Đạo đức giả hình

0

Ts. Trần Mỹ Duyệt

“Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.” (Mátthêu 11:29) Đó là những gì Chúa Giêsu dạy chúng ta, nhưng tại sao một người hiền lành và khiêm nhường trong lòng như Ngài lại lên tiếng nguyền rủa một cách cay đắng những Kinh Sư và bọn Biệt Phái đương thời? Và đây là những gì Ngài đã nói về những người này: 

“Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các người khoá cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào! Các người đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các người cũng không để họ vào. Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các người nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ, cho nên các người sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn. Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các người rảo khắp biển cả đất liền để rủ cho được một người theo đạo; nhưng khi họ theo rồi, các người lại làm cho họ đáng xuống hỏa ngục gấp đôi các người. Khốn cho các người, những kẻ dẫn đường mù quáng!” (Mátthêu 23:13-16)

Vậy Kinh Sư và Pharisêu là những ai?

Theo Thánh Kinh thì Kinh Sư và người Pharisêu là hai nhóm lãnh đạo tôn giáo và trí thức nổi bật trong xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu.

Kinh sư (Luật sỹ): Nhóm người chuyên nghiên cứu, sao chép, giảng dạy và giải thích Lời Chúa (Lề Luật Maisen) trong Kinh Thánh. Họ đóng vai trò như các chuyên gia pháp lý và thần học, hướng dẫn cộng đoàn cách áp dụng Lề Luật vào đời sống hằng ngày.

Còn Pharisêu (Biệt phái): Là một giáo phái tôn giáo gồm những người Do Thái nhiệt thành, muốn tách mình ra khỏi sự ô uế của dân ngoại và lối sống trần tục. Họ rất được dân chúng kính trọng nhờ đời sống đạo đức nghiêm ngặt và việc tuân thủ tuyệt đối Lời Chúa cùng các truyền thống cổ xưa. 

Cả hai nhóm thường xung đột mạnh mẽ với Chúa Giêsu về giáo lý và những lời giảng dạy của Ngài. Chúa Giêsu hay khiển trách họ vì thói “giả hình”, giữ luật lệ hình thức bên ngoài rất kỹ nhưng lại thiếu lòng bác ái, tình yêu thương và sự thật ở bên trong. Ngài ví họ như “mồ mả tô vôi”, bên ngoài trắng tinh, đẹp đẽ nhưng bên trong lại đầy xương người và ô uế. (Matthew 23:27) Gọi họ là những kẻ “Dài dòng kinh kệ nhưng lại nuốt chửng gia tài các bà góa.” (Mt 23:14, Lk 20:47, Mk 12:40) Và là “Những kẻ dẫn đường mù quáng.” (Mt 23:16)

GIẢ HÌNH LÀ GÌ?

Giả hình bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ là hypokrites, có nghĩa là diễn viên sân khấu hay người quan sát. Thời xưa, trong các vở kịch, họ thường đeo những chiếc mặt nạ lớn và đóng một vai diễn nào đó. Ý nghĩa của từ này đã thay đổi theo thời gian để chỉ những người có cuộc sống hai mặt. Họ khoác áo đạo đức với những hành động tỏ ra mình có các chuẩn mực đạo đức, niềm tin hoặc phẩm hạnh, trong khi thực tế lại làm những điều trái ngược với những điều đó. Khoảng cách lớn giữa những giá trị họ tuyên bố và hành vi thực tế của họ. Họ “nói một đàng làm một nẻo”. 

Họ chỉ trích người khác vì một hành động nào đó trong khi chính bản thân mình lại làm điều y hệt.

Họ tỏ ra trung thực, tử tế hoặc công bằng, nhưng lại hành động ích kỷ hoặc thiếu trung thực khi ở một mình.

Họ khắt khe phán xét người khác vì một sai lầm nhỏ, nhưng lại tự bào chữa cho bản thân khi mắc những sai lầm lớn. Họ “thấy cái rác trong mắt người khác, nhưng không thấy cái xà trong mắt mình.” (Mátthêu 7:3-5)

Giả hình còn mang những ý nghĩa khác như: 

  • Thiếu chân thành.
  • Dối trá.
  • Giả vờ.
  • Làm bộ làm tịch.

TÂM LÝ CỦA GIẢ HÌNH

Tâm lý học nói gì về những hành vi giả hình hay những kẻ đạo đức giả?

