người đang đến trong cuộc đời chị là Ai (x. Ga 4,25). Vì qua cuộc đối thoại tế nhị đó, chị lại thấy một nỗi khát lạ kỳ, chị kiên trì đối thoại, dẫu cho chị liên tục thắc mắc về những lời Chúa nói; để rồi chị tìm được nước hằng sống đích thực thay đổi cuộc đời chị, khi chị nhận ra Người chính là Đấng Kitô, Đấng cứu chuộc. Ngay lúc đó, chị đã trở nên môn đệ Đức Kitô, làm chứng về Người đầy sống động và hữu hiệu. Còn Đức Kitô không thấy đói khát nữa khi thân hữu của Ngài đem thức ăn về, đồng thời, qua Ngài, dân chúng trong làng cũng đã khám phá ra một nguồn mạch chưa ai biết, một mạch nước hằng sống vô hình và xin Ngài ở lại với họ. Sau này Thánh Phaolô nói rằng: “Tình yêu Thiên Chúa đã được đổ xuống con tim chúng ta” (x. Rm 5,5).

Như thế, chính Thiên Chúa đã đi bước trước, cầu nguyện trở thành quà tặng của Thiên Chúa, trở thành nơi gặp gỡ chan hòa giữa nỗi khát khao của Thiên Chúa và nỗi khát vọng của con người, cầu nguyện trở thành lời đáp trả đức tin và tình yêu con người, trước lời hứa cứu độ của Thiên Chúa. Cảm nghiệm điều đó, mục sư Soren Kierkegaard, ông tổ ngành triết học hiện sinh đã thốt lên: “Nếu không thở bạn sẽ chết, nhưng nếu không cầu nguyện, cuộc sống bạn chỉ trống rỗng, vật vờ như cái xác không hồn”. Đó cũng là thao thức của Tagore: “Tôi sống trong hy vọng gặp mặt Người mà vẫn còn chưa tới, cuộc gặp gỡ chờ mong…”. Không riêng Soren Kierkegaard, không riêng Tagore, trước và sau các ông đã có biết bao người sống điều đó: Tất cả những khuôn mặt lớn trong Cựu ước như Abraham, Môsê, Đavít, các Ngôn sứ, đặc biệt nơi Đức Maria, một nhịp cầu nối kết giữa Cựu ước và Tân ước, nối kết giữa Thiên Chúa và con người qua đời sống hiệp thông, và rồi, cuộc sống đó được nối dài nơi các Tông đồ, các vị Thánh trong Hội Thánh, mỗi người một cách, phản ảnh khuôn mặt cầu nguyện hoàn hảo nhất là Đức Kitô, Người con của Thiên Chúa đã làm người để dẫn đưa chúng ta vào cuộc sống hiệp thông với Thiên Chúa Cha.

b. Hiệp thông với Đức Kitô

Giáo lý Công giáo định nghĩa sự cầu nguyện và cũng là cách giải thích: “Cầu nguyện Kitô giáo là mối tương quan giao ước giữa Thiên Chúa và con người trong Đức Kitô” (số 2564). Mối tương quan đó làm tăng mức độ sống trong chúng ta hằng ngày.

Bởi vì qua Đức Kitô – Ngôi Lời Nhập thể, Thiên Chúa thân hành đến với con người để trở thành sứ điệp, bày tỏ cho con người biết Thiên Chúa là Ai, con người là gì? Cũng chính nơi Đức Kitô, con người được mời gọi sống hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa trong tình Cha – con. Vì Ngài đã đảm nhận tất cả vận mệnh của nhân loại trong bản thân, trong lời cầu nguyện của Ngài (x. MV. Số 24), trong sự hiệp thông với Đức Kitô, Ngài dạy chúng ta biết nền tảng của đời sống cầu nguyện là sự liên lạc mật thiết giữa con người với Thiên Chúa là Cha, và Ngài ở trong chúng ta, nghe chúng ta cầu nguyện và đáp lại lời khấn nguyện của chúng ta, một khi chúng ta biết lắng nghe và giữ Lời Ngài (x. Mc 1, 40-41; 5,8.36; 7,28-29). Đó cũng là chứng từ của Thánh Tôma Aquinô Tiến sĩ và Thánh J. M. Vianney cha sở họ Ars: “Trong đời sống cầu nguyện, tôi đã học nhiều nhất nơi Đức Kitô, nơi đó thể hiện tình yêu và mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người”.

