Lạy Cha chúng con – Thứ Năm, ngày 18.6.2026

0

Hc 48,1-14; Mt 6,7-15

Lm. Gioan Pheny Ngân Giang, OP

Chúng ta có thể nói gì về hai bài đọc ngày hôm nay, một bài là về lợi ngợi ca Êlia, bài kia là lời Kinh nền tảng của mọi Kitô vì đến từ chính Đức Giêsu, lời Kinh Lạy Cha ? Ra như cả hai bản văn ấy không dừng ở chỗ cùng nói về một người Cha. Sách Huấn Ca không đặt đỉnh cao lời ca nơi ngọn lửa từ trời, nhưng nơi sứ mạng hết sức vi tế của Êlia, ông được sai đến để “đem lòng cha ông trở lại với con cháu” (Hc 48,10), một câu trích lại lời ngôn sứ Malakhi (xc. Ml 3,23-24). Vậy, phải chăng giữa sứ mạng hoà giải các thế hệ ấy và lời kinh Đức Giêsu dạy có một mối liên hệ sâu xa hơn vẻ gần gũi bề mặt?

Quả thế, lời kinh mở ra ở số nhiều và giữ số nhiều đến cùng khi nói về bánh của chúng con, nợ của chúng con. Chúng ta hãy dừng ở lời xin thứ năm: “Xin tha nợ chúng con” (ta opheilēmata hēmōn, Mt 6,12). Mátthêu không dùng chữ “tội” (hamartia) như Luca (xc. Lc 11,4), nhưng dùng chữ “nợ” (opheilēma), một từ phát xuất từ ngôn ngữ luật pháp và thương mại[1]. Hệ quả ở đây thật quan trong vì tội không trước hết là vi phạm một bộ luật, nhưng là một nghĩa vụ chưa hoàn trả, một bất công còn tồn đọng.

Đến đây mở ra một sắc thái mà chúng ta cần lưu tâm. Nợ, khác với lỗi, là thứ được lưu truyền. Một món nợ không dứt khi người mắc nợ qua đời; nó truyền sang người thừa kế. Trong thế giới Kinh Thánh cũng như Hy-La, con cái thừa hưởng gia sản của cha ông, và cùng với gia sản là các món nợ. Nói khác đi, vì Mátthêu chọn ẩn dụ “nợ” chứ không phải “lỗi”, lời xin thứ năm mang trong nó một chiều kích liên thế hệ mà chữ “tội” trừu tượng không chuyển tải được.

Hơn thế nữa, chúng ta cũng hãy để ý đến ngữ pháp từng vế của lời kinh. Mọi vế đều là lời cầu xin dâng lên Thiên Chúa như xin cho danh Cha vinh hiển, xin cho chúng con bánh, xin tha cho chúng con, xin cứu chúng con. Mọi vế, ngoại trừ một. Vế 6,12b, “như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, không phải là một lời cầu xin, nhưng là một lời tuyên bố một sự kiện, một declaratio[2]. Động từ ở đây, aphēkamen, ở thì aorist: “chúng con đã tha”, một hành vi đã hoàn tất[3]. Trong luật cổ, chủ nợ chỉ cần một lời tuyên bố miệng là tha được món nợ; và vế 12b chính là lời tuyên bố như thế. Có thể nói, lồng vào giữa sáu lời cầu xin là một hành vi pháp lý thực thụ: một sự xoá nợ. Người môn đệ, trong một khoảnh khắc, thôi chìa tay xin nhưng biết đặt tay xuống và huỷ một tờ khế ước mang nợ.

Đặt lời tuyên bố duy nhất ấy cạnh những lời của sách Huấn Ca hôm này làm hiện lên rõ hơn mối dây liên kết. Malakhi nói rõ cùng đích sứ mạng Êlia đó là “đem lòng cha ông trở lại với con cháu, kẻo Ta đến đánh phạt xứ sở bằng án tru diệt” (ḥērem, Ml 3,24)[4]. Sự hoà giải các thế hệ chính là điều ngăn án tru diệt. Thế mà cơ chế cụ thể của việc “quay lòng cha về với con” là gì, nếu không phải là việc tha một món nợ truyền đời? Vế 12b, thưa ở số nhiều, gom cả các thế hệ vào chữ “chúng con”, tức kẻ tha và kẻ được tha, người đi trước và người đến sau. Khi một người dám thưa “Lạy Cha chúng con” rồi tuyên bố “chúng con đã tha”, người ấy đang làm đúng điều Êlia được sai đi làm.

Chúng ta thường hiểu lời “tha nợ” theo nghĩa rất gần, tha cho những người đang sống bên cạnh mình, những người đã làm mình tổn thương. Nhưng khi nghĩ đến những “món nợ” được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, lời kinh ấy mở ra một chiều sâu khác. Trong mỗi gia đình, đôi khi vẫn còn đó một mối bất hòa chưa được hóa giải, một vết thương từ đời cha ông chưa lành, một nỗi cay đắng âm thầm đi từ người này sang người khác. Có những điều người ta tưởng đã qua, nhưng thực ra vẫn đang sống trong cách người ta nghĩ, người ta nói và đối xử với con cháu mình.

Có lẽ việc cần làm là nhận ra một món nợ như thế, một điều chúng ta vẫn còn giữ trong lòng, hoặc đang vô tình chuyển lại cho thế hệ sau. Và hôm nay, lời Kinh Lạy Cha mời chúng ta bước thêm một bước nữa. Không dừng lại ở lời hứa: “Con sẽ cố tha thứ”, nhưng đi đến quyết định: “Con đã tha rồi”. Quyết định ấy, với ơn Chúa giúp, đủ sức chấm dứt một vòng luẩn quẩn đã kéo dài qua nhiều năm tháng và mở ra con đường của tự do.

Đức Giêsu dặn các môn đệ đừng lải nhải như dân ngoại (x. Mt 6,7). Còn Êlia gặp Thiên Chúa không phải trong trận cuồng phong hay động đất, nhưng trong tiếng gió hiu hiu rất khẽ (x. 1 V 19,12). Có lẽ phần thầm lặng nhất của Kinh Lạy Cha cũng nằm ở đó, ở nơi chúng ta không xin thêm điều gì cho mình, nhưng lặng lẽ buông tay khỏi một món nợ đã mang quá lâu. Và mỗi khi có một người dám nói lời tha thứ ấy, một sự chữa lành sẽ đến trong chính gia đình hay cộng đoàn ấy.

____________

[1] opheilēma (“nợ”) đi với động từ aphíēmi phát xuất từ ngôn ngữ luật pháp và thương mại; tội được đọc lại như nghĩa vụ chưa hoàn trả. Hans Dieter Betz, The Sermon on the Mount, Hermeneia (Minneapolis: Fortress, 1995), tr. 444.

[2] Betz, sđd., tr. 446: “xét về hình thức, vế 12b không phải một phần của lời nguyện xin, nhưng là một lời tuyên bố sự kiện (a declaration)”; chủ nợ chỉ cần một lời tuyên bố miệng là định đoạt được món nợ.

[3] Động từ aphēkamen ở thì aorist (“chúng con đã tha”), diễn tả hành vi đã hoàn tất; khác với Luca dùng thì hiện tại aphíomen (Lc 11,4). Xc. Betz, sđd., tr. 443.446.

[4] Ml 3,23-24 (bản Hípri; tương ứng Ml 4,5-6): Êlia “đem lòng cha ông trở lại với con cháu… kẻo Ta đến đánh phạt xứ sở bằng án tru diệt (ḥērem)”. Hc 48,10 trích lại chính lời này.

Comments are closed.

phone-icon