Học Cầu Nguyện như Chúa Giêsu Dạy

0

Mở đầu:

Đức Giê-su khẳng định: “Thế gian phải biết rằng, tôi yêu mến Cha tôi, nên tôi sẵn sàng làm tất cả đúng như Cha tôi đã truyền cho tôi” (Ga 14,31).

Tôi rất thích sống hết tâm tình người con nhỏ với Chúa Cha, Đấng ngự trên trời như tâm tình của Chúa Giê-su. Nên khi viết bài này, tôi muốn viết bằng trái tim của người con bé nhỏ khao khát được thường xuyên hàn huyên cùng Cha.

Vâng, tôi chiêm ngắm lòng nhân hậu vô biên của Thiên Chúa, Người đã tạo dựng nên chúng ta và cho chúng ta sống trong vũ trụ do chính Người sáng tạo. Người đã nâng chúng ta lên, cho sống tình thân với Người – được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, vào đời sống thâm sâu của Ba Ngôi Thiên Chúa (GLHTCG 1996,1997) – Người cho ta được ơn hiểu biết và yêu mến Người – chúng ta được trở thành con cái Thiên Chúa, làm nghĩa tử, được tham dự vào bản tính Thiên Chúa. Tất cả những ơn này Người ban «nhưng không» cho ta. Quả là một ơn quá cao cả, dẫu nguyên tổ chúng ta đã quay lưng phản bội Thiên Chúa quyền năng!

Người cũng đã nghiêm phạt nặng nề, khủng khiếp! Nhưng rồi Người lại vẫn yêu thương và ban ngay lời Hứa Cứu độ (St 3,15). Đức Ki-tô đón nhận sứ vụ này, để cứu chúng ta, để tái sinh chúng ta, Ngài đã thực hiện một cuộc sáng tạo Mới. Qua bí tích Thánh Tẩy do Ngài thiết lập, để trả lại quyền làm con Thiên Chúa mà chúng ta đã bị mất, với tất cả các ân sủng Thiên Chúa Cha ban cho ta thuở ban đầu. Tình thương của Ba Ngôi Thiên Chúa vẫn phủ kín trên ta để mong chúng ta đáp lại tiếng gọi yêu thương của Người mà đạt tới cứu cánh siêu nhiên là hạnh phúc đời đời (x. GLHTCG, Ân Sủng, Ch.I). Tất cả chiều dầy, sâu và rộng của tình thương cao cả của Cha, đòi chúng ta phải sống tâm tình thâm sâu của người con thảo hiếu với Cha trên trời mà Đức Giê-su đã dạy chúng ta thân thưa: «Lạy Cha chúng con ở trên trời!» (Mt 6, 9), và Thánh Thần Thiên Chúa đã dạy chúng ta kêu lên: «Abba! Cha ơi!» (Ga 4,6).

Với tất cả tình yêu lớn lao, cao sâu ấy, như Thánh Phao-lô, tôi khao khát uốn nắn ý nghĩ, lời nói và việc làm theo những tâm tình của chính Đức Giê-su (Pl 2,5) và noi gương bắt chước Ngài (x. 13, 12-15).

  • ĐỨC GIÊ-SU ĐÃ SỐNG TÂM TÌNH MỘT NGƯỜI CON

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu thường xuyên cầu nguyện, tâm sự, đối thoại với Chúa Cha và ưu tiên tìm kiếm thánh ý Chúa Cha trên hết mọi sự. Đây là đỉnh cao của tình yêu mà Đức Giê-su dành cho Cha. Như một người con thảo hiếu, ngoài sứ vụ, Người đã dành trọn thời gian còn lại để tâm giao cùng Cha, để gắn bó sâu sắc với Cha. Vâng, cầu nguyện là một phần thiết yếu trong cuộc đời Chúa Giêsu. Chính Người đã xác tín: “Thế gian phải biết rằng, tôi yêu mến Chúa Cha và sẵn sàng làm tất cả đúng như Chúa Cha đã truyền cho tôi” (Ga 14,31).

Người đã mang những nét rất đẹp của người con.