Người phụ nữ Samari đã gặp Chúa, đã đơn sơ trò chuyện với Chúa, để rồi nhận ra Chúa và được Chúa biến đổi. Chúa không đến mời gọi ta cách ồ ạt, Người đặt câu hỏi, Người cứ rề rà kéo dài cuộc trò chuyện, Người buộc ta phải tìm câu trả lời, vấn đề là ta có chịu dành thời gian cho Người và với Người hay không?

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Kitô và người phụ nữ Samari trong Tin Mừng Thánh Gioan là một ví dụ điển hình về việc Thiên Chúa đã đi bước trước để đến với con người và vấn đề là thái độ chúng ta đáp lại mời gọi của Người như thế nào. Thử đặt mình vào hình ảnh người phụ nữ, thử tưởng tượng về cách ta ứng xử khi ấy, ta mới thấy được mỗi ngày chính chúng ta cũng đang bắt gặp những hoàn cảnh như vậy và ta mới thấy, ta cần phải học hỏi người phụ nữ này như thế nào để trở về với Thiên Chúa.

Vậy, nơi Đức Kitô, chúng ta nhận ra chiều sâu của tinh thần cầu nguyện Kitô giáo là sự hiệp thông với Chúa Cha, nhờ Đức Kitô và trong tác động của Chúa Thánh Thần.

c. Hiệp thông với Chúa Thánh Thần

Chính Chúa Thánh Thần trở thành nguồn mạch vọt lên sự sống mới trong đời sống cầu nguyện (x. Ga 4, 14; 7, 38-39). Ngài khơi dậy trong chúng ta tâm tình cầu nguyện, nối kết lời cầu nguyện của chúng ta với lời cầu nguyện của Đức Kitô như con thảo. Ngài thể hiện tình yêu Thiên Chúa trong chúng ta, cho ta trở thành nghĩa tử (x. Rm 8, 15-16), hướng dẫn chúng ta sống trọn vẹn sự tự do đích thực của con cái Thiên Chúa ((x. 2 Cr 2,17), sự tự do đó là khả năng yêu mến Thiên Chúa, khả năng hiệp thông với “Chúa Thánh Thần Nghĩa tử” (x. LG. Số 4).

“Thánh Thần Nghĩa tử” cũng chính là “Thánh Thần Mẫu tử” – Với vai trò của người mẹ dạy con nhận ra tình yêu của Cha, thì trong cầu nguyện, Chúa Thánh Thần cũng gợi trong lòng chúng ta những tiếng bập bẹ để chúng ta kêu lên: “Cha ơi”, mặt khác, Ngài cũng tỏ mình trên hết và trước hết như một ân huệ giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn. Đó là tư tưởng tuyệt diệu được Thánh Phaolô diễn tả trong thư gởi Tín hữu Rôma (x. Rm 8,26). Cùng với Thánh Phaolô, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng đã cảm nghiệm thực tại đó trong đời sống nội tâm sâu xa và nhắc lại trong Thông điệp về Chúa Thánh Thần (số 65): “Thật là tốt đẹp và lợi ích khi nhận ra rằng, trong quá khứ, hiện tại và tương lai, nơi nào có con người cầu nguyện, nơi đó có Chúa Thánh Thần hiện diện, vì Ngài là sinh khí, thổi hơi cầu nguyện vào lòng con người trong biết bao hoàn cảnh khác nhau, với những điều kiện thuận lợi hay bất lợi cho đời sống thiêng liêng và tôn giáo…Cầu nguyện cũng tỏ cho thấy chiều sâu thẳm của lòng người, một vực thẳm xuất phát từ Thiên Chúa và chỉ có Thiên Chúa mới lấp đầy nhờ chính Chúa Thánh Thần”. Chính Chúa Thánh Thần biến đổi chúng ta, làm cho lời cầu nguyện của chúng ta trở thành lời diễn tả sự tương quan với Thiên Chúa – mỗi ngày sâu xa hơn của con người mới trong tình yêu Thiên Chúa, đã được tham dự vào đời sống của Thiên Chúa, và là đền thờ sống động của Thiên Chúa Ba Ngôi (x. Rm 8,9; 1Cr 6,19; Ga 14, 23). Vậy, nếu nơi Đức Kitô, con người được mời gọi đến sống hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa trong tình Cha con, thì Chúa Thánh Thần là Đấng Thiên Chúa ban đến, giúp con người tin và dấn thân đáp lại lời mời gọi, để mỗi ngày đi sâu vào sự gặp gỡ, hiệp thông với Thiên Chúa (x. Ep 2,18), và triển nở trong Hội thánh là thân mình Đức Kitô, vì nhờ Bí tích Rửa tội chúng ta đã trở nên một hữu thể với Đức Kitô (x. Gl 3, 27-28; Rm 6,5).

