
Hs 11,1-4.8e-9; Mt 10,7-15
Lm. Gioan Pheny Ngân Giang, OP
Giữa cả một khúc ca đầy dịu dàng trong Hôsê 11, nơi Thiên Chúa hiện lên như người cha tập cho con bước đi, bồng bế, dẫn dắt và chăm bẵm từng chút, có một lời hầu như chìm khuất giữa những hình ảnh ấy: “chúng không biết rằng chính Ta đã chữa lành chúng” (Hs 11,3). Bản văn viết rᵊp̄āʾtîm, “Ta đã chữa lành chúng”, rồi liền theo là wᵊlōʾ yādᵊʿû, “chúng chẳng hề biết”, mà yādaʿ nơi các ngôn sứ không bao giờ là cái biết của trí khôn suông, nhưng là cái biết thân mật, cái biết của tấm lòng, cái biết vợ chồng nhìn nhận nhau (xc. Hs 2,22; 6,3). Quả thế, hành vi chữa lành sâu nhất của Thiên Chúa trong suốt lịch sử Épraim lại đúng là hành vi không hề được nhận ra. Israel không thiếu ơn chữa lành; họ chỉ vô tâm không biết ơn ấy phát xuất từ bàn tay nào.
Có thể nói, đây là một nỗi buồn thuộc loại khác thường, vì không phải là nỗi buồn của một Thiên Chúa không được yêu, nhưng là nỗi buồn của một lương y không được nhận biết. Cơn giằng co ở câu 8, nehpak, trái tim bị lật tung; nikhmerû, ruột gan nóng ran lên vì xót thương, vẫn quen được đọc như một tấn kịch nội tâm giữa thịnh nộ và chạnh lòng. Đọc liền với câu 3, bi kịch ấy hiện lên rõ hơn: Đấng đang quặn lòng chính là Đấng đã lặng lẽ chữa lành họ suốt bao năm tháng, vậy mà họ chẳng hề hay biết. Và việc Người ghìm lại cơn giận “vì Ta là Thiên Chúa chứ không phải phàm nhân” (c.9) đi cùng một mạch với chính cách Người chữa lành: kín đáo, không cưỡng ép, không phô trương.[1]
Sang bài Tin Mừng, chúng ta gặp lại đúng động từ ấy, lần này trong tiếng Hy-lạp. “Hãy chữa lành kẻ đau yếu (therapeuete tous asthenountas)… anh em đã lãnh nhận nhưng-không, thì hãy cho đi nhưng-không (dōreàn elábete, dōreàn dóte)” (Mt 10,8). Trong cả loạt công việc được trao, chữa lành đứng ở vị trí được uỷ thác trước hết, và được truyền là phải cho không, tuyệt nhiên không mua bán. Hơn thế nữa, ngay sau đó Đức Giêsu dặn điều phải làm khi việc chữa lành ấy không được đón nhận: “nhà nào không xứng đáng… hãy giũ bụi chân mà đi” (Mt 10,14). Sứ vụ chữa lành, như thế, được sai đi đã kèm sẵn một dự liệu: rất có thể sứ vụ này sẽ không được nhận ra, không được tiếp đón.[2]
Như vậy, hai bản văn gặp nhau ở cùng một động từ. Hôsê dùng động từ rāp̄āʾ (chữa lành), còn Mátthêu dùng therapeuō. Cả hai đều hướng về cùng một kinh nghiệm: người chữa lành nhưng không được nhận biết. Điều Thiên Chúa từng nếm trải trong Hôsê (Hs 11,3), thì Đức Giêsu báo trước các môn đệ cũng sẽ gặp trên đường sứ vụ. Được sai đi nhân danh Người là được sai đi chữa lành nhưng-không, và cũng chấp nhận có khi những việc mình làm sẽ không được ai biết đến. Vì thế, cử chỉ giũ bụi chân không phải là một lời kết án trong cơn bực tức, nhưng là sự ra đi thanh thản của người không ép ai phải đón nhận mình, cũng không biến việc chữa lành thành món nợ buộc người khác phải ghi nhớ hay đền đáp.
Chính điều này giúp chúng ta gẫm lại chữ “cho nhưng-không” (dōreán). Quả thế, dōreán không chỉ nói lên lòng quảng đại, mà còn đòi người cho chấp nhận một điều rất khó: món quà có thể không được nhận ra. Một món quà chỉ thật sự là quà khi không đòi người nhận phải nhớ ơn. Hôsê cho thấy chính Thiên Chúa đã chữa lành dân Người trong âm thầm, đến nỗi họ không hề biết ai đã chữa mình. Vì thế, người môn đệ cũng được mời gọi chữa lành như thế: không mong được cảm tạ, không buồn giận khi bị khước từ, và nếu phải giũ bụi chân mà ra đi thì vẫn giữ được một tấm lòng bình an. Có thể nói, tính nhưng-không của món quà được chứng thực đúng ngay tại chỗ nó bị từ khước.
Người cha, người mẹ thức trắng nhiều đêm bên đứa con, rồi một ngày kia đứa con chẳng còn nhớ. Người dạy giáo lý gieo một lời mà không bao giờ thấy kết quả. Người chăm sóc bệnh nhân, người hấp hối, những người không còn đủ sức nói một tiếng cảm ơn. Những việc âm thầm ấy không hề uổng phí. Chính ở đó, họ sống gần với cách Thiên Chúa đã yêu hơn cả.
Điều khó nhất không phải là cho đi, nhưng là cho đi mà không đòi được nhớ đến. Thế nên, khi một cánh cửa khép lại, người môn đệ chỉ lặng lẽ giũ bụi chân rồi bước tiếp. Việc nhận ra hay không, xin để lại cho Thiên Chúa. Bởi từ rất lâu, Người vẫn làm như thế: “Ta đã chữa lành chúng, mà chúng chẳng hề hay biết.” Và Người vẫn tiếp tục chữa lành..
_____________
[1] Hans Walter Wolff, Hosea (Hermeneia), chú giải Hs 11,1-4.8-9: rᵊp̄āʾtîm (“Ta đã chữa lành chúng”) và cơn xúc động nehpak / nikhmerû; yādaʿ như cái biết thân mật. Lưu ý phụng vụ chọn cc.1-4 rồi bỏ qua lời phán xử, nối thẳng sang c.8e-9.
[2] Ulrich Luz, Matthew 8–20 (Hermeneia), chú giải Mt 10,5-15: therapeuō như hành vi được uỷ thác trước hết; dōreán (cho nhưng-không); cử chỉ giũ bụi chân (c.14) như dấu chỉ để lại phán quyết cho Thiên Chúa, không cưỡng ép người ta đón nhận.