Để đạt được Nước Trời như ý Chúa Cha muốn cho toàn thể nhân loại, đòi tôi phải uốn nắn tâm tình con thảo như Chúa Giê-su. Luôn quy hướng về Cha trong mọi ý nghĩ, lời nói và hành vi để kiếm tìm Thánh Ý Chúa Cha và bình tâm thi hành cách ngoan thảo.

1. Con nói với Cha bằng cả trái tim

Qua suy niệm đời sống tương quan giữa Đức Giê-su với Chúa Cha, chúng ta đã khám phá ra gương mẫu cao cả là Chúa Giê-su đã sống hết sức gắn bó mật thiết với Chúa Cha – dẫn đến sự hiến trao chính mình cho Chúa Cha, điều đó đã thể hiện một tình yêu tuyệt đối, một tình yêu hết mình, bằng cả trái tim để sẵn sàng sống chết cho ý định cứu chuộc nhân loại của Cha, chính Người đã xác định: “Tôi từ trời xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 6,38). Sự gắn bó đến độ nên một trong mọi ý định cứu độ của Cha. Người nói với các môn đệ: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Chúa Cha và hoàn tất tốt đẹp công trình của Người” (Ga 4,34). Giây phút đứng trước cuộc khổ nạn khiến nhân tính của Đức Giê-su khiếp sợ, kinh hoàng đến toát mồ hôi máu (Lc 22,44); tâm thần hoang mang, Ngài thốt lên: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được” (Mt 26,38), nhưng Ngài sấp mình xuống đất, và khẩn thiết cầu xin: “Cha ơi, nếu đẹp lòng Cha, xin cho con khỏi uống chén này”, nhưng rồi Ngài lại vội thân thưa: “Nhưng thôi, xin đừng theo ý con, một xin theo Ý Cha” (Mt 26,39). Lễ hy sinh của Đức Giê-su “đền bù tội lỗi cả thế gian” (1Ga 2,2) là cách diễn tả rằng, Ngài đã đạt đến mức thông điệp tình yêu thâm sâu cùng Chúa Cha khi Ngài xác định: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha” (Ga 14,9), đến độ cung cách đàm đạo trong cầu nguyện của Ngài toát lên sự thánh thiêng cùng trái tim chứa chan tình mến với Cha khiến các môn đệ đã thốt lên: “Xin Thầy dạy chúng con cầu nguyện”. (Lc 11, 1).

Chúa Giê-su đã thân thưa, đã tâm giao với Cha bằng cả trái tim yêu mến son sắt!

Cụ già Simon mỗi buổi trưa thường xuyên vào nhà thờ khoảng một phút, rồi ra ngay. Có người hỏi: “Lý do nào thúc đẩy cụ vào nhà thờ vậy? ”. Cụ Simon trả lời: “Tôi vào để cầu nguyện”. “Sao cụ chỉ vào đến bàn thờ rồi ra ngay, không ở lâu hơn được sao? ”. “Mỗi buổi trưa tôi vào chào Chúa và chỉ biết nói với Chúa: “Giêsu! … Simon đây!” Đó là lời cầu nguyện ngắn nhưng tôi biết Chúa nghe tôi” (x. fr.aleteia.org, Vianney de Villaret, 2018-06-04). Cụ Simon đã cầu nguyện, đã hàn huyên với Chúa bằng cả trái tim nồng nàn mến yêu.

Tôi khao khát việc cầu nguyện của tôi với Cha trên trời là mội cuộc tâm giao có thật, và sống động như Đức Giê-su; và chứa chan tình mến mộc mạc như cụ già Simon. Tôi khao khát được liên kết với Cha trên trời như cành nho gắn liền thân nho để tôi có được hoa trái đức độ nhờ nhựa thánh thiện, tràn trụa sức sống từ thân nho chảy sang, là từ nơi Cha tôi, Đấng cực thánh. Tôi khao khát được nên Một với Đức Giê-su khi tôi ở trong Ngài và được Ngài ở trong tôi lúc tôi Rước Mình Thánh Ngài và tôi có được sự sống của cả Ba Ngôi Thiên Chúa như Chúa Giê-su đã hứa (Ga 6, 56-57), để qua đó, cuộc sống của tôi được thể hiện: “Tôi sống nhưng không còn phải là tôi, mà là chính Chúa sống trong tôi” (x. Gal 2, 20); và “để ai thấy tôi là thấy Cha tôi” (Ga 14,9).

