Điển ngữ Thần Học Thánh Kinh – B

0

ĐIỂN NGỮ THẦN HỌC THÁNH KINH

PHÂN KHOA THẦN HỌC GIÁO HOÀNG HỌC VIỆN THÁNH PIÔ X ĐÀ LẠT – VIỆT NAM

Nguyên văn bản Pháp ngữ: Vocalulaire de Théologie Biblique, tái bản lần thứ II: 1971

Bản quyền của Éditions du Cerf, Paris. Nihil obstat

Dalat, die 1 julii 1973

Philippus Gomez, s.j.

B

BA NGÔI

 →Phép rửa IV 2 – Thiên Chúa Tân ước IV – tình yêu I Tân ước 4.

BAAL

→Cha I 1, III 2 – chồng/vợ Cựu ước o – Chúa Cựu ước – dầu 1 – hổ thẹn I 4 – hôn nhân Cựu ước II 1 – ngẫu tượng II 1.

BABEL/BABYLON

Khác với Ai cập* có ý nghĩa mơ hồ trong biểu tượng của Thánh Kinh, Babylon luôn luôn được coi như một quyền lực xấu xa, mặc dù đôi khi Thiên Chúa có thể dùng để thực hiện những ý định của Ngài.

1-Dấu chỉ của Babel.

Cả trước khi dân Israel tiếp xúc trực tiếp với đại đô thị miềm Mesopotamia, thành phố này đã có mặt trong lịch sử thánh. Vì Babel là tên Hy bá của thành Babylon và ngọn tháp nổi danh này đã được nói tới trong Sáng Thế Ký 11,1-9 chỉ là một ngọn tháp có nhiều tầng (hay ziggurat) của đền thờ vĩ đại thành Babylon. Là dấu chỉ tuyệt hảo của việc tôn thờ ngẫu tượng* nơi dân thành, tháp đó còn tượng trưng sự kiêu ngạo* của nhân loại. Vì thế, truyền thống Thánh Kinh đã gắn liền việc hỗn độn của tiếng nói với dấu chỉ Babel: đó là cách Thiên Chúa sửa phạt loài người vì việc tôn thờ ngẫu tượng đầy kiêu căng của họ.

 2-Tai ương của Thiên Chúa.

Nhưng từ thế kỷ VII trở đi, Babylon đóng một vai trò trực tiếp hơn trong lịch sử thánh. Đó chính là lúc dân Kalđêa, sau khi chiếm được đô thị này, đã trù tính cướp đoạt bá chủ miền Trung Đông trong tay dân Ninivê. Là một lực lượng đáng sợ, “lấy sức mạnh* làm Thượng Đế của mình” (Hb 1,11); nhưng Thiên Chúa sẽ dùng quyền lực đó vào công việc của Ngài. Do đó, Babylon góp phần thi hành việc phán xét* của Thiên Chúa đối với Ninivê (Nk 2,2-3,19). Là tai ương của Thiên Chúa giáng xuống Israel và các vương quốc lân bang: Giavê đã giao phó tất cả các quốc gia đó trong tay Nabukodonosor, vua thành Babylon, và họ phải chịu ách đô hộ của nhà vua (Gr 27,1-28,17). Babylon là chén* vàng Giavê dùng làm say sưa các dân tộc (Gr 25,15-29; 51,7). Là búa Thiên Chúa dùng để nện toàn thể trái đất (Gr 50,23; 51,20tt). Nhất là Babylon sẽ thi hành phán xét của Giavê đối với Giuđa (Gr 21,3-7): đó là chốn lưu đày*, nơi Thiên Chúa sẽ thu thập số dân Ngài còn sót lại (Gr 29,1-20). Đây là một thực tại đau xót mà sách các Vua (2V 24-25) đã gợi lên; nhưng “bên bờ sông Babylon”, nơi tiếng ca hát nhường chỗ cho tiếng khóc (Tv 137), những người Do thái bị phát lưu mới thấu hiểu sự đau khổ tinh luyện chuẩn bị cho các cuộc phục hưng sau này.

 3-Thành đô của tội lỗi.

Vai trò thiên định của Babylon vẫn không tránh cho mình khỏi mang tên thành đô* tràn đầy tội lỗi. Cũng như các quốc gia khác, cả chính thành Ninivê nữa (Is 19,24; x. Gn), Babylon được mời gọi để một ngày kia gia nhập dân Chúa (Tv 87,4). Nhưng cũng như Ninivê, nó đã tự mãn vào sức mạnh của nó (Is 47,7t.10; x. 10,7-14). Nó đứng trước Giavê với lòng kiêu hãnh và ngạo mạn (Gr 50,29-32; x. Is 14,13t). Nó cứ gia tăng tội ác: pháp thuật (Is 47,12), sùng bái ngẫu tượng (Is 46,1; Gr 51,44-52), mọi thứ tàn bạo… Nó thực sự trở thành đền thờ của sự gian ác (Dcr 5,5-11), “thành phố của sự hư vô” (Is 24,10?).

 4-Ra khỏi Babylon.

Nếu cuộc lưu đày là một sửa phạt chính đáng cho Israel tội lỗi, thì giờ đây nó là một sự giam cầm* không thể chịu nổi và cũng là một nơi cư trú nguy hiểm đối với Nhóm nhỏ còn lại nhờ thử thách đã biết hoán cải. Khi bảy mươi năm (số* ước định: Gr 25,11; 29,10; 2Sk 36,21) được tiên báo đã trôi qua thì năm tha thứ sẽ đến (Is 61,2; x. Lv 25,10). Cuộc giải phóng hằng mong đợi là một “tin mừng” cho dân Chúa (Is 40,9; 52,7tt). Những người bị lưu đày được mời lìa bỏ thành đô tội lỗi: “Hãy ra khỏi Babylon” (Is 52,8); “Hãy ra khỏi đó, đừng động đến đồ ô uế!” (Is 52,11). Họ sẽ trở về Giêrusalem như trong một cuộc Xuất hành* mới. Đó chính là giây phút mà trong các thế hệ sau mỗi khi hồi tưởng lại, tâm hồn họ sẽ tràn ngập vui sướng (Tv 126,1t). Là một niên hiệu trọng đại mà thánh Mattheô coi như là giai đoạn hướng đến kỷ nguyên Cứu thế (Mt 1,11t).

 5-Phán xét Babylon.

Cùng lúc lịch sử thánh bước vào một khúc quanh mới, Babylon là tai ương của Thiên Chúa, đã đến lượt gánh chịu các án phạt của Ngài. Lời buộc tội thành đô tội lỗi đã được đưa ra. Các sứ ngôn vui mừng loan báo bản án đó (Is 21,1-10; Gr 51,11t). Các vị đã thốt ra trên Babylon những lời than vãn mỉa mai (Is 47). Các vị đã mô tả trước sự sụp đổ khủng khiếp của thành này (Is 13; Gr 50,21-28; 51,27-43). Đó chính là Ngày Giavê* trừng phạt thành đô (Is 13,6…), là cuộc báo thù* của Giavê chống lại các thần Babylon (Gr 51,44-57). Biến cố này đã khởi đầu với cuộc tiến quân khải hoàn của vua Cyrô (Is 41,1-5; 45,1-6); rồi đạo quân của Xerxes sẽ hoàn tất vào năm 485, đến nỗi thành Babylon không còn hòn đá nào chồng trên hòn đá nào (x. có lẽ Is 24,7-18; 25,1-5). Dẫu vậy, Babylon vẫn sống động trong ký ức người Do thái như một thành ngoại đạo điển hình bị kết án diệt vong, và Nabukodonosor và vua Babylon người tiêu biểu cho một loại bạo chúa kiêu căng và phạm thượng (Đn 2-4; Gđt 1,1-12).

 6-Mầu nhiệm của Babel vẫn tồn tại.