Người giả hình là người tỏ ra có các chuẩn mực đạo đức, niềm tin hoặc phẩm hạnh cao đẹp, nhưng thực tế lại không tuân theo chúng trong cuộc sống của chính mình. “Nói một đàng, làm một nẻo.” Họ là những kẻ đóng kịch, diễn xuất. Về bản chất, kẻ đạo đức giả đang đeo một chiếc mặt nạ, họ yêu cầu người khác tuân thủ các quy tắc nhất định trong khi bản thân lại lén lút vi phạm chính những quy tắc đó.  

Các nhà tâm lý học khi nghiên cứu lý do tại sao bộ óc con người lại dễ nảy sinh thói đạo đức giả, và tìm ra nguyên nhân thường nằm ở cách chúng ta nhìn nhận bản thân, cách muốn người khác nhìn nhận mình, và cách bộ não đánh lừa để chúng ta cảm thấy mình vô tội.

Con người luôn khao khát sự tôn trọng, tin tưởng và ngưỡng mộ. Khi kẻ giả hình lớn tiếng rao giảng về sự lương thiện, đạo lý là họ đang phát đi một “tín hiệu” nhằm đạt được địa vị xã hội cao và họ nhận được lợi ích về địa vị mà không phải trả cái giá thực sự để trở thành con người mà họ tự nhận. Họ đang lợi dụng lòng tin của người khác để trục lợi.  

Các nhà nghiên cứu cũng tìm thấy rằng đối với kẻ giả hình, chỉ trích người khác là một con đường tắt hiệu quả để tạo vẻ ngoài đức hạnh, đạo mạo, nhu mỳ, hiền lành, độ lượng. Thông thường, chúng ta thường cho rằng người hay lên án hành vi xấu xa hẳn phải là người rất tốt; chính vì vậy, cảm giác bị phản bội sẽ càng lớn hơn khi ta bắt gặp chính họ thực hiện hành vi đó.  

Bộ não con người mắc phải một lỗi suy tư gọi là thiên kiến. Khi làm điều gì đó sai trái, chúng ta thường tự đánh giá bản thân dựa trên ý định tốt đẹp hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh. Thí dụ: Tôi đến muộn vì giao thông quá tệ. Ngược lại, khi người khác làm sai, chúng ta lại đánh giá họ khắt khe dựa trên hành động thực tế. Thí dụ: Họ đến muộn vì lười biếng! Điều này cho phép kẻ đạo đức giả thực sự tin rằng mình là người tốt với một “lý do chính đáng đặc biệt”, trong khi những người khác đơn thuần là kẻ xấu.  

Những người đạo đức giả hiếm khi là những kẻ phản diện cười khoái chí khi biết rõ mình đang nói dối. Họ thường tự đánh lừa chính mình trước tiên. Để bảo vệ cái tôi và tránh cảm giác tội lỗi, não bộ của họ kích hoạt các hệ thống phòng vệ như hợp lý hóa, bịa ra những lý do nghe có vẻ thuyết phục để biện minh cho hành vi sai trái của mình.  

Tóm lại, với cái nhìn tâm lý học, thói đạo đức giả có thể bắt nguồn từ “cái tôi quá lớn và sự tự cho mình là đúng” kết hợp với “mong muốn được yêu thương và chấp nhận mà không bị phán xét”. Hành vi đạo đức giả thường được chia thành bốn nhóm:

1.Thiếu nhất quán    

Đặt ra các quy tắc nghiêm ngặt cho người khác nhưng bản thân mình lại không tuân thủ. Thí dụ: Cha mẹ bảo con dùng thiết bị điện tử nhiều sẽ hại não, trong khi chính họ lại lướt điện thoại cả ngày. Hoặc, con không được nói dối, nhưng họ lại nói dối không chớp mắt.

2.Đổ lỗi

Chỉ trích người khác vì một lỗi lầm mà chính mình cũng mắc phải. Thí dụ: Bực mình khi thấy ai đó khi ăn nhai chóp chép, trong khi họ lại ăn uống ngồm ngoàm một cách thô bỉ. 

3.Giả tạo

Tỏ ra yêu thích hoặc tin tưởng vào điều gì đó chỉ để hòa nhập với đám đông. Thí dụ: Giả vờ quan tâm đến đời sống cộng đồng, và phản đối những ai chia rẽ, nhưng ngược lại, họ là người “đâm bị thóc, thọc bị gạo”, chia bè, kết đảng tạo nên sự bất hòa trong các sinh hoạt xã hội.

4.Sự tự mãn/hời hợt  

Khẳng định mình có niềm tin sâu sắc nhưng lại làm rất ít hoặc chẳng làm gì để chứng minh điều đó. Thí dụ: Một người tự nhận và đề cao, ca ngợi đức ái Kytô Giáo, lòng xót thương người nghèo khó, nhưng lại không bao giờ giúp đỡ khi thấy bạn mình thực sự cần đến họ, hoặc không đóng góp được một đồng vào những hoạt động bác ái, từ thiện.

