Tu luật Thánh Augustinô – Phần IV: Đạo lý chung của Tu Luật

0

 

Phần IV

ĐẠO LÝ CHUNG CỦA BẢN LUẬT

Sau khi đã cùng nhau phân tích những đoạn văn của bản Tu luật, bây giờ chúng ta sẽ tóm tắt những điểm chính và nêu bật vài tư tưởng chính của linh đạo thánh Augustinô[1].

I. LINH ĐẠO THÁNH AUGUSTINÔ

Xét theo thứ tự thời gian, Luật thánh Augustinô được xếp vào những bản văn cổ điển trong lịch sử đời tu, cách riêng về đời tu trì cộng đoàn, với nhiều sắc thái độc đáo. Bản tu luật phản ánh những đường hướng chính của tác giả về hành trình hướng về sự kết hiệp với Thiên Chúa, được thực hiện qua đời sống cộng đoàn.

1. TINH THẦN TU LUẬT

a) Động lực quy tụ các phần tử là yếu tố siêu nhiên, được diễn tả ngay từ đầu như là “hướng về Thiên Chúa” (sit vobis anima una et cor unum in Deum : số 1). Thiên Chúa là đích điểm của hành trình : đây là một tư tưởng then chốt của linh đạo Augustinô. Tâm hồn của con người luôn khắc khoải đi tìm hạnh phúc, và duy chỉ có Thiên Chúa mới mang lại cho nó sự yên hàn. Nhưng đồng thời, Thiên Chúa cũng là Đấng đang hiện diện trong mỗi người chị em như hiện diện trong đền thờ (số 9).

b) Nhân đức bác ái là luật tối cao và là hồn của mọi tương quan giữa các phần tử. Điều này thật quá rõ. Điều đáng chú ý là trong cộng đoàn này, thánh Augustinô nhấn mạnh đến tình huynh đệ kể cả trong tương quan đối với bề trên (chị trưởng, chị nhất praeposita, chứ không phải là viện mẫu, amma).

c) Riêng về việc tuân hành kỷ luật, thánh Augustinô không ngừng nhấn mạnh đến chiều kích nội tâm, chứ không phải chỉ những cái bên ngoài. Chẳng hạn như trong việc “giữ gìn con mắt khi đi đường” (đừng dán mắt vào một người nam, tưởng rằng không ai biết, số 22-23), nhưng thậm chí cả trong khi cầu nguyện (miệng đọc thì lòng suy : số 12). Phải giữ luật vì yêu thích vẻ đẹp tinh thần chứ không vì sợ hãi (số 48).

2. QUAN ĐIM V CNG ĐOÀN

Bản Tu luật này được viết cho các tu sĩ sống trong cộng đoàn, chứ không phải cho các ẩn sĩ. Cách riêng, thánh Augustinô đã bày tỏ ý định muốn tổ chức một cộng đoàn “tông đồ“, nghĩa là :

a) Cộng đoàn hoạ theo khuôn mẫu của cộng đoàn nguyên thủy tại Giêrusalem nói ở sách Tông đồ công vụ (Cv 4,32b.32c.35b : đồng tâm hiệp ý trong đức ái, để chung tài sản).

b) Hướng về hoạt động tông đồ (các đan sĩ là giáo sĩ, và thi hành các công tác mục vụ). Đây là điểm khác với các cộng đoàn đan tu khác, chỉ lo tu thân tích đức. Giữa đời sống đan tu với đời sống giáo sĩ có những liên hệ hỗ tương : đời đan tu hướng đến sinh hoạt giáo sĩ (các đan sĩ chuyên về học hành và giảng thuyết); ngược lại, công tác giáo sĩ được nâng đỡ nhờ nếp sống cộng đoàn đan tu : vix monachus bonus facit bonum clericum.