2. Hiệp thông với Hội Thánh

Chính nơi Hội thánh, Thiên Chúa cho chúng ta hiệp thông với Đức Kitô, được nhận lãnh Chúa Thánh Thần, Đấng bảo đảm cho chúng ta sự sống đời đời, củng cố đức tin và làm chiếc thang đưa chúng ta lên tới Thiên Chúa… Vì thế, với lời nguyện hiến tế của Đức Kitô trước khi đi vào cuộc khổ nạn: “Để tất cả nên một, như, lạy Cha, Cha ở trong Con và Con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17,21). Phải chăng Ngài ao ước có sự tương tự nào đó giữa sự kết hiệp của Ba Ngôi Thiên Chúa với sự kết hiệp của con cái Ngài trong chân lý và đức ái ? Thật vậy, “Hội thánh ở trong Đức Kitô như Bí tích hoặc dấu chỉ, là khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại” (GH. Số 1). Do đó, mỗi khi chúng ta cầu nguyện chung hay riêng, chúng ta được hiệp thông với Mẹ Hội thánh, là thân mình nối dài sứ mạng cứu rỗi của Đức Kitô ở trần gian. Vì vậy, cùng với Hội thánh, trong lòng Hội thánh, lời cầu nguyện của chúng ta luôn hướng về nội giới, trong chiều sâu thăm thẳm của tình yêu Chúa Thánh Thần và trong sự hiệp thông giữa anh chị em ở dưới đất, trên trời cũng như anh chị em đã hoàn tất cuộc sống này và đang được thanh luyện, là tất cả anh chị em đã được Đức Kitô liên kết làm một với Ngài. Ý thức rõ về mối hiệp thông siêu việt này, Thánh Phaolô đã cầu nguyện cho anh em hết thảy (x. Pl 1,3) và xin cộng đoàn Êphêsô cầu nguyện cho toàn thể các Thánh cũng như cho Ngài (xEp 6,18-19).

a. Hiệp thông với anh chị em tại trần thế

Kinh Thánh cho chúng ta thấy, biết bao nhiêu lời cầu nguyện trong lòng Hội thánh sơ khai, ngày nay được thể hiện cách hiệp nhất qua các Phụng vụ, Bí tích, Kinh thần vụ của Hội thánh, trong các Dòng tu, nơi các chứng nhân và toàn thể Kitô hữu. Sách Tân ước đã gọi những buổi cầu nguyện của Hội thánh là cộng đoàn hiệp thông được Đức Kitô quy tụ (x. Mt 18,20). Tác giả sách Tông đồ Công vụ còn trình bày sự khai sinh của Hội thánh trong khung cảnh của buổi cầu nguyện (x. Cv 1,14;2,46;4,24). Phải chăng Thánh Luca muốn vạch ra một lý tưởng cho cộng đoàn cầu nguyện trong Hội thánh sơ khai, đó là sự hiệp thông.