KHỐN CHO KẺ GIẢ HÌNH

Có thể nói rằng, không ai thích mình bị lừa, bị coi thường vì niềm tin của mình, và bị người khác lợi dụng mình như một kẻ ngu ngốc, khờ dại. Do đó mọi người đều không chấp nhận nếp sống đạo đức giả, cũng như không muốn làm quen với những người giả hình.

Những người giả hình đạo đức bị ghét bỏ vì hành động của họ không đi đôi với những gì họ nói. Lối sống của họ giống như một chiêu trò có chủ đích để đạt được sự tin tưởng mà họ không xứng đáng và vị thế đạo đức vượt trội mà họ thực sự không có.

Những kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí Psychological Science cho thấy là mọi người còn ghét kẻ đạo đức giả hơn cả những kẻ nói dối thông thường. Theo ghi nhận của tâm lý, nhiều người cảm thấy bị lừa dối khi có sự chênh lệch lớn giữa những gì một người tuyên bố tin tưởng và cách họ thực sự sống.

Trong một cuộc khảo cứu, các nhà tâm lý học tại Đại học Yale nhận thấy rằng, chúng ta thực sự ghét những kẻ đạo đức giả hơn là những kẻ nói dối thông thường. Nếu một người chỉ đơn thuần là kẻ nói dối. Thí dụ: Họ lấy trộm tiền và chối rằng “Tôi không làm”, thì họ chỉ đang che giấu một hành vi sai trái. Nhưng kẻ đạo đức giả lại làm điều tồi tệ hơn khi sử dụng thêm một lớp vỏ bọc lừa dối nữa. Họ cố gắng xây dựng hình ảnh một tấm gương đạo đức sáng ngời bằng cách chỉ trích người khác; về bản chất, họ biến sự lương thiện thành vũ khí để hạ bệ đối thủ và đánh lừa người khác.  

Khi Chúa Giêsu dạy: “Có nói có, không nói không, thêm điều đặt chuyện là do lòng tài mà ra.” (Mátthêu 5:37) thì đó chính là sự phản chiếu trung thực những gì Ngài muốn lên án bọn giả hình. Nó cho thấy mặt trái của những phần tử đạo đức giả mỗi khi phải nói về mình, họ không bao giờ và cũng không dám nói lên những yếu kém, thất bại hoặc khuyết điểm của mình. Họ thà từ chối một cuộc gặp gỡ xã giao còn hơn là trút gánh nặng lên người đối diện bằng những tiếng thở dài và lời than vãn.

Về mặt tâm linh, cuộc sống thường nhật cũng phơi bày “thói đạo đức giả” dưới vỏ bọc đạo đức. Nhiều thành phần dân Chúa bao gồm cả giáo sỹ, tu sỹ và giáo dân để nhân danh sự thánh thiện, họ luôn che giấu những yếu kém, bất lực, lo âu và thất bại của mình. Và để làm điều này, họ tỏ ra là những người mạnh mẽ, đạo đức, nói năng nhỏ nhẹ, từ tốn, để mọi người khen rằng họ hiền từ, nhân hậu và thánh thiện. Càng được khen và ca tụng, họ càng thích, càng đóng kịch hay hơn, chuyên nghiệp hơn. Nhưng nếu có ai đó nói với họ về sự thật của họ, lập tức sẽ bị họ để tâm trả thù hoặc xa tránh. Họ quên rằng giả hình là trái ngược với khiêm nhường, mà khiêm nhường là luôn luôn nhận sự thật.

“Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình!” Thật ra khi Chúa Giêsu lên án bọn giả hình không có nghĩa là bọn người này sẽ phải khốn khó, gặp nhiều bất lợi, thất bại và bị người đời nguyền rủa. Ngược lại, họ vẫn là những thành phần được đời trọng kính, được tôn vinh, và được ngưỡng mộ. Nhưng sự khốn xảy ra cho họ chính là sự mù tối tâm hồn. Họ có thể che dấu được người đời, nhưng trước mặt Thiên Chúa thì không, vì:

– Con người nhìn bề ngoài, nhưng Thiên Chúa nhìn vào tấm lòng. (1 Samuel 16:7)

– Đức Chúa Trời cân nhắc tấm lòng và nhận biết những điều con người cố che giấu hoặc bào chữa. (Châm ngôn 24:12)

– Chúa dò xét tấm lòng và xem xét tâm trí để khen thưởng mọi người dựa trên hành vi của họ. (Giêrêmia 17:10)

Comments are closed.

phone-icon