II. CẨM NANG ĐỜI TU

Trong sách giải thích Tu luật thánh Augustinô[2], cha Humbertus (bề trên tổng quyền dòng Đaminh từ năm 1254 đến 1263) đã vạch ra 6 đặc điểm của đời sống tu trì có thể áp dụng cho tất cả mọi dòng tu chứ không riêng gì cho các tu sĩ tuyên khấn giữ bản luật này. Các đặc điểm đó dựa theo những câu văn nổi bật trong mỗi chương :

1/ Cộng đoàn (status congregatorum) : “chị em hãy sống đồng tâm nhất trí với nhau… Hãy tôn kính Thiên Chúa ở trong chị em” (số 9).

2/ Thống hối (status poenitentiae) : “hãy chuyên tâm cầu nguyện… Thà thiếu thốn chút ít còn hơn dư thừa” (số 18).

3/ Đoan trang (status honestatis excellentis) : “y phục của chị em đừng có gì gây chú ý” (số 19)

4/ Khó nghèo (status necessitatum multarum) : “y phục của chị em phải để chung một nơi” (số 30).

5/ Huynh đệ (status fraternitatis) : “chị em đừng cãi nhau bao giờ” (số 41).

6/ Vâng lời (status subiectionis quod facit obedientia) : “Chị em hãy vâng lời bề trên”.

Chúng ta hãy theo dõi sự giải thích của cha Humbertus.

1. NP SNG CNG ĐOÀN

1/ Nếp sống cộng đoàn mang lại 3 lợi điểm so với đời ẩn tu : nhân đức được thủ đắc, tăng trưởng và kiện cường hơn; các phần tử được nâng đỡ hơn khi sa ngã, khi chiến đấu, khi làm việc thiện; Chúa dễ ban ơn tha thứ hơn, tuôn đổ dồi dào các ơn sủng, nhậm lời cầu nguyện chung hơn.

2/ Nếp sống cộng đoàn được xây dựng trên sự hợp nhất về 3 mặt : việc làm, lời nói và nhất là con tim. Để xây dựng sự đoàn kết ta cần phải dẹp bỏ những chướng ngại như : nhất định bảo vệ ý kiến cá nhân; tình nghĩa riêng; thích tìm an nhàn bản thân; theo ý riêng hơn là tuân theo ý Chúa. Dĩ nhiên, nói đến đoàn kết thì phải hiểu là hợp nhất để làm điều tốt phục vụ Chúa, chứ không phải đồng lòng nhất trí để phạm tội ác !

3/ Tiếp theo sự hợp nhất trong tâm hồn là sự hợp nhất về tài sản. Đây quả là một lý tưởng đẹp, nhưng khó thực hiện bởi vì mỗi người mang sẵn trong mình bản năng chiếm hữu tư sản. Những khó khăn chính của việc để chung tài sản bắt nguồn từ những thói xấu sau :

– Tham lam, hà tiện, ích kỷ;

– Tìm đòi trong nhà dòng những gì mà trước đây mình không có.

Cùng với việc ý thức những trở ngại, cần phải tập các nhân đức siêu thoát, khiêm tốn.

4/ Ngoài sự hợp nhất về tâm tình và về tài sản, cần phải thêm sự hoà hợp về hành động. Có 6 trở ngại cho sự hoà hợp này : khác tính tình; bản năng chiếm tư sản, thiếu quân bình khi phân phối các tài sản chung; ích kỷ khi sử dụng của chung; ham muốn tích lũy, kiêu căng. Sự bất hoà đưa đến việc dèm pha chê bai lẫn nhau. Trái lại, để giữ hoà khí, cần phải biết tôn trọng lẫn nhau, qua việc nhìn nhận những ưu điểm của nhau và bày tỏ những cử chỉ cung kính nhau.

2. NP SNG THNG HI

Tính cách thống hối của đời tu trì được diễn tả qua ba hành vi : cầu nguyện, khổ chế, nhân hậu.

1/ Cầu nguyện. Trước hết cần phải trung thành với những thời buổi cầu nguyện của cộng đoàn. Tiếp đến, hãy dành giờ vào việc cầu nguyện riêng nữa. Dù vậy, không những cần phải cầu nguyện mà còn phải biết cầu nguyện “tốt”, nghĩa là với sự chú ý.