b. Hiệp thông với anh chị em trên Thiên Quốc

Khi cầu nguyện, chúng ta cùng với Hội thánh hiệp thông kính nhớ các Thánh là những anh chị em được hiển vinh, đang chiêm ngưỡng rõ ràng chính Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi như Ngài hằng có, chúng ta không chỉ noi theo gương lành của các Ngài, nhưng đúng hơn, để sự hiệp thông của toàn thể Hội thánh trong Chúa Thánh Thần được bền vững nhờ thực hành đức ái huynh đệ (x. Ep 4,1-6). Sự hiệp thông đó được thực hiện trong phụng vụ, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần hoạt động trong chúng ta. Thực vậy, nếu như sự hiệp thông giữa các Kitô hữu còn sống trên dương thế đưa chúng ta đến gần Đức Kitô hơn, thì sự liên kết với các Thánh cũng hiệp nhất chúng ta với Ngài là Đầu và là nguồn phát sinh mọi ân sủng cũng như sự sống của dân Thiên Chúa (x. GH. Số 50). Tinh thần hiệp thông đó luôn ảnh hưởng sâu đậm đến đời sống của các Kitô hữu, như sách Giáo lý Công giáo viết: “Các Tín hữu học được nơi Hội thánh gương sáng của sự thánh thiện: họ nhận ra khuôn mặt và nguồn mạch của sự thánh thiện nơi Đức Trinh Nữ Maria rất thánh. Họ thấy bằng chứng trung thực của sự thánh thiện nơi những người sống thánh. Họ khám phá ra sự thánh thiện trong truyền thống tinh thần cũng như trong lịch sử lâu dài của các vị Thánh đã đi trước và được Phụng vụ cử hành theo nhịp chu kỳ các Thánh” (GLCG. Số 2030), vì các Thánh cũng là người đồng thừa tự của Đức Kitô, là bạn hữu, là ân nhân mà chúng ta phải yêu mến cách đặc biệt. Nhờ Đức Kitô và với Đức Kitô, các Ngài luôn luôn chuyển cầu cho chúng ta, bằng cách dâng lên Thiên Chúa những công nghiệp các Ngài đã lập được (x. GH. Số 49-51).

c. Hiệp thông với anh chị em trong tình trạng thanh luyện

Hơn nữa, việc chuyển cầu của các Thánh làm sống động sự hiệp thông giữa chúng ta với Thiên Chúa, là gia đình duy nhất trong ơn gọi được hiện hữu theo hình ảnh Ngài. Ân huệ hiệp thông thánh này phát sinh từ sự hiệp thông với Chúa Cha, nhờ Đức Kitô và trong Chúa Thánh Thần (x. 1 Cr 1,3), nên không giới hạn ở đời này nhưng vẫn tiếp tục ở đời sau. Đó là lý do tại sao Hội thánh sơ khai cũng như Hội thánh ngày nay, mãi mãi nhận ra bổn phận cần phải cầu nguyện, dâng lễ cho các anh chị em đã qua đời đang trong thời gian thanh luyện. Sự hiệp thông này đã thánh hóa các Kitô hữu và khiến họ hiệp thông với nhau trong cầu nguyện. Sự liên kết này được cụ thể hóa qua sự hiệp thông với con người trên toàn thế giới.

3. Hiệp thông với con người

Cầu nguyện sao sống vậy.
Sống sao cầu nguyện vậy.

Đời sống cầu nguyện đạt tới cao điểm trong sự hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa sẽ được biểu lộ trong đời sống hiệp thông với tha nhân, những con người đã được Thiên Chúa tạo dựng theo hình ảnh Ngài, và trong tình liên đới cộng đoàn, được Đức Kitô qui tụ trong Chúa Thánh Thần để làm nên một thân thể Ngài là Hội thánh (x. MV. Số 32). Vì thế, lời cầu nguyện của chúng ta một khi đã dẫn đến sự hiệp thông với Thiên Chúa thì cũng giúp ta mở rộng lòng đón nhận từng con người, chia sẻ cuộc sống của họ và rồi đem chính những trăn trở, những biến cố của cuộc sống con người vào lời cầu nguyện của chúng ta, để tạo nên những cộng đồng liên đới trong yêu thương.