Thành đô lịch sử Babylon đã bị sụp đổ khá lâu trước thời Tân ước. Nhưng qua nó, dân Chúa đã ý thức được mầu nhiệm tội lỗi vẫn hoành hành dưới thế này: Babylon và Giêrusalem* đối đầu nhau, đó là hai thành đô phân đôi nhân loại: theo ngôn ngữ Kitô giáo, Giêrusalem là thành đô của Thiên Chúa đối nghịch với thành đô của Satan*. Giáo Hội sơ kahi đã sớm nhận thấy chính mình cũng bị lôi cuốn vào tấm thảm kịch của hai thành đô này. Babylon vẫn luôn luôn chống đối Giêrusalem mới (Gl 4,26; Kh 21). Từ cuộc bách hại của Nêron, Babylon đã mang lấy bộ mặt cụ thể của đế chế Rôma (1Pr 5,13). Sách Khải huyền mô tả dưới tên Babylon, như một gái điếm khét tiếng ngồi trên một mãnh Thú* đỏ thắm say máu các thánh (Kh 17). Babylon có phần liên hệ với con Rồng là Satan* và mãnh Thú là Phản Kitô*. Vì thế, dân Chúa được mời gọi xa tránh Babylon (Kh 18,4) vì án phạt nó đã gần; đại đô thị Babylon sẽ sụp đổ (Kh 18,1-8) và những quốc gia thù nghịch Thiên Chúa sẽ than khóc nó, trong khi đó từ trời cao sẽ vang dội những tiếng tung hô (Kh 18,9-19,10). Đó là đố phận sau cùng dành cho Thành đô tội lỗi; mọi thảm họa lịch sử là một sự hiện đại hóa án của Thiên Chúa cho những quốc gia trần thế chống đối Thiên Chúa và Giáo Hội của Ngài. Trong viễn ảnh đó, sấm ngôn nói về Babylon ghi trong Cựu ước sẽ được hoàn thành theo chiều hướng cánh chung: các sấm ngôn đó được xem như một đe dọa cho chư dân tội lỗi, hiện thân của mầu nhiệm Babylon qua các thời đại.

 JA&PG

→bách hại 3 – chiến tranh Cựu ước III 2 – chư dân – dân C III – giam cầm I – kiêu ngạo 2 – Lễ Ngũ Tuần II 2 d – lưu đày – Phản Kitô Tân ước 2 – quyền năng III o – thành đô – tiếng/lưỡi 1.

BÁC ÁI

 →ân huệ – công trình Tân ước II 2 – đoàn sủng II 2.3 – đói &khát Cựu ước 2; Tân ước 3 – hiệp nhất – hiệp thông – khiêm nhường III – kinh nguyện IV 4 – làm phúc – lương tâm 2 – quả phụ 3 – tình yêu.

BÁCH HẠI

Qua tiến trình lịch sử, dân Thiên Chúa đã có kinh nghiệm về việc bách hại; sự bách hại không tha Con Thiên Chúa xuống trần Cứu chuộc thế gian, lại còn bị thế gian ghét bỏ (Ga 3,17; 15,18), tột đỉnh của cuộc bách hại này chính là sự Thương khó của Người (Mt 23,31t); sau này các môn đệ Người sẽ cùng chung số phận: “Nếu họ đã bách hại Ta, họ cũng sẽ bách hại chúng con” (Ga 15,20).

Dù có liên quan đến mầu nhiệm đau khổ*, mầu nhiệm bách hại lại khác biệt hẳn, đau khổ trở thành một vấn đề vì nó liên quan đến mọi người, cả những người công chính; việc người công chính bị bách hại vì là người công chính làm vấn đề trở nên gay gắt hơn. Cuộc bách hại cũng khác hẳn với những cơn khốn khó khác ngay từ nguồn gốc. Thiên Chúa đã muốn dùng khổ đau để tinh luyện kẻ tội lỗi và thử thách người công chính theo một kế hoạch Tình yêu; kẻ xấu dùng sự bách hại để cố chống lại kế hoạch này và tách lìa con người xa Thiên Chúa. nhưng dù sao, như mọi thứ đau khổ, sự bách hại cũng được Thiên Chúa sử dụng: “Khi đóng định Chúa cả vinh quang, các thủ lãnh thế gian” không biết rằng mình chính là dụng cụ cho ý khôn ngoan Ngài (1Cr 2,6tt). Và Đấng công chính bị bách hại (Cv 3,14) đã thắng thế gian mãi mãi (Ga 16,33). Biết chắc mình cũng bị bách hại (2Tm 3,12), các môn đệ của Người hoan hỷ vui mừng (Mt 5,11t); vì đó là dấu hiệu minh chứng họ không thuộc về phe thế gian đi bách hại (Ga 15,19), nhưng thuộc số những người tôn vinh Chúa Giêsu trong ngày Người toàn thắng mọi sự bách hại (2Th 1,4-12).

 I-MẦU NHIỆM BÁCH HẠI

1-Trong Cựu ước, không những toàn dân thánh phải chịu cảnh chống đối mãnh liệt của dân ngoại, từ ngày sống bên Ai cập (Xh 1,8-14) cho đến thời Roma thống trị, qua bao cuộc khủng hoảng trong lịch sử của họ (x. Tv 44,10-17; 79,1-4; 80,5tt), mà cả các nhân vật cao cấp, các thủ lãnh, vua chúa và nhất là các vị sứ ngôn, thường hay bị bách hại vì họ yêu mến Đức Giavê và trung thành tuân lời Ngài dạy: Môsê bị đồng bào ruồng bỏ (Xh 2,14; Cv 7,27.35) và phải luôn chịu đựng những lời kêu trách (Xh 5,21; 14,11-12; 15,24; 16,3…; Ez 20,13.21; Tv 78,17-42); Đavid bị truy nã (1Sm 19-24) và Êlia cũng vậy (1V 19) Amos (Am 7,10-17), Giêrêmia (Gr 11,18_12,6; 26; 37_38), các vị tử đạo dòng họ Macabê (2M 6_7; 1M 1,57-64; Đn 11,33-35),v.v… Giêrêmia đã coi những cuộc bách hại này không thể tách lìa với sứ mệnh* của ông và chính nhờ đó mà người Tôi Tớ* mới chu toàn ý định* của Thiên Chúa (Is 53,10). Sách Đaniel cũng đồng quan điểm minh chứng cuộc bách hại các người công chính, sự chống đối và lòng trung thành* của họ chuẩn bị Ngày* Phán xét*Vương Quốc* Chúa đến (Đn 7,25tt; 8, 24t; 11,32-35). Sau cùng, sách Khôn ngoan đưa ra ánh sáng nguyên do sâu xa của mọi cuộc bách hại: kẻ vô đạo* ghét* người công chính* vì đó là một “lời quở trách sống động” đối với họ (Kn 2,12tt), đồng thời là một chứng* nhân của Thiên Chúa mà họ không nhận biết (2,16-20); là tay sai của ma quỉ, kẻ bách hại nhắm tấn công Thiên Chúa qua những chứng nhân của Ngài và sự Cứu rỗi của người công chính trong ngày tận thế sẽ phán xét thái độ cứng lòng* tin của kẻ bách hại (3,7-10; 5,1-6).

 2-Chúa Giêsu, Đấng bị bách hại, kết thúc cách hoàn hảo cho cả lớp người chịu đau khổ, bị đàn áp cách bất công do chính những người mà họ được sai đến. Khi kết án Chúa Giêsu, các thủ lãnh dân Israel đã đổ đầy thêm tội ác của cha ông họ và chứng tỏ rằng họ là con cháu những người đã giết các sứ ngôn (Mt 23,31t). Nhưng việc bách hại này, cũng như tất cả những đau khổ* của Đức Giêsu, đều cần thiết để hoàn thành sứ mạng sứ mệnh của Người và thực hiện chương trình Cứu rỗi.

 3-Các môn đệ không thể được đối đãi khác với trường hợp của Thầy mình: theo* Người, như Người và vì Người, họ cũng bị bách hại (Ga 15,20; 16,1tt) họ phải uống chén* của Người và chịu thánh tẩy trong phép rửa* của Người (Mc 10,39ss); trong họ, Chúa Giêsu lại chịu bách hại (Cv 9,4t; x. Cl 1,24): đối với họ chính là một ân huệ (Ph 1,29) (x. Ân sủng*), và vì thế là nguồn phát sinh niềm vui* (1Pr 4,12tt).