2/ Khổ chế. Nhà giảng thuyết rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, vì thế cần phải bày tỏ sự khổ hạnh nơi nếp sống của mình.

3/ Khoan hậu. Trong đời sống cộng đoàn, cần biết bao dung đại lượng với ba thành phần sau : a) những người đau yếu; b) những người thuộc hạng quyền quý trước khi vào nhà dòng; c) những người dưỡng bệnh.

3. NP SNG ĐOAN TRANG

Người tu sĩ cần biểu lộ tư cách đoan trang qua y phục, cung cách đi đứng, cử điệu thân thể, lối trông nhìn.

Ngoài việc tự giác cảnh tỉnh của mỗi cá nhân, sự sửa bảo huynh đệ là một phương thế hữu hiệu để giúp nhau đạt tới lý tưởng. Sự sửa bảo huynh đệ cần tiến hành theo cấp độ (khuyên lơn, khiển trách, trừng phạt), và luôn biết phân biệt : ghét tội lỗi và yêu tội nhân.

4. NP SNG KHÓ NGHÈO

Tuy đã khước từ tài sản thế gian, nhưng người tu sĩ vẫn còn những nhu cầu cho cuộc sống hàng ngày. Vấn đề cụ thể được đặt ra cho việc phân phối những đồ dùng cần thiết cho các phần tử. Đi từ chuyện phân phát áo mặc và nhận thấy những chuyện so bì lẩm bẩm thường xảy ra, cha Humbertus khuyến khích anh em hãy đi tìm các nhân đức như là y phục để che chở thân thể thiêng liêng, và đồng thời cũng học biết nhường nhịn những khuyết điểm của nhau.

Khi chú giải đến việc làm bạn “đồng hành” để tới các bể tắm nước nóng, tác giả có dịp bàn về những đức tính cần có của một người bạn : biết thương người, biết đón nhận tình thương, dịu dàng, dễ thương, biết chăm sóc những yếu đuối thể chất và tinh thần của người bạn.

Việc phân phối các dịch vụ được đặt ra cách đặc biệt đối với các phần tử đau ốm. Họ cần được đối xử với lòng thương xót dành cho những người nghèo của Chúa Kitô. Các bề trên hãy tỏ ra là những mục tử, y sĩ và hiền mẫu.

Tóm lại, việc phân phối các nhu cầu (của ăn, áo mặc, sách vở, thuốc thang) đặt ra một trách nhiệm cho các bề trên. Đồng thời, các phần tử cũng cần ý thức tinh thần khó nghèo, không tìm cách đòi hỏi quá đáng nơi cộng đoàn, hoặc tệ hơn nữa, xin xỏ bên ngoài cộng đoàn.

Nhân bàn về việc phân phối sách vở, cha Humbertus đã dành ra gần 60 trang để nói về sách vở và học hành trong Dòng Đa Minh (op.cit., p.419-476), từ mối tương quan giữa học hành với đời tu và việc tông đồ, cho đến cách dạy học, viết sách, tranh luận.

5. NP SNG HUYNH Đ

Các tu sĩ phải yêu thương nhau như anh em. Vì thế phải tránh tất cả những gì làm thương tổn đến tình huynh đệ.

Một điều dễ gây bất hoà là sự cãi vã. Đôi khi nó bộc phát từ một người mà thôi; nhưng thường xảy ra là “lời qua tiếng lại” cho nên khó mà phân định ai phải ai trái ! Điều quan trọng là thực hành sự tha thứ cho nhau. Sự tha thứ cần phải thực tâm và đưa tới sự cầu nguyện cho nhau. Lợi dụng cơ hội này, tác giả thêm vài tư tưởng về sự cầu nguyện (tinh tuyền, chú ý, thường xuyên).