a. Hiệp thông với nhân loại

Chính sự hiệp thông trong cầu nguyện có khuôn mẫu ở Thiên Chúa Ba Ngôi, mà nguyên ủy là Chúa Thánh Thần, môi trường là cộng đồng Hội thánh, do đó, cầu nguyện không phải là sự khép kín bản thân, nhưng luôn mở rộng hướng tới cuộc sống vị tha, để gặp gỡ thế giới và tha nhân trong Thiên Chúa. Điều chắc chắn là, như Đức Kitô, trong tình yêu thương, trong sự quan tâm đối với từng người, Ngài đã đảm nhận tất cả mọi đau khổ, niềm hạnh phúc của con người, để biến thành hiến lễ dâng lên Chúa Cha thế nào, thì khi cầu nguyện, trước nhan Thiên Chúa chúng ta cũng không chỉ thấy những nhu cầu của chúng ta, nhưng có bổn phận nhận ra những nhu cầu của những người chung quanh, của những người gặp gỡ, những người có liên hệ đến trách nhiệm, những người không cùng một gia đình, một dân tộc, một ngôn ngữ, một màu da, một nền văn hóa khác hoặc không cùng một niềm tin, một lý tưởng… để lời cầu nguyện của chúng ta cũng mang tính cách trung gian (x. St 18, 16-23; Xh 3,1-10; 17,8-12). Những tiếng kêu than, đau khổ của người bệnh tật, già cả, neo đơn – những oan ức của người nghèo đói, của người đứng bên lề xã hội – cũng như những lời tạ ơn của cuộc sống hạnh phúc… Tất cả dường như diễn ra trước mắt chúng ta, khiến chúng ta không thể làm ngơ khi đến với Thiên Chúa trong cầu nguyện. Thực tại này đã chiếu ngời trong tâm tình cầu nguyện của Cha Thánh Đa Minh, trong cuộc đời Thánh Catarina, người đã dành cho Thiên Chúa một căn nhà nội tâm cao quí.

b. Với Cha Thánh Đa Minh,

Cả cuộc đời của ngài, có thể tóm lại, là một lời cầu nguyện duy nhất; tất cả làm nên mối tương giao thâm tình với Thiên Chúa và là lễ dâng lên Ngài để mưu ích cho con người.

Là một người du thuyết, Cha Thánh Ða Minh có nhiều dịp để nhìn thấy rõ cuộc đời, gặp gỡ, giao tiếp với nhiều hạng người, chứng kiến nhiều hồng ân hoặc thảm trạng trong xã hội, trong tâm hồn con người. Những điều đó là chất nuôi dưỡng đời sống tu trì nói chung và đời sống cầu nguyện nói riêng của Ngài. Như chúng ta đã biết, cuộc sống Cha Thánh Ða Minh có hai nhịp: cầu nguyện và làm việc tông đồ, hai nhịp đó liên kết, hỗ trợ nhau. Những biến cố của cuộc đời, những thảm trạng trong tâm hồn con người … không lướt qua tâm hồn Cha Thánh Ða Minh như một làn gió thoảng, nhưng chúng thấm sâu vào tâm hồn của ngài và kết thành niềm ao ước thường xuyên, rồi được dâng lên cho Thiên Chúa trong lời cầu nguyện hằng ngày. Các nhân chứng về cuộc đời Cha Thánh Ða Minh kể lại rằng, khi cầu nguyện Cha Thánh Ða Minh thường nhắc tên ông này, bà kia, cùng với sự khóc lóc kêu than lớn tiếng với Thiên Chúa.

Cuộc đời Cha Thánh Ða Minh bám rễ sâu vào lòng đời, nên hoa trái của lời cầu nguyện cũng mang đầy hương sắc và mùi vị của cuộc đời. Lời cầu nguyện đó diễn tả lòng tín thác vào Thiên Chúa, đồng thời cũng cho thấy tình thương nồng nàn đối với con người, cũng như diễn tả lòng can đảm nhận lãnh trách nhiệm đối với cuộc đời. Có lẽ không lời nào diễn tả chính xác tâm tình của Cha Thánh Ða Minh hơn lời Hiến chế Mục Vụ “Giáo Hội trong thế giới ngày nay”:

“Vui Mừng và Hy Vọng, Ưu sầu và Lo lắng của con người ngày nay, nhất là của những người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (số 1).