Tiên vàn, những người Do thái áp bức họ (Cv 4,1-31; 5,17-41; 8,1-3; 13,50), y như ngày xưa “đứa con sinh ra bởi xác thịt bách hại đứa con bởi tinh thần” (Gl 4,29). Cũng như Chúa Giêsu bị những người thân yêu bội phản trao nộp (Ga 13,18; 18,35; x. Gr 12,6), các môn đệ* cũng bị chính gia đình của họ bách hại (Mt 10,34tt). Còn hơn là sự đối chiếu đơn giản giữa các trường hợp: “Người Do thái đã giết Chúa Giêsu và các sứ ngôn, và họ bách hại chúng tôi…, càng làm cho tội lỗi họ gia tăng” (1Th 2,15t).

Lương dân* cũng truy nã các môn đệ Chúa Giêsu. Đến lượt Rôma, một Babylon* mới, cũng sẽ “say máu* các vị thánh và máu những chứng nhân của Chúa Giêsu” (Kh 17,6); quả thật “tất cả những ai muốn sống trong Đức Kitô đều sẽ bị bách hại” (2Tm 3,12).

 4-Nền tảng của vấn đề.

a)Việc bách hại các hạn hữu Thiên Chúa chẳng quả cũng chỉ là một khía cạnh của cuộc chiến trường kỳ giữa Satan* cùng những lực lượng sự ác và Thiên Chúa và các tôi tớ Ngài, mà kết cuộc là con rắn sẽ bị đạp dập đầu. Từ ngày tội lỗi xuất hiện (St 3) cho đến những trận chiến cuối cùng được diễn tả trong sách Khải huyền, con Rồng vẫn “đuổi theo” người Nữ* và con cháu Bà (Kh 12; x. 17; 19). Cuộc chiến này kéo dài suốt dòng lịch sử, nhưng càng ngày càng lan rộng và dâng cao theo nhịp tiến thời gian. Nó đã tới tột đỉnh trong cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu, đó là giờ* của Quyền lực tối tăm và đồng thời cũng là giờ của Chúa Giêsu, giờ của tử nạn và vinh quang (Lc 22,53; Ga 12,23; 17,1). Trong Giáo Hội, các cuộc bách hại là dấu hiệu và là điều kiện cho chiến thắng* cuối cùng của Đức Kitô và các môn đệ Người. Vì thế mà chúng mang một ý nghĩa cánh chung, vì là một điềm báo của ngày Phán xét* (1Pr 4,17tt) và của công cuộc tái lập hoàn toàn Vương quốc*. Được liên kết vào cơn “tai biến lớn lao” (Mc 13,9-13.14-20) chúng bào trước ngày thế mạt và là điều kiện cho một thế hệ mới khai sinh (Kh 7,13-17).

 b)Nếu những người bị bách hại vẫn trung thành trong thử thách* (Kh 7,14) và hiện là những người đang chiến thắng và “lòng tràn đầy hân hoan”, thì số phận vinh quang của họ không làm ta quên đi khía cạnh bi thảm của hình phạt (x. sửa phạt*) dành cho những kẻ bách hại. Cơn giận* của Thiên Chúa được biểu lộ từ bây giờ đối với người tội lỗi (Rm 1,18), đến thời cánh chung sẽ dồn đổ trên đầu những kẻ cứng lòng*, nhất là trên những kẻ gây ra tay bách hại (1Th 2,16; 2Th 1,5-8; Kh 6,9tt; 11,17t; 16,5t; 19,2). Số phận của họ đã được loan báo trong cái chết thê thảm của Antiokhos Epiphanes (2M 9; Đn 7,11; 8,25; 11,45) được tái diễn trong cái chết của Herode Agrippa (Cv 12,21tt). Mối dây liên kết giữa các cuộc bách hại và sự trừng phạt cánh chung đã được nhấn mạnh trong các dụ ngôn những tá điền vườn nho sát nhân (Mt 21,33-46ss) và bữa tiệc cưới (Mt 22,1-14). Tội ác sau cùng của những tá điền và những bạc đãi mà các tôi tớ sau cùng phải chịu, chất đầy thêm những lăng nhục và làm phát khởi cơn thịnh nộ của Chủ vườn hay của nhà Vua. “Vì chúng đã đổ máu các thánh và sứ ngôn, nên Ngài đã bắt chúng phải uống máu. Thật xứng đáng!” (Kh 16,6; 19,2).

 II-NGƯỜI KITÔ HỮU SỰ BÁCH HẠI

 Người tín hữu sẵn có đức tin* thâm hiểu mầu nhiệm bách hại sẽ tìm thấy trong niềm hy vọng* của mình sức mạnh để vui vẻ chịu đựng; Cựu ước đã cống hiến cho họ những mẫu gương về thái độ này mà chính Chúa Giêsu đã hoàn tất (x. hoàn thiện*) bằng gương mẫu* và lời dạy dỗ của Người.

 1-Các mẫu gương.

Những người công chính trong Cựu ước tất cả đều đã chấp nhận một thái độ kiên nhẫn*trung thành* dũng cảm trong niềm hy vọng* trước các cuộc bách hại. Giêrêmia là kiểu mẫu của lớp người bị bách hại, nhưng vẫn một lòng trung thành và nguyện cầu; những lời “tuyên xưng” của ông vừa là những lời đoan nguyện trung tín vừa là những lời than thở đớn đau; dù điều gì xảy đến, ông vẫn biết rằng Đức Giavê luôn “ở với ông” để bênh vực và cứu thoát ông (td. Gr 1,8.19). Trường hợp người Tôi Tớ đau khổ (Is 52-53) và các tác giả Thánh Vịnh bị bách hại cũng thế: “Lạy Chúa, xin cứu con khỏi tay những người truy nã con” (Tv 7,2): tiếng kêu đầy lo sợ và tín thác này vẫn vang dội trong cả tập Thánh Vịnh. Dù thường có kèm theo những lời kêu xin Thiên Chúa báo thù* (Gr 11,20; 15,15; 17,18) lời cầu nguyện đó vẫn đặt niềm tin vững chắc vào sự Cứu rỗi* mà Thiên Chúa trung thành ban cho những ai thuộc về Ngài (Tv 31,6; x. 23,4; 91,15).

Chúa Giêsu, khi bị bách hại, không những tin tưởng vào Chúa Cha, Đấng hằng ở với Người (Mt 26,53; Ga 16,32), nhưng còn cầu xin cho những kẻ bách hại mình (Lc 23,34); như thế, Người để lại cho các môn đệ một gương mẫu* cao cả về đức ái chịu đựng mọi cuộc bách hại (1Cr 13,7).

Đương đầu với các cuộc bách hại, các Sứ đồ và các Kitô hữu đầu tiên cầu xin được sống tự do và nhờ đó có thể rao giảng Tin Mừng* (Cv 4,29; x. 12,5); họ minh chứng lòng cậy trông và tin tưởng* (Cv 4,13.31; 28,31; Ph 1,20); như Thầy mình, họ tỏ ra kiên nhẫn chịu đựng giữa bao cuộc bách hại (2Th 1,4) và như Người, họ xin Thiên Chúa tha thứ cho những lý hình (Cv 7,60).

 2-Những lời Chúa Giêsu dạy phù hợp với thái độ Người đã sống. Như Người, môn đệ phải cầu nguyện cho những ai bách hại mình (Mt 5,44ss; x. Rm 12,14). Họ phải can đảm đối phó với cuộc bách hại; và nếu họ không được phép liều lĩnh và phải biết trốn khỏi những nơi mình đang bị truy nã (Mt 10,23; Cv 13,50t), thì họ cũng phải biết sẵn sàng vào tù, bị đánh đập và bị giết (Mt 10,16-39; Ga 16,1-4). Nhưng trước những viễn tượng đó, họ không được sợ hãi: Thầy họ đã thắng thế gian* (Ga 16,33), và sau hết, cùng với “những kẻ thuộc về Người, những kẻ đã được gọi, được chọn, những kẻ trung thành” (Kh 17,14), Người sẽ toàn thắng những kẻ bất nhân ra tay bách hại. Những kẻ thù* của môn đệ không làm hại được linh hồn họ (Mt 10,28-31). Thần Thiên Chúa* sẽ giúp họ khi bị điệu ra tòa, nên họ không cần bận tâm lo lắng phải biện hộ cho mình thế nào khi bị kiện tụng* (Mt 10,19t). Ngoài ra, còn cần phải tỉnh thức* và cầu nguyện luôn, vì bách hại là một thử thách*, cám dỗ và nếu tinh thần nhanh nhẹn thì xác thịt lại yếu đuối (Mt 16,41ss).