Chương này được kết luận với khảo luận về sự thương yêu. Có thứ thương yêu theo xác thịt (xét vì bắt nguồn từ một điều thiện khả giác, hoặc hướng tới một mục tiêu tự nhiên); có thứ thương yêu thiêng liêng, dựa trên nhân đức bác ái. Tình yêu này vừa ở trong thâm tâm, vừa có khả năng diễn ra tác động bất chấp những trở ngại. Nó không tính toán, không mong đền ơn. Thực ra hoa trái cao quý nhất của nó là được Chúa ngự trong lòng, được trở nên con cái Chúa; vì thế nó muốn tuân hành giới răn yêu thương mà Chúa truyền, và chỉ sợ làm trái ý Chúa khi gây xúc phạm cho anh em.

6. VÂNG LI TRONG ĐI TU

Mặc dầu các bậc thánh hiền khuyên ta hãy biết vâng phục cả những kẻ hèn mọn trong nhà dòng, nhưng ở đây cha Humbertus chỉ nói đến sự vâng phục các bề trên. Dĩ nhiên trong Dòng Đaminh, “bề trên” không mang cùng một ý nghĩa như là trong cộng đoàn của thánh Augustinô. Tuy vậy, sau khi đã nói qua các cấp bậc bề trên trong Hội thánh, tác giả đi sâu vào tinh thần của đức vâng phục, với 7 đặc tính mà thánh Bênarđô đã kể ra : thân thương, đơn sơ, vui tươi, nhanh nhẹn, trung thành, khiêm tốn, bền chí.

Ngoài những trang bàn về giá trị của đức vâng lời, cha Humbertus cũng cố gắng đề cập tới những khó khăn của sự vâng lời (về phía bề trên khi truyền những chuyện ngang trái hoặc lố bịch; về phía bề dưới do tính tình bướng bỉnh, vv).

Dựa theo chiều hướng của thánh Augustinô, cha Humbertus muốn đặt tương quan bề trên với bề dưới trong viễn tượng của tình yêu. Bề trên hãy cai quản trong tình yêu mến phục vụ (như một người cha dưỡng nuôi, một người tuần phòng canh thức, một bác sĩ săn sóc, một người lính bảo vệ, một mục tử che chở, một nhà hướng đạo dìu dắt). Bề trên hãy nêu gương sáng cho anh em và biết “sợ” vì trách nhiệm nặng nề. Trái lại, các bề dưới không nên “sợ hãi” bề trên : tuy cần tỏ lòng kính trọng bề trên nhưng đồng thời cũng hãy thương bề trên, yêu mến kẻ được đặt lên để phục vụ cộng đoàn, chia sẻ gánh nặng với bề trên. 

Tu viện Mẹ Vô Nhiễm

 Lễ thánh Augustinô 28-08-2004


[1] Trong phần này, chúng tôi trích lại bài viết của cha Phan Tấn Thành, Tinh thn dòng Đaminh, Roma, 1998, bài 11.

[2] Xem Humbert de Romans, Expositio regulae beati Augustini episcopi, in : Opera de vita regulari, ed. J.J. Berthier vol.I, Romae 1888, p.43-633. Thư mục này được trích từ Phan Tấn Thành, Tinh thn dòng Đaminh, tr. 177tt


Tài liệu tham khảo

BOFF Clodovis, La Regola di San Agostino. La via della comunione dei beni, Cittadella, Assisi 1991. Nguyên tác : A via da comunhã de bens, Rio de Janeiro, 1988

LAWLESS George, Augustine of Hippo and His Monastie Rule, luận án trình ở Angelium, Clarendon Press, Oxford 1987.

MARIE-ANCILLA, Session sur la Règle de saint Augustin, (Tài liệu dành cho sinh viên), Prouille 2001

PHAN Tấn Thành, Tinh thần Dòng Đaminh, Roma, 1998

TRAPÉ A., S. Agostino. La Regola, Ancora, Milano 1971

in :http : /www.augustinus.it/pensiero/commento_regola. htm

Van Bavel Tarsicius. J., The Rule of Saint Augustine. Masculine and Feminine Versions with Introduction and Commentary, Trans. Raymond Canning osa, Darton, Longman & Todd, London, 1984

Comments are closed.