2. Chúa nói, con lắng nghe tiếng Chúa.

Khi đọc Kinh Thánh, tôi vô cùng cảm động khi biết Chúa có nói chuyện, có đàm đạo, có tâm sự với con người. Nhưng điều kiện quan trọng, là con người phải hòa chan trong một không gian tĩnh lặng.

Khi gọi Tổ Phụ Ap-ram, ĐỨC CHÚA phán với ông lúc ông ở một mình: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.” (St 12, 1-3). Chúa gọi Moyse, khi ông đang một mình chăn chiên bên kia sa mạc, trên núi Thiên Chúa, là núi Kho-rếp, nơi tĩnh mịch để trao cho ông sứ mạng cứu dân Chúa khỏi ách thống trị của Ai Cập (Xh 3, 1-10). Khi dậy ông phải thực hiện mười hình phạt để yêu cầu Pharaon, vua Ai Cập phải cho dân Israel ra đi. Khi muốn lệnh gì cho dân, nhất là khi thiết lập Giao Ước với dân tại núi Sinai hay khi ban Mười giới Luật tại núi Kho-rép để giáo dục dân, Chúa thường gọi Mose lên núi, nơi thanh vắng, để đàm đạo và ra chỉ thị cho ông nói với dân (Xh 4-20).

Tiên tri Ê-li-a đang khi đi trốn bà hoàng hậu I-de-ven, Ông đang ở trong một cái hang, Thiên Chúa phán với ông: “Ngươi hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt ĐỨC CHÚA. Kìa ĐỨC CHÚA đang đi qua”. Thiên Chúa không ở trong gió to bão lớn xẻ núi non, Đức Chúa cũng không ở trong trận động đất hay lửa. Nhưng Người ở trong tiếng gió hiu hiu. Vừa nghe tiếng đó, ông Ê-li-a lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng ở cửa hang. Bấy giờ có tiếng hỏi ông: “Ê-li-a, ngươi làm gì ở đây?” Và Đức Chúa phán với ông: “Ngươi hãy đi con đường ngươi đã đi trước qua sa mạc cho tới Đa-mát mà về. Tới nơi, ngươi sẽ xức dầu phong Kha-da-ên làm vua A-ram; còn Giê-hu con của Nim-si, ngươi sẽ xức dầu tấn phong nó làm vua Ít-ra-en. Ê-li-sa con Sa-phát, người A-vên Mơ-khô-la, ngươi sẽ xức dầu tấn phong nó làm ngôn sứ thay cho ngươi. Kẻ thoát gươm của Kha-da-ên sẽ bị Giê-hu giết; người thoát tay Giê-hu sẽ bị Ê-li-sa giết. Nhưng Ta, Ta sẽ dành ra cho Ta bảy nghìn người trong Ít-ra-en: tất cả những kẻ đã không hề bái gối trước Ba-an, những môi miệng không hề hôn kính nó.” . (x. 1V 19, 9a-13. 15-18).

Và Chúa cũng đã gọi Samuel giữa đêm khuya thanh vắng ba lần, Thầy cả Ê-li đã nhận ra Chúa gọi Samuel, nên dậy cậu đáp lại tiếng Chúa nếu Chúa còn gọi đích danh cậu. Lần thứ tư, Samuel nghe thật rõ tiếng Chúa vang lên: “Samuel! Samuel! ”. Cậu vội đáp: “Lạy Ðức Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.” Sa-mu-en về ngủ ở chỗ của mình”. Ðức Chúa phán với Sa-mu-en: “Này Ta sắp làm một điều tại Ít-ra-en mà bất cứ ai nghe nói cũng phải ù cả hai tai. Ngày ấy, để phạt Ê-li, Ta sẽ thực hiện mọi điều Ta đã phán về nhà nó, từ đầu đến cuối. Ta báo cho nó là Ta vĩnh viễn kết án nhà nó vì lỗi của nó: Nó biết các con nó nguyền rủa Thiên Chúa mà đã không sửa dạy chúng. Vì vậy Ta thề với nhà Ê-li: nhà Ê-li sẽ không bao giờ được xá lỗi, dù là bằng hy lễ hay lễ phẩm.” (1Sam 3, 1-14).