Thánh Phaolô đã nhắc lại các huấn lệnh của Chúa Giêsu. Ngài nói không có gì có thể tách lìa chúng tôi khỏi lòng yêu mến Đức Kitô, ngay cả bách hại hay gươm giáo (Rm 12,12; 2Th 1,4; x. Mt 13,21ss). Họ biết mình đang tin tưởng* vào ai (2Tm 1,12). Cũng thế, giữa bao bị tử đạo* thời Cựu ước và Tân ước, họ nhìn vào Đức Kitô “Đấng đã từng chịu phường tội lỗi chống đối như thế” môn đệ của Đức Kitô cũng trực chỉ hướng tới đích với lòng kiên gan chịu đựng, không chán nản thất vọng (Dt 11,1-12,3).

 3-Sự vui mừng* trong niềm hy vọng* (Rm 12,12) là kết quả của bách hại được chịu đựng như thế: “Phúc cho chúng con khi bị người ta lăng nhục và bách hại… vì Ta. Hãy vui mừng và hân hoan…” (Mt 5,11t). Lời hứa này của Chúa Giêsu được thực hiện nơi người Kitô hữu “dám hãnh diện trong bao nỗi gian truân, vì biết rằng gian truân phát sinh nhẫn nại, nhẫn nại tôi luyện nhân đức, nhân đức đưa đến cậy trông và cậy trông không làm xấu hổ…” (Rm 5,3tt; x. Gc 1,2tt). Người tín hữu “chan chứa vui mừng trong cảnh gian truân” (2Cr 7,4; 12,10; Cl 1,24; x. Cv 5,41; Dt 10,34). Sự an ủi* trong cảnh gian truân (2Cr 1,3-10) là hoa quả của Thánh Linh (1Th 1,6; Cv 13,52; x. Gl 5,22), đồng thời cũng là dấu hiệu nói lên sự hiện diện của Vương Quốc.

Được viết trong thời thử thách* ghê gớm, sách Khải huyền, tấm gương phản chiếu đời sống Giáo Hội, duy trì trong tâm hồn những người bị bách hại niềm hy vọng đầy hân hoan này, đồng thời bảo đảm cho họ về cuộc chiến thắng* của Chúa Giêsu và công cuộc thiết lập Vương Quốc của Người. Chúa sống lại vẫn luôn gửi tới mỗi người trong họ cũng như toàn thể Giáo Hội sứ điệp này: “Đừng sợ những khổ đau đang chờ đợi con; này Quỉ dữ sắp tống ngục một ít người trong chúng con để thử thách và chúng con sẽ bị thử thách trong người trong mười ngày. Hãy bền lòng trung thành cho đến chết và Ta sẽ ban cho chúng con triều thiên sự sống” (Kh 2,10).

 RD

→Babel / Babylon 2 – bạo lực II, IV 2 – chạy 2 – chiến tranh Cựu ước IV 1 – đau khổ III – hận thù I 2, III 2 – kẻ thù – kiên nhẫn I Tân ước 1; II 1 – lộng ngôn Tân ước 2 – lời chứng Tân ước III 2 – Phản Kitô – Thập giá II 3 – thế gian Tân ước III 2 – thử thách / cám dỗ Tân ước II – toàn phúc Tân ước II – tử đạo 2 – vui Tân ước II 2.

BÀI CA

 →ca tụng II, III – chúc phúc / chúc tụng III 5 – kinh nguyện V 1 – tạ ơn – vui.

 BẦN CÙNG

→đói&khát – nghèo – nhân từ.

BẢN LUẬT

 →Giao ước Cựu ước I 3 – hòm bia Giao ước O, II – Lời chứng Cựu ước II 2 – Luật B – sách II.

BÀN TAY

→cánh tay / bàn tay.

BÀN THỜ

 Trong mọi tôn giáo, bàn thờ là trung tâm của phụng tự* he tế (hb zabah, = hiến tế, nguyên gốc của mizbeah = bàn thờ). Bàn thờ là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa*; Môsê cũng mang một niềm tin như thế khi rảy một phần máu vật hy tế trên bàn thờ, và dùng phần còn lại rẩy trên dân, như vậy họ được hiệp thông với Thiên Chúa (Xh 24,6tt); thánh Phaolô cũng nói: “Những người ăn hy lễ lại không thông phần với bàn thờ sao?” (1Cr 10,18). Trong hy tế* hoàn hảo, dấu chỉ nhường chỗ cho thực tại: Đức Kitô vừa là tư tế, vừa là hy lễ và là bàn thờ.

 1-Từ bia kỷ niệm đến nơi phụng tự.

Khởi đầu, nếu con người xây một bàn thờ, chính là để đáp ơn Thiên Chúa Đấng đã đến viếng thăm họ: công thức thường dùng để diễn tả hành động của các tổ phụ nói lên điều ấy: “Ông dựng một bàn thờ dâng kính Giavê và cầu khẩn Tên* Ngài” (St 12,7t; 13,18; 26,25). Trước khi trở nên một nơi dâng hy tế, bàn thờ là bia tưởng nhớ hồng ân Thiên Chúa đã ban; tên tượng trưng của các bàn thờ ấy là một chứng* tích của hồng ân (St 33,20; 35,1-7; Thp 6,24). Tuy nhiên, bàn thờ cũng là nơi rảy nước, dầu, rượu v.v., dâng hy tế và dầu thơm*. Khởi đầu, nếu người ta có thể bằng lòng với những đá tảng* sơ sài (Thp 6,20; 13,19t), thì người ta cũng sớm tìm cách dựng một bàn thờ bằng đất nhồi hay bằng một tảng đá* để nguyên, chắc chắn là sù sì, nhưng thích hợp hơn cho mục đích của nó (Xh 20,24tt).

Đối với con cháu các tổ phụ, nơi phụng tự có tầm quan trọng lớn hơn việc kỷ niệm cuộc thần hiển đã khai sinh ra nơi ấy; như vậy, nơi ấy thường trở thành một trung tâm hành hương*. Việc coi trọng nơi chốn hơn là kỷ niệm ấy đã biểu lộ trong sự kiện là người ta thường chọn những nơi xưa kia dân Canaan vẫn dùng để cúng tế: như Bêtel (St 35,7) hay Sikhem (33,19t), và sau này Gilgal (Gs 4,20) hay Giêrusalem (Thp 19,10). Thật ra, khi bước chân vào đất Canaan, dân riêng Chúa đã gặp ngay các bàn thờ ngoại giáo mà Luật dạy họ phải thẳng tay tàn phá (Xh 34,13; Đnl 7,5; Ds 33,52); và như thế Giđêon (Thp 6,25-32) hay Giêhu (2V 10,27) đã phá hủy các bàn thờ thần Baal. Nhưng thường thường thì họ thỏa mãn với việc “thanh tẩy” các nơi cao và các đồ phụng tự ở nơi ấy (1V 3,4).

Ở giai đoạn này, bàn thờ cũng có thể góp phần vào sự thoái hóa của tôn giáo vì hai lý do: dân chúng quên rằng bàn thờ chỉ là một dấu chỉ* để đạt tới Thiên Chúa hằng sống, vì họ còn đồng hóa Giavê với các ngẫu tượng*. Thật ra, Salomon đã mở đầu một chính sách khoan hồng cho việc thờ ngẫu tượng do các bà vợ ngoại quốc của ông du nhập vào (1V 11,7t). Akhab cũng sẽ làm như thế (1V 16,32). Akhaz và Manassê sẽ còn đem vào Đền thánh những bàn thờ kiểu ngoại giáo (2V 16,10-16; 21,5). Về phần các sứ ngôn, các ngài đã nguyền rủa việc gia tăng những bàn thờ này (Am 2,8; Hs 8,11; Gr 3,6).