c. Với Mẹ Thánh Catarina,

Qua kinh nguyện, Thánh Nữ đã nhận thấy hoa trái của sự hiệp nhất huyền nhiệm là lời Chúa Cha kêu mời những ai tìm kiếm sự hiệp nhất thâm sâu với Người: “Hãy lớn tiếng kêu xin Cha thương xót thế giới. Qua lời kêu xin này, chính là ý Cha muốn thương xót thế giới”… Đồng thời khi khám phá ra sự bất khả phân ly của “Đôi cách tình yêu”, yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân, Thánh Catarina hiểu rằng, sự kết hợp huyền nhiệm, nhất thiết phải bùng cháy lên trong việc phục vụ quảng đại và chuyển cầu mà chúng ta mắc nợ như mắc nợ tình yêu tha nhân … Vì tình yêu vô vị lợi mà chúng ta không bao giờ trả lại được cho Thiên Chúa, thì chúng ta có thể và phải trả lại cho tha nhân” (MARI Ann Fatula, OP, “Kinh nguyện, người mẹ của chúng ta” trong Đôi cánh tình yêu (Catherine of Siena’s way), Michael Glazier 1987, trang 134-135). Vì lời chuyển cầu hướng chúng ta đến tình yêu đại lượng trước nhu cầu của anh chị em, nên khi càng tha thiết với việc cứu độ thế giới, chúng ta càng thực sự gắn bó mật thiết với Thiên Chúa Ba Ngôi, đó là lúc chúng ta được sống trong cái thực: thế giới này đã trở thành ngôi đền thánh, còn con người là tư tế của toàn thể tạo vật, và trọn cuộc sống trở thành một lời kinh, lời kinh đó không chỉ dừng lại ở cuộc đối thoại với Thiên Chúa, nhưng hướng tới sự từ bỏ, để dấn thân đi vào tình yêu của Thiên Chúa đối với tha nhân một cách cụ thể trong đời sống bác ái huynh đệ (x. 1 Ga 3,18; 4.20; Mt 25,31). Đời sống bác ái huynh đệ chính là hoa trái của Chúa Thánh Thần trong đời sống cầu nguyện, vì khi Chúa Thánh Thần ngự đến trong lòng con người, thì hiển nhiên không còn phân biệt giữa cầu nguyện và bác ái huynh đệ, cầu nguyện gợi lên trong lòng tình bác ái trọn vẹn (x. Gl 5,22), làm cho tâm hồn trở nên nhân ái hơn, hiền hòa hơn, bao dung hơn… Và, chính đời sống bác ái được Chúa Thánh Thần thúc đẩy sẽ là dữ liệu phong phú cho đời sống cầu nguyện. Chúng ta nhận thấy các hoa trái của Chúa Thánh Thần nơi các Tín hữu tiên khởi, nhất là tình bác ái và sự vui tươi (x. Cv 4,32; 13,52). Chứng tá đó được thể hiện rõ nét nơi đời sống của mỗi cộng đoàn tu trì chúng ta.

d. Hiệp thông với anh chị em trong cộng đoàn tu trì

Cộng đồng Hội thánh toàn cầu sẽ thành trừu tượng nếu không được cô đọng nơi cộng đoàn chúng ta đang sống, đó là cộng đoàn tu trì. Các văn kiện của Công đồng Vatican II đã khẳng định, các Tu sĩ là những người sống đức ái trọn hảo qua ba lời khuyên Phúc âm, nhờ đức ái, những lời khuyên ấy kết hiệp các Tu sĩ cách đặc biệt với Thiên Chúa và với Hội thánh (x. GH. Số 44; DT. Số 1). Như thế, cộng đoàn tu trì trở thành dấu chỉ sống động của Mầu nhiệm hiệp thông trong Giáo hội. Mầu nhiệm hiệp thông mở rộng thì hoa quả ơn cứu độ càng dồi dào (x. Vk. về ĐSHĐTCĐ, số 10). Như vậy, nếu đời sống cầu nguyện được nuôi dưỡng bằng đức tin, đức cậy, đức mến, sẽ dẫn đến sự tôn trọng, tin tưởng nhau, đồng thời thực hiện sự hòa giải cũng như đức ái huynh đệ cách đặt biệt và trước hết nơi chị em trong cộng đoàn, từ đó mở rộng đến những người khác, đến những người chúng ta đang có trách nhiệm. Do đó, tình bác ái huynh đệ trong cộng đoàn trước tiên cần được khởi đi nhờ sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần trong đời sống cầu nguyện, được mỗi tu sĩ xác định rõ căn tính đời tu là gì. Từ đó thể hiện qua hành động cụ thể bằng cách ý thức trong việc tuân giữ kỷ luật, tinh thần hòa đồng, chia sẻ trách nhiệm với nhau trong cuộc sống và sứ vụ…