Cầu nguyện là hàn huyên, là tâm giao thân tình cùng Chúa. Như vậy, tất yếu lắng nghe Chúa nói phải là một nhu cầu khi ta đàm đạo với Người.

Trong bối cảnh của Tin Mừng thánh Luca, Chúa Giêsu với tư cách là Đấng mang sứ vụ cứu độ, Ngài đang trên đường đi lên Giêrusalem để hoàn thành sứ mạng cứu chuộc nhân loại theo thánh ý Chúa Cha. Vì thế, Chúa Giêsu có nhiều nỗi niềm lo lắng, buồn phiền… cũng như sự khao khát, mong chờ… Chúa ghé thăm nhà của Mácta và Maria, là những môn đệ thân tín, với mong muốn có thể tâm sự với họ về điều đó, nên Ngài đã nói với Martha: “Maria đã chọn phần nhất”, đó là cô đã ngồi dưới chân Thầy để nghe Thầy nói, Thầy dậy bảo; đồng thời nghe Thầy chia sẻ” (Lc 22,24-27).

Tôi luôn giữ tâm hồn sống trong trạng thái rất tĩnh lặng, bình tâm và toàn thân tôi cũng phải chìm trong sự bình lặng để nghe được tiếng Chúa dạy tôi. Không gian tĩnh lặng thật cần thiết, bối cảnh tĩnh lặng như một nhu cầu xây dựng cuộc tâm giao với Chúa; và cả con người toàn diện của tôi cũng cần thanh lọc tất cả sự ồn ào, xáo trộn để tôi chỉ còn lưu lại trong sự thanh tĩnh để lắng nghe tiếng Chúa.Tôi giữ cho tâm hồn không xáo trộn trong cơn bão tố cuộc đời, tình người, cũng không để tâm hồn ở trong nỗi kinh hoàng của động đất vì những tranh giành, những bất công sự thế, không để tâm hồn xo xúi trong quầng lửa thế sự đảo điên nhưng tìm trú ẩn bên Chúa là đồn lũy che chở. Để trong nơi riêng tư với Chúa, tôi có thể nghe Chúa chia sẻ như Chúa đã từng chia sẻ với các tông đồ: “Linh hồn Thầy buồn đến chết được, anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy” (Mt 26, 36).

3. Ưu tiên dành thời giờ cho Chúa Cha

Trong gia đình, trẻ em thương ba mẹ nhất. Các em rất thường xuyên chuyện trò tâm sự, có điều gì vui, có điều gì buồn chúng đều kể hết cho cha mẹ. Nét đẹp nhất, thân thương nhất, là chúng dành giờ để ở bên ba mẹ, chúng ngồi vào lòng ba mẹ, ôm chặt lấy ba mẹ rồi nói với ba mẹ rằng con yêu ba mẹ lắm, con thương ba mẹ lắm, rồi kể cho ba mẹ nghe những gì chúng làm được trong ngày, những gì chúng thích, những gì chúng cần và xin ngay ba mẹ chẳng nghĩ trước tính sau.

Chúa Giêsu đã mang trọn tâm tình người con thảo duy nhất, Ngài rất yêu thương Chúa Cha, Ngài luôn dành thời giờ để gặp gỡ tâm sự, cầu nguyện thân mật với Cha Ngài. Khởi đầu sứ vụ, sau khi chịu Phép Rửa ở sông Giođan (Mt 3, 13-17), Chúa Giêsu vào sa mạc để chay tịnh, cầu nguyện, tâm giao cùng Cha suốt 40 đêm ngày để cùng Cha chuẩn bị cho công cuộc rao giảng công khai (Mt 4, 1-13). Trước khi chọn các tông đồ, suốt đêm, trong nhiều ngày, Chúa Giêsu cầu nguyện, tâm giao cùng Cha để tìm ý Cha (Lc 6, 12). Trước khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời cầu nguyện với Chúa Cha (Mt 14, 13-21; 15, 32-39). Khi cho bé gái con ông trưởng Hội Đường và Lazarô từ cõi chết sống lại, Chúa Giêsu cũng cầu nguyện khẩn thiết cùng Cha để Danh Cha được mọi người biết đến (Mc 5, 21-24. 35-43; Ga 11, 1-45). Trước khi bị bắt, Chúa Giêsu vào Vườn Cây Dầu để cầu nguyện thiết tha cùng Cha và sau cùng nài xin ơn trợ lực cho sứ mạng. Và sau mỗi hành trình sứ vụ, Người bảo các môn đệ: các con hãy tìm nơi thanh tĩnh và dành giờ mà nghỉ ngơi. Ý Ngài, là nhắc các môn đệ hãy dành giờ cầu nguyện cùng Chúa Cha. Chính Người đã từng làm gương trước cho các môn đệ.