 2-Bàn thờ của đền Thánh Giêrusalem duy nhất.

Việc tập trung phụng tự tại Giêrusalem là một phương thuốc hữu hiệu cho tình trạng này (2V 23,8t; x. 1V 8,63t). Bàn thờ của lễ toàn thiêu từ đây sẽ kết tinh đời sống tôn giáo Israel, và rất nhiều Thánh Vịnh đã nói lên lòng yêu mến của người tín hữu đối với bàn thờ (Tv 26,6; 43,4; 84,4; 118,27). Khi Êzekiel phác họa đền thánh tương lai, thì bàn thờ đã được mô tả tất cả tỷ mỉ (Ez 43,13-17) và quy luật tư tế liên quan đến bàn thờ, lại được gán cho Môsê (Xh 27,1-8; Lv 1-7). Các góc bàn thờ từ lâu đã được nói đến như nơi trú ẩn an toàn (1V 1,50t; 2,28), giữ một tầm quan trọng lớn lao: máu* thường được rảy trên đó, trong các nghi thức xá tội* (Lv 16,18; Xh 30,10). Những nghi thức ấy cho thấy rõ bàn thờ tượng trưng cho sự hiện diện của Giavê.

Đồng thời phận sự các tư tế (x. chức tư tế*) cũng được xác định rõ rệt: các tư tế chỉ là thừa tác viện bàn thờ mà thôi, còn các thầy Lêvi phụ trách việc coi sóc những vật dụng khác (Ds 3,6-10). Tác giả sách Sử ký, người nhấn mạnh tập tục ấy (1Sk 9,26-30), đã viết lịch sử các triều đại ăn hợp với các quy tắc trên (2Sk 26,16-20; 29,18-36; 35,7-18). Sau cùng để tỏ lòng tôn kính bàn thờ, đoàn người đầu tiên từ chốn lưu đày hồi hương quyết xây lại ngay bàn thờ dâng lễ toàn thiêu (Er 3,3tt) và sau này Giuđa Macabê cũng biểu lộ lòng hiếu từ như thế (1M 4,44-49).

 3-Từ dấu chỉ đến thực tại

Với Đức Giêsu, bàn thờ vẫn là thánh*, nhưng là thánh nhờ điều bàn thờ biểu thị. Vậy Đức Giêsu nhắc lại ý nghĩa ấy, ý nghĩa đã bị lu mờ do lối cắt nghĩa của bọn Pharisiêu (Mt 23,18tt) và bị sao nhãng khi thi hành: tiến đến bàn thờ để tế lễ là đến gần Thiên Chúa; người ta không thể làm điều đó với một tâm hồn còn sôi niềm uất hận (5,23t).

Đức Kitô không những chỉ mang lại cho việc phụng tự cũ ý nghĩa đích thực, mà còn kết thúc phụng tự ấy. Trong Đền thờ* mới là thân xác Người (Ga 2,21t), ngoài Người ra không còn một bàn thờ nào khác (Dt 13,10). Vì chính bàn thờ thánh hóa hy lễ (Mt 23,19). Vậy khi tự hiến mình làm hy lễ toàn hảo, Người thánh hóa chính mình (Ga 17,19); Người vừa là tư tế vừa là bàn thờ. Vì thế, thông hiệp mình và máu Chúa tức là hiệp thông* với bàn thờ là chính Chúa, tức là đồng bàn với Người (1Cr 10,16-21).

Bàn thờ thiên quốc mà sách Khải huyền nói đến, có các thánh tử đạo đứng dưới (Kh 6,9), là một bàn thờ bằng vàng có khói hương nghi ngút, ngạt ngào hương thơm quyện theo lời kinh nguyện của các thánh (8,3) bay lên Thiên Chúa, tượng trưng Đức Kitô và bổ túc cho biểu tượng Con Chiên*. Đó là bàn thờ độc nhất với hy lễ duy nhất tỏa hương thơm làm đẹp lòng Thiên Chúa; đó là bàn thờ thiên quốc mà phụng vụ đề cập đến và trên đó Giáo Hội dâng lễ vật lên Thiên Chúa, hợp với lễ vật duy nhất và toàn hảo của Đức Kitô (Dt 10,14). Đối với bàn thờ ấy, các bàn thờ bằng đá của chúng ta chỉ là hình ảnh, đó là điều mà sách nghi lễ đại triều diễn tả và nói rằng: “Bàn thờ chính là Đức Kitô”.

 DS

→dầu thơm/hương thơm 2 – đá 1 – Đền thờ – hành hương Cựu ước 1 – hy tế Cựu ước I 2; Tân ước II 2 – máu Cựu ước 3 – núi II 2 – phụng tự Cựu ước I.

BẠN

 1-“Người bạn trung thành là một của vô giá” (Hc 17,17), làm cho cuộc sống trở nên thú vị (Tv 133; Cn 15,17). Làm sao có thể quên được tình bạn cao đẹp đã ràng buộc Đavid với Gionatha, một tình bạn bộc phát tự nhiên (1Sm 18,1-4), keo sơn trong cơn thử thách (1Sm 19-20), bền vững cho tới mãn đời (2Sm 1,25t) và còn được tưởng nhớ* mãi trong lòng (9,1; 21,7)?

Nhưng nếu có những tình bạn chân thật như thế, thì cũng không thiếu những tình bạn giả dối. Tại sao những người giàu sang có nhiều bạn hữu trong khi những người nghèo khó, những người bệnh tật và những kẻ bị bách hại lại rất ít bạn bè (Cn 14,20; x. Tv 38,12; 55,13t; 88,19; 109,4t; G 19,19)? Tại sao “kẻ ăn cùng bàn với tôi lại giơ chân đạp tôi” (Tv 41,10)? Những kinh nghiệm đau thương này cho người ta biết phải dè dặt (Hc 6,5-13; 12,8-13,23; 37,1-5). Dù thành thật (G 2,12t) đi nữa, tình bạn lại không thể gây nên thất vọng (G 6,15-30) và đưa đến bất lợi sao (Đnl 13,7; Hc 12,14; x. 2Sm 13,3-15)?

Vì vậy, càng già tình bạn thắm thiết: “Rượu mới cũng như bạn mới, nếu cũ đi, anh sẽ hân hoan uống nó” (Hc 9,10), tình bạn này chấp nhận lời trách móc thẳng thắn (Cn 27,5t); nhất là được nuôi dưỡng nhờ lòng kính sợ Thiên Chúa*: “Ai kính sợ Thiên Chúa sẽ là những người bạn tốt, vì ta thế nào thì cũng có bạn hữu như thế” (Hc 6,16t). Thật thế (x. Tình yêu*), mẫu mực và nguồn mạch của tình bạn chân thực là tình bạn mà Thiên Chúa muốn nối kết với loài người, với Abraham (Is 41,8; St 18,17tt), với Môsê (Xh 33,11), với các sứ ngôn (Am 3,7).

 2-Khi phái Con Ngài đến với chúng ta, Thiên Chúa đã tỏ ra là “bạn hữu của loài người” (Tt 3,4); và Đức Giêsu đã mô tả Ngài là kẻ đến cho người bạn khó tính quấy rầy (Lc 11,5-8). Nhất là Đức Giêsu đã mặc cho tình bạn này bộ mặt nhân loại: Người đã yêu thương chàng thanh niên giàu có (Mc 10,21), Người đã thắm thiết yêu thương Lazarô và qua ông tất cả những ai sống lại nhờ Đức tin (Ga 11,3.11.35t). Người có những “bạn hữu” cùng chia sẻ cuộc sống với Người (Mc 3,14), nhưng không phải tất cả đều trở nên “bạn thân” của Người (hl philos); vì vậy mà Giuđa cũng được gọi là bạn (hl hetairos) (Mt 26,50; x. 20,13; 22,12), trong khi đối với các môn đệ khác, Đức Giêsu xác định với họ: “Thầy chẳng gọi các con là Tôi Tớ* nữa, nhưng là bạn hữu” (Ga 15,15); họ chia sẻ những thử thách với Người; họ sẵn sàng đương đầu với đêm Khổ Nạn (Lc 22,28t). Cũng vì vậy mà Đức Giêsu chia sẻ với họ những bí ẩn của Cha Người (Ga 15,15) như giữa bạn hữu với nhau. Kiểu mẫu người bạn của Chúa Giêsu, trung thành đến chân Thập giá chính là “môn đệ mà Chúa Giêsu yêu dấu” (Ga 13,23; x. 21,7.20) và Người đã trối Mẹ Người lại cho môn đệ đó (19,26).