Vậy, một khi hiệp thông với chị em trong cầu nguyện, người tu sĩ ý thức được giá trị hiện hữu của mình trong cuộc sống chứng tá, nhờ đó tìm được niềm vui đích thực trong hành trình tìm kiếm Thiên Chúa Tình yêu, như Huấn thị Những Yếu Tố đã nói: “Nhờ đức tin chúng ta hiểu biết về Thiên Chúa, nhờ hiểu biết đó, chúng ta thêm yêu mến Người: “Niềm vui và hiểu biết có thể phát sinh bằng nhiều cách, nhưng được ban cho người Tu sĩ đặc biệt qua cách thức cốt yếu, đó là sự gặp gỡ trên bình diện cá nhân và cộng đoàn với Thiên Chúa trong sự cầu nguyện” (Ht. NYT. Số 28).

Kết luận      

Thánh Grêgôriô nói: “Sức mạnh của lời cầu nguyện rất phi thường, khi đã tuôn trào trên mặt đất nó sẽ tạo thành những thành quả trên thiên đình”. Thật vậy, đời sống cầu nguyện đem lại cho chúng ta một sức mạnh của niềm vui, sự bình an, lòng yêu mến trong sự hiệp thông thân tình giữa chúng ta với Thiên Chúa, với Giáo Hội và với con người. Đó cũng là cảm nghiệm của Thánh Phaolô, Ngài đã sống và nhắc nhở các Tín hữu trong các lá thư: Anh em hãy chuyên cần cầu nguyện (x. Rm 12,12; 1 Tx 5,17), hãy bền đỗ, tỉnh thức cầu nguyện và tạ ơn (x. Cl 4,2). Như vậy, mỗi người chúng ta là độc nhất vô nhị trong cách cầu nguyện riêng của mình, chúng ta cần khám phá ra mã số riêng khi tìm kiếm Thiên Chúa trong cuộc đời, đó chính là đường lối căn bản để chúng ta sống thật, sống trọn vẹn ơn gọi hiện hữu của mình là được Thiên Chúa tạo dựng, mời gọi chúng ta đối thoại để hiệp thông với Người (x. MV. Số 19) và hiệp thông với người khác (x. MV. Số 12). Nhờ đó chúng ta càng ngày càng thấu hiểu Thiên Chúa là Ai và ta là ai? Thiên Chúa muốn gì nơi chúng ta, và ta cần đáp lại lời mời gọi của Người như thế nào? Với xác tín đó, chúng ta hiểu tầm quan trọng của việc cầu nguyện trong đời sống Kitô hữu, đặc biệt nơi những người sống đời thánh hiến trước một thế giới văn minh hôm nay. Mặc dầu tất cả mọi mặt đều tiến bộ thần tốc theo nền văn minh khoa học kỹ thuật, nhưng các Tu sĩ, các cộng đoàn tu trì, cần có được cảm thức về đức tin được Chúa Thánh Thần hướng dẫn từ trong tâm hồn nhờ đời sống cầu nguyện, để phần nào chúng ta đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa là giúp nhiều người trở về với đời sống cầu nguyện, tiến gần tới Thiên Chúa là Đấng làm cho cuộc sống con người có giá trị hơn.

Nt. Maria Nguyễn Thị Phương Hà

Tài liệu tham khảo
– MARY Ann Fatula, OP, “Kinh nguyện, người mẹ chúng ta” trong Đôi cánh tình yêu (Catherine of Siena’s way), Michael Glazier, 1987.

– Đức GIOAN – PHAOLÔ II, Thông điệp Dominum Et Vivificantem về Chúa Thánh Thần là Chúa và là Đấng ban sự sống, 18-5-1986.Thánh Bộ Tu Sĩ và Tu Hội Đời, Huấn thị Những yếu tố cốt yếu trong giáo huấn của Giáo Hội về đời sống tu trì được áp dụng cho các Tu hội tông đồ, 31-5-1983.

– Thánh Bộ Tu Sĩ và Tu Hội Đời, Văn kiện Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn,

– Công Đồng VATICANÔ II, Giáo lý Giáo hội Công giáo, 11-10-1992.

– Công Đồng VATICANÔ II, Thánh Công Đồng chung, Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, Đà Lạt, 1972.

Comments are closed.