Tóm lại, Chúa Giêsu thường xuyên cầu nguyện, Ngài cầu nguyện mọi nơi mọi lúc để gặp gỡ Chúa Cha, để được kết hợp với Chúa Cha, điều duy nhất, để nhận ra ý Chúa Cha và làm theo ý Chúa Cha.

Để là người con yêu của Cha, tôi nghĩ, tôi không thể cư xử với Cha tôi như một khách lạ, sống hình thức. Do vậy, ngoài những giờ Phụng vụ và Kinh nguyện chung, tôi phải dành thêm giờ cầu nguyện riêng với Cha tôi. Điều này đòi hỏi phải lên chương trình hằng ngày rõ ràng và trung thành tuân giữ. Bất cứ vì lý do gì, hãy cố gắng làm bù và có lượng giá mỗi ngày. Tôi phải thực hiện một cách chủ động.

4. Cầu nguyện là một tiến trình liên tục

Thánh Vinh Sơn là một trong những vị thánh có đặc ân lớn trong kinh nghiệm cầu nguyện, ngài thường cầu nguyện với Chúa Giêsu những lời sau:

Lạy Chúa Giê-su, về cầu nguyện, Người vượt xa mọi phàm nhân chúng con. Vâng, ngay khi còn nhỏ, Người thường dậy sớm cùng với Đức Mẹ và thánh Giuse cầu nguyện cùng Thiên Chúa Cha; dù cuộc sống bận rộn, Người vẫn luôn chu đáo cầu nguyện và đúng giờ; Người lên Giêrusalem để cầu nguyện; ngoài việc cầu nguyện với các môn đệ ra, Người còn một mình vào hoang địa chỉ với một mục đích là cầu nguyện và ăn chay. Người không quỳ gối phủ phục xuống đất để cầu nguyện đâu, mà thay vào đó, với lòng khiêm tốn, Người ở đó với Chúa Cha, gánh tội cho thế gian. Người cầu nguyện cả khi bị kiệt sức vì ăn chay hầu vượt lên chính mình. Vâng, Chúa Giêsu cầu nguyện liên lỉ, trong đêm trước ngày chịu tử nạn, một lần nữa Người tách mình ra khỏi các môn đệ để đi cầu nguyện, Kinh Thánh nói: Người thường lui tới khu vườn này để cầu nguyện, và ở đó Người cầu nguyện tha thiết và hết lòng tới nỗi mồ hôi Người đổ ra đỏ như máu (Về việc cầu nguyện, 31/5/1648, O.C., IX, 380).

Cha Thánh Đaminh cũng cho các con cái của Ngài một mẫu gương cầu nguyện liên lỉ. Ngài từng chìm sâu trong chiêm niệm. Khi còn là một Kinh sĩ Hội Osma, một cộng đoàn giáo sĩ chiêm niệm với bổn phận là ca tụng Thiên Chúa suốt ngày tại nhà thờ chánh tòa địa phương. Khi dấn thân vào sứ vụ giảng thuyết, Cha Đaminh cũng không bỏ bổn phận chúc tụng, ngợi khen và chiêm niệm. Ngài cho rằng, các tu sĩ giảng thuyết cần phải chìm sâu vào các thực tại thiêng liêng trước khi mong thuyết phục và lay động tâm hồn người khác. Ngay cả khi du thuyết, thánh Đaminh không ngừng cầu nguyện. Ngài thức suốt đêm để chìm sâu vào những lời ca tụng và cầu nguyện liên lỉ. Ngài còn yêu cầu cộng đoàn giảng thuyết hãy cùng nhau đọc Kinh Thần vụ, và Ngài đã sốt sắng tham dự các giờ Kinh Thần vụ với anh em trong Dòng; khi đi đường Ngài thích vào các tu viện của bất cứ cộng đoàn tu trì nào để được nguyện chung       (x. HD Đaminh Tam Hiệp, – Tuần Cửu nhật và Tam Nhật, 2019 – ngày thứ Hai, kính Thánh Đaminh).