Những người Chúa đã chọn làm bạn hữu, không thể không cảm thấy được liên kết với nhau trong tình bằng hữu. Tất nhiên không phải là không gặp sóng gió: Như Phaolô, dù kết hợp với anh em người do nhiều liên lạc vững bền (x. Rm 16,1-16), và luôn luôn lo lắng đến họ (x. 1Th 2,7-12; 2Cr 11,28t) ngài cũng gặp khó khăn trầm trọng với Barnabê (Cv 15,36-39) và cả với Phêrô nữa (Gl 2,11-14); vào cuối đời, ngài cảm thấy hầu như cô độc, thiếu tình bạn hữu (2Tm 4,9-14). Nhưng qua cơn khủng hoảng này, một tín hữu vẫn luôn tin chắc rằng, ý Chúa muốn, là duy trì tình huynh đệ giữa các môn đệ Ngài (Ga 15,12tt); hình ảnh của tình bạn nơi cộng đồng sơ khai (Cv 2,44t; 4,32) vẫn luôn là lý tưởng và là sức mạnh cho tất cả mọi Kitô hữu.

 3-Bạn của Tân Lang.

Tục lệ hôn nhân* nơi Israel đòi hỏi phải có một “người bạn của tân lang”, người bạn này có bổn phận sửa soạn cuộc rước dâu, và làm trung gian của đôi tân hôn cho tới giờ lễ, lúc mà anh dẫn người vợ trẻ trình diện chồng nàng. Người ta gặp các ám chỉ tục lệ này qua những đoạn văn diễn tả Chúa là Tân Lang (Chồng*) của Israel. Bạn của Ngài là vai trò sứ ngôn, ta thán sự bất trung của người vợ (Is 5,1-7). Đó cũng là vai trò của Gioan Tẩy Giả sửa soạn cho loài người gặp Chúa, và rồi rút lui vào bóng tối lòng tràn đầy niềm vui chung (Ga 3,28tt). Sau cùng đó là vai trò của thánh Phaolô “đính ước” cộng đồng Corinthô với Chúa Kitô (2Cr 11,2); nhưng sau đó khi gặp lại hình ảnh này, Vị Sứ Đồ biết rằng, thật sự chính Tân Lang đã đi bước đầu; Ngài “tự giới thiệu cho mình” người vợ, và nàng chỉ có thể làm đẹp lòng Ngài, khi Ngài đã ban cho nàng đầy ân huệ (Ep 5,27): Như vậy chính Tân Lang giữ vai trò của người “bạn” khi xưa.

 CW

→anh em – bữa ăn I, III – Gioan Tẩy Giả 2 – kẻ thù – lân cận – phụng sự III 2 – Tình yêu – Tôi Tớ Thiên Chúa III 3.

BẰNG CHỨNG

 →dấu chỉ – lời chứng – thử thách/cám dỗ.

BÁNH KHÔNG MEN

 bánh II 3 – lễ Cựu ước I – trong sạch Tân ước III 3 – Vượt Qua I 3, III 2.

 BÁNH

 Bánh, ân huệ của Thiên Chúa là một nguồn sinh lực cho con người (Tv 104,14t), một nhu cầu sinh tồn chính yếu đến nỗi thiếu bánh tức là thiếu tất cả (Am 4,6; x. St 28,20). Cũng vậy, trong lời cầu nguyện Chúa Kitô dạy các môn đệ Người, hầu như bánh đã tóm được tất cả những ân huệ* cần thiết cho chúng ta (Lc 11,3). Hơn nữa, bánh còn được chọn như dấu chỉ của ân huệ lớn lao nhất trong các ân huệ (Mc 14,22).

I-BÁNH HẰNG NGÀY

1-Trong đời sống thường ngày, hương vị của bánh tùy thuộc vào hoàn cảnh sống. Người đau khổ và xemm ra bị Thiên Chúa chối bỏ ăn một thứ bánh gọi là “nước mắt”, lo sợ hay là “tro than” (Tv 42,4; 80,6; 102,10; Is 30,20). Người vui mừng ăn bánh trong niềm hân hoan (Gs 9,7). Với người tội lỗi, người ta bảo rằng y ăn bánh vô đạo hoặc gian dối (Cn 4,17), với kẻ lười biếng: bánh nhàn cư (Cn 31,27). Đàng khác bánh không phải chỉ là một nhu cầu sinh tồn: nó cần phải được chia sẻ. Bất kỳ một bữa ăn* nào cũng đều giả thiết một cuộc tụ họp và một sự hiệp thông* nữa. Thường ăn bánh với ai, tức là bạn* người ấy và hầu như là bạn chí thiết (Tv 41,10 = Ga 13,18). Nghĩa vụ hiếu khách* thật thiêng liêng, nghĩa vụ ấy đã khiến bánh của chính bản thân thành bánh của lữ khách qua đường do Thiên Chúa sai đến (St 18,5; Lc 11,5. 11). Nhất là từ thời lưu đày*, người ta nhấn mạnh đến sự cần thiết chia sẻ bánh cho người nghèo đói: đó chính là lối thể hiện tình bác ái huynh đệ cánh tốt đẹp nhất trong tinh thần hiếu từ* của người Do thái (Cn 22,9; Ez 18,7. 16; Gb 31,17; Is 58,7; Tb 4,16). Khi dạy bảo dân Corinthô tổ chức cuộc lạc quyên cho các “thánh”, Thánh Phaolô đã nhắc nhở cho họ biết rằng tất cả mọi ân huệ đều do Thiên Chúa mà đến, bắt đầu bằng bánh (2Cr 9,10). Sau cùng, trong Giáo Hội Kitô giáo, “bẻ bánh” chỉ nghi thức thánh thể, bánh được bẻ ra cho hết mọi người: Mình Chúa Kitô trở nên chính nguồn hợp nhát cho Giáo Hội (Cv 2,42, 1Cr 10,17).

 2-Bánh ân huệ của Thiên Chúa.

Sau khi đã tạo dựng con người (St 1,29) và một lần nữa sau lụt hồng thủy (9,3), Thiên Chúa dạy cho con người biết những gì con người có thể ăn; và phải lao khổ truân chuyên, con người tội lỗi mới kiếm được lương thực nuôi thân. “Ngươi ăn bánh mà ngươi kiếm được với mồi hôi” (3,19). Từ đó, bánh trở thành như một dấu chỉ: được dồi dào là vì Thiên Chúa chúc phúc* (Tv 37,25; 132,15; Cn 12,11), còn thiếu hụt có nghĩa là sửa phạt* tội lỗi (Gr 5,17; Ez 4,16t; Aic 1,11; 2,12). Con người vì thế phải khiêm nhường xin Thiên Chúa ban bánh cho và kiên nhẫn đợi chờ. Về điểm này, những bài tường thuật việc hóa bánh nên nhiều có đầy đủ ý nghĩa. Phép lạ do Êlisê thực hiện (2V 4,42tt) diễn tả sự dư đầy ân huệ của Thiên Chúa. “Người ta sẽ ăn và sẽ còn dư”. Lòng tin tưởng khiêm nhường cũng là bài học đầu tiên của những bài tường thuật trong Tin Mừng. Mượn của Thánh Vịnh (78,25) công thức “tất cả đã ăn no nê” (Mt 14,20ss; 16,37ss; x. Ga 6,12) những bài tường thuật ấy gợi lên “Bánh hằng ngày” (Mt 6,11) như những người con tin tưởng mong đợi tất cả nơi Cha mình ở trên trời (x. Mt 6,25ss).

Sau cùng, bánh là ân huệ tối cao của thời cánh chung, hoặc riêng cho từng người (Is 30,23) hoặc trong bữa tiệc của Đấng Mêssia đã hứa ban cho những ai được chọn (Gr 31,12). Những bữa ăn* giữa Chúa Giêsu và các môn đệ Người chuẩn bị cho bữa tiệc cánh chung (Mt 11,19ss), và nhất là bữa tiệc thánh thể, trong đó bánh mà Chúa Kitô ban cho các môn đệ là “Thân Xác Người”, ân huệ thật của Thiên Chúa (Lc 22,19).

 II-BÁNH TRONG VIỆC PHỤNG TỰ

1-Luật tư tế dành một tầm quan trọng đặc biệt cho những “bánh tiến” đặt trong Đền thờ trên một cái bàn với những chiếc bình dùng để tiến rượu (1V 7,48; 2Sk 13,11; x. Xh 25,23-30). Nguồn gốc những “bánh tiến” này hình như đã có từ xưa (1Sm 21,5t). Có thể đó là một thứ phản ánh của tâm tình tôn giáo xưa kia khi người ta dâng cúng thực phẩm* cho các thần. Đối với Israel, dân mà Thiên Chúa khước từ không nhận tất cả mọi thứ thực phẩm của họ (Tph 13,16), những bánh này trở nên biểu tượng của sự hiệp thông* giữa Thiên Chúa và những người trung thành với Ngài; các tư tế sẽ trưng dụng những bánh ấy (Lv 24,5-9).

 2-Bánh đầu mùa là một phần trong của lễ mang theo vào ngày lễ Ngũ Tuần (Lv 23,17). Kiểu nói “trong cử điệu dâng hiến” chứng tỏ rằng bánh biểu hiệu lòng biết ơn về ân huệ Thiên Chúa ban như hết thảy mọi phụng tự của đầu mùa* (x. Xh 23,16. 19). Bánh ấy tất nhiên thuộc về vị tư tế, đấng đại diện Thiên Chúa (Lv 23,20; x. Ez 44,30; Ds 18,13). Đó cũng chính là một ý hướng nhắm nói lên lòng biết ơn, và cũng chính trong một ý hướng đó Melkisêđê, vua và tư tế, đã dâng bánh và rượu cho Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa (St 14,18tt).

 3-Từ những bộ luật lâu đời nhất, bánh không men vẫn kèm theo các hy tế (Xh 23,18; 34,25) và là thực phẩm nuôi dân Israel trong ngày lễ mùa xuân (23,15; 34,18). Men bị loại bỏ khỏi những lễ vật phụng tự (Lv 2,11); có lẽ người ta thấy ở đấy một biểu tượng của sự suy đồi. Dù sao đi nữa thì trong ngày lễ điền thổ bánh không men được sát nhập vào với nghi lễ hiến tế của ngày lễ Vượt Qua*, việc dùng bánh không men lại liên quan tới việc ra khỏi Ai cập: dĩ nhiên ý nghĩa chính của nó phải là lên đường vội vã đến nỗi người ta không còn kịp chờ men làmm dậy bột (Xh 12,18.11.39). Cõ lẽ nguồn gốc của lễ chế này đơn thuần chỉ là một tập quán của đời sống du mục còn sót lại trong đời sống định cư ở Canaan. Về sau, người ta thêm vào đó ý tưởng canh tân: men cũ phải biến đi (12,15). Thánh Phaolô lấy lại hình ảnh ấy để thuyết phục những người đã chịu Phép Rửa phải sống với tư cách những con người mới* (1Cr 5,7t). Việc dùng bánh trong phụng tự sẽ hoàn thành* trong phép Thánh Thể*: sau khi hóa bánh nên nhiều bằng những cử chỉ có tính cách phụng vụ (Mt 14,19ss), Chúa Giêsu, trong bữa Tiệc Ly, truyền cho các sứ đồ phải làmm lại tác động này, tác động mà người đã làm cho bánh trở thành Thánh Thể Người như của lễ hy tế và bí tích hiệp nhất của các tín hữu (1Cr 10,16-22; 11,23-26).

 III-BÁNH LÀ LỜI CHÚA

Khi rao giảng về sự đói khát Lời Thiên Chúa*, sứ ngôn Amos (8,11) so sánh bánh với Lời (x. Đnl 8,3 manna). Sau này, khi nhắc tới bữa tiệc của Đấng Messia, các sứ ngôn và các hiền nhân đều nói về thứ bánh chỉ Lời hằng sống (Is 55,1tt), sự Khôn ngoan của Thiên Chúa như một người (Cn 9,5t; Hđ 24,19-22; x. 15,1tt). Đối với Chúa Giêsu cũng vậy, bánh biểu tượng Lời của Thiên Chúa mà nhờ đó người ta phải sống mỗi ngày (Mt 4,4). Đối với những ai mong ước được ăn bánh trong vương quốc cánh chung (Lc 14,15), Chúa Giêsu trả lời bằng dụ ngôn “những kẻ được mời”, một dụ ngôn trước tiên nhằm nói tới sự chấp nhận chính Người và sứ điệp Người. Đặt bản tường thuật đầu tiên về việc hóa bánh nên nhiều trong mạch văn giáo huấn, hình như Thánh Marcô muốn dẫn dụ rằng bánh này biểu tượng Lời Chúa Giêsu và đồng thời cũng là Mình Người chịu giao nộp (Mc 6,30.34). Theo Thánh Gioan, Chúa Giêsu Mạc khải ý nghĩa của phép lạ này bằng cách quả quyết rằng Người là bánh thật (Ga 6,32t). Trước hết Người tự giới thiệu như Lời phải tin (6,35-47). Bởi Lời Nhập Thể này đã hiến dâng làm hy lễ thì sự tham phần của Đức tin thiết yếu cũng phải bao hàm niềm hiệp thông với hy lễ này trong nghi thức Thánh Thể (6,48-58). Là lương thực cần thiết và là ân huệ Chúa ban, xét ngay theo chính vật chất tính của nó, bánh tín hữu xin Thiên Chúa mỗi ngày với đà phát triển của Đức tin có thể biểu thị Lời Thiên Chúa và chính Ngôi Vị của Đấng Cứu chuộc chịu hiến tế; Người là bánh thật bởi trời, bánh sự sống, hằng sống và sinh động (6,32.35.51)

 DS

→bữa ăn – đói & khát – hiệp thông Tân ước – manna – phép Thánh Thể – sự sống IV 2 – thực phẩm.

 BẠO CHÚA

 →Babel/Babylon 5.6 – kiêu ngạo – quyền năng III 1.

BẠO DẠN

 →hãnh diện – giải phóng/tự do III 3 a – tin tưởng.

BẠO LỰC

 Nói tới bạo lực, thường chúng ta nghĩ ngay tới sự tàn phá thô bạo, sự cưỡng hiếp hoặc vi phạm; nhưng sự thực phải nhìn nhận một sinh lực là nguồn gốc của bạo lực, và để duy trì được như vậy, nó lại có khuynh hướng tàn phá chính đời sống… Không ảo tưởng, Thánh Kinh diễn tả tình trạng nơi nhân loại đang sống: Những sinh lực và quyền năng sự chết luôn ở trong thế quân bình tạm bợ, mà trật tự bên ngoài thường chỉ là một bức phóng họa hài hước. Nhất là Thánh Kinh còn Mạc khải cho chúng ta: quan niệm cánh chung của một thời đại mà đời sống triển nở không cần bạo lực sẽ được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô (x. Is 11,5-9; Kh 21,4). Để khỏi lạc đề, chúng ta cần tìm hiểu hai từ ngữ nói lên khá đầy đủ ý tưởng bạo lực: từ ngữ Hy bá (hms) thật là minh bạch, còn từ ngữ Hy lạp (biazomai) chỉ nói lên phần nào sắc thái cưỡng bách (áp chế, nài nỉ).