Tôi rất ý thức rằng, cầu nguyện đòi buộc một tiến trình liên tục. Chỉ có tình yêu thâm sâu mới thể hiện nhu cầu này. Vâng, hai người yêu nhau họ thường xuyên liên lạc, thường xuyên gọi điện thoại cho nhau, nó thể hiện sâu sắc sự gắn bó, lo lắng về nhau mọi nơi, mọi lúc. Điều chúng ta liên tục cầu nguyện hay nói gần gũi hơn, là như hai người yêu nhau kia, chúng ta cũng hãy liên tục gọi điện thoại cho Chúa. Alo cho Chúa, là tâm tình cầu nguyện một cách thân tín, để rồi chúng ta có thể gọi cho Chúa bất cứ khi nào, bất cứ nơi nào. Đây là điều vô cùng hợp lý trước những nhu cầu thiết yếu của đời sống thể lý cũng như đời sống tâm linh của chúng ta. Vì đang trên đường lữ hành trần thế, chúng ta rất cần Chúa, cần Chúa mọi lúc, mọi nơi, vì Chúa là nguồn cội, là điểm tựa duy nhất của chúng ta.

  • Thay lời kết

Thế giới hôm nay đã không có điểm tựa đích thực và vững chắc. Họ đã loại Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống, nên tất cả đã sống trong thất vọng, lo âu, đầy chênh chao, mỗi lúc một chìm sâu trong tuyệt vọng, bởi vì “Thụ tạo mà không có Đấng Tạo Hóa thì sẽ biến tan” (GLHTCG 308).

Điểm tựa tuyệt đối của chúng ta là Thiên Chúa, Cha trên trời.

Với tâm tình một bé thơ, bé không biết ai ngoài ba hoặc mẹ của bé. Bé rất sợ khi mẹ không ở bên bé, và rất hoang mang khi vắng bóng ba cùng mẹ. Hình ảnh này khiến tôi nhớ tới và rất thích tâm tình con trẻ hàn huyên với Thiên Chúa, cha nó mà tác giả Thánh Vịnh 35 đã mô tả: “Lạy Chúa, kẻ tố con, xin Ngài tố nó. Kẻ đánh con xin Ngài đánh nó”. Rồi bé dậy Chúa: “Hãy cầm mộc khiên đứng dậy phù trì con. Vung gươm giáo chống lại những người bắt bớ con” (câu 1-2). Thật dễ thương khi ta luôn mang tâm tình như thế đối với Cha trên trời – hãy thật gắn bó để tâm giao cùng Cha, hãy nói với Cha và lắng nghe Cha trả lời, hãy liên tục hàn huyên cùng Cha, luôn ưu ái dành riêng giờ cho Cha để mong tìm thánh ý Cha và ngoan ngoãn thi hành.

Tôi luyện tập không để tâm hồn sống trong cơn bão tố hãi hùng, động đất kinh hoàng hay rực lửa của tâm hồn mất Chúa. Hãy rèn luyện tuyệt đối để tâm hồn luôn chìm sâu trong cơn gió hiu hiu nhẹ của Thiên Chúa. Khi ấy ta mới nghe được tiếng Chúa.

Trong tâm tình con nhỏ, tôi vâng theo lời nhắn nhủ của Thánh Phao-lô: “Anh em đừng lo lắng về bất cứ điều gì, nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giải bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện; và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt trên mọi sự hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô” (Pl 4, 6-7). Và sẽ cầu nguyện theo cách hiện diện bên Ngài và hướng lòng tuyệt đối về Cha. Quả thực, đây là ân sủng của Chúa Thánh Thần.

Nữ tu Theresa Nguyễn Thị Mừng, O.P

Comments are closed.