 I-MÔ TẢ

1-Hành động bạo lực có thể được xác định bằng ý tưởng vi phạm một tiêu chuẩn; các dịch giả Cựu ước người Hy lạp cũng hiểu theo tư tưởng này khi họ thường diễn tả từ ngữ hms bằng một danh từ cùng tộc ngữ với adikia, chỉ sự bất công. Theo phong tục đường thời, Simêon và Lêvi dĩ nhiên phải phục thù cho cô em gái Đina vừa bị hãm hiếp (St 34,2), nhưng vì hai ông đã đi quá xa trong việc báo thù*, nên gươm giáo các ông dùng tàn sát quân hiếp dâm, lại bị chính cha các ông cho là “những khí cụ bạo lực” (49,5). Dân chúng và những tư tế đã vi phạm Luật (Ez 22,26; Sô 3,4), họ đã xảo quyệt vi phạm công lý xã hội (Sô 1,9), họ vi phạm luật pháp (Ez 45,9). Thường bạo lực vẫn đi đôi với dự mưu hoặc với sự vi phạm những qui tắc ngôn ngữ: cạm bẫy (Tv 140,2) hố sâu trước kẻ lân cận (Tv 7,17), mưu mẹo xảo trá (Tv 72,14), gièm pha (Tv 140,12) ngón lừa đảo (Ml 2,16) nhưng nhất là chứng gian* (Xh 23,1; Đnl 19,16; Tv 27,12; 35,11), mà người công chính* kiêng tránh bằng lời cầu nguyện tinh tuyền (G 16,17).

 2-Chúng ta có thể hiểu rõ bạo lực hơn khi nhìn vào hậu quả quan trọng của nó: sự tàn phá đời sống thể lý hoặc xã hội; trong trường hợp này, từ ngữ bạo lực thường đi đôi với một từ ngữ khác chỉ sự bóc lột, áp chế, hủy hoại, đổ nát. Các sứ ngôn đã khóc than tình trạng mà dân chúng đang bị nhận chìm trong bạo lực (Am 3,10; Gr 6,7; 20,8; Is 60,18) và các ngài kêu cầu Giavê Đấng duy nhất có thể cứu vãn dân khỏi tình thế bất công này (Hb 1,3). Quả thực Thiên Chúa ghê tởm những kẻ dùng bạo lực (Tv 11,5; Ml 2,16): Ngài chẳng gây cảnh lụt lội vì “mặt đất đầy dẫy bạo lực” (St 6,11.13) đó sao? Cũng vậy, chúng ta đã không ngừng nghe tiếng những kẻ bị áp chế van xin được giải phóng khỏi ách quân hung bạo (2Sm 22,3.49; Tv 18,49; 140,2.5). Những nạn nhân này hy vọng  một đòn trả đũa xứng đáng: “Chớ gì sự dữ tróc nã quân hung bạo trả đũa chúng những đòn liên tiếp” (Tv 140,12). Tuy vậy, lý tưởng từ bỏ hoàn toàn cũng được phô diễn trong dung mạo Người Tôi Tớ Thiên Chúa*, Đấng bị khâm liệm với những kẻ hung ác, “dầu Ngài đã không dùng bạo lực, cũng chẳng hề dối trá quỷ quyệt” (Is 53,9).

 3-Cái nhìn sơ lược về những cách dùng từ ngữ hms ở trên cho phép chúng ta rút ra một vài điểm đáng lưu ý. Bạo lực đã không bị đồng hóa với sức mạnh, với sự phục thù, với cơn phẫn nộ, hoặc với lòng nhiệt thành: thực vậy những cách biểu lộ sinh lực  khác nhau đôi lúc có thể tạo nên sự tàn phá đời sống; nhưng chúng không nhất thiết bao hàm điều mà nhãn giới Cựu ước coi như đặc tính chính của bạo lực, nghĩa là sự vi phạm một tiêu chuẩn. Dầu vậy, chúng ta cần lưu ý: “tiêu chuẩn” này được ấn định do “trật tự tự nhiên” không thể hủy bỏ được như quan niệm Hy lạp vẫn hiểu; nhưng theo thời ấy, nó được định nghĩa bằng sự công chính*, nghĩa là bằng chính Thiên Chúa của Giao ước*, Ngài là cùng đích và quan án mọi hành động. Đó là ý nghĩa trần thế và thần học chúng ta phải hiểu khi thẩm định giá trị, ý nghĩa của bạo lực trong Cựu ước.

 II-TRƯỜNG HỢP

 Theo tiêu chuẩn trên, chúng ta có thể gợi lại những trường hợp Thánh Kinh đã mô tả bạo lực mà không dùng tới từ ngữ hms. Khi giết Abel*, Cain đã phạm một hành động bạo lực: Chúa phán: “Tiếng máu em ngươi từ đất thấu đến Ta” (St 4,10). Thiếu ôn hòa, Lamec “giết một người chỉ vì một vết thương” (4,23). Israel đã bị đàn áp (innah, do chữ anah, cùng gốc với anawim, có nghĩa những kẻ nghèo* khó) bên Ai cập (Xh 1,12; Đn 26,6; x. 2Sm 7,10). Khi lên án sự hiếp dâm, một hành động phá hủy những tương quan xã hội vì không thèm đếm xỉa đến sự thỏa thuận của người bạn, luật Do thái đã lên án hành động này như một bạo lực bất khả biện giải (Đnl 22,24.29; x. St 34,2; Thp 19,24; 20,5; 2Sm 13,12.14; Ai 5,11: tiếng Hy lạp tapeinoô). Đavid sai giết Uria, chồng nàng Bethsabê, bằng cách xảo quyệt lợi dùng cuộc thánh chiến* (2Sm 11,15); đàng khác, bất chấp những nguyền rủa của Shimêi (16,7t; 19,19-24), Đavid đã không cư xử như kẻ khát máu đối với nhà Saolê, hai lần ngài đã tha Saolê (1Sm 24; 26), tuy vậy Saolê vẫn không ngừng gài bẫy phục kích ngài (18,10t; 19,9-17). Akhab cũng dùng bạo lực khi tiếm đoạt vườn nho Nabot đã bị ném đá do chứng gian Giêrabel mưu lược sắp xếp (1V 21,8-16). Cuối cùng chúng ta cũng phải đề cập đến vô số những trường hợp gian tham* hoặc bách hại*, thảm sát, dấy loạn, tất cả đã tạo câu chuyện Thánh Kinh thành một thiên trường sử về bạo lực của con người cho mãi tới thời Chúa Giêsu (Lc 13,1; Mc 15,7; x. Mt 2,16).

 III-GIAVÊ VÀ BẠO LỰC

Nhìn bề ngoài, cách hành động của Giavê thật khó hiểu; chắc chắn Ngài không chấp nậhn mọi sự vi phạm công lý, nhưng dường như đôi lúc Ngài tỏ ra làm ngơ, chuẩn y hoặc hơn nữa thực hiện những hành động mà chúng ta coi như bạo lực. Phải nghĩ sao về điều đó?

 1-Chắc chắn, Thiên Chúa kết án mọi bạo lực bất công.

Nhưng Ngài thực hiện cách tiệm tiến tùy theo thời đại mà dân Ngài đang sống. Vì vậy, Ngài đã chấp nhận luật báo phục (Xh 21,24) chứng tỏ một bước tiến đáng kẻ so với thời Lamec (St 4,15.24); Ngài quở trách những trọng tội không được phạm: như những tội Amos đã mô tả theo những luật lệ thời ông, đó là những bạo lực bất khả biện giải: như phát lưu dân chúng mà không tôn trọng tình huynh đệ huyết nhục, mổ bụng đàn bà thai nghén, thiêu hủy xác chết, bài xích Luật Chúa, đè bẹp những người thấp cổ bé họng (Am 1,1-2,8).

Giavê đã bênh vực Israel bị đàn áp tại Ai cập (Xh 3,9); Ngài đòi hỏi họ cũng phải có thái độ tương tự đối với người yếu thế: “Các ngưi chớ áp bức ngoại kiều, các ngươi đã mang tâm trạng này, vì chính các ngươi đã phải cư ngụ trong nước Ai cập xưa” (23,9). Như vậy, Thiên Chúa tự trở thành Đấng bảo vệ những nạn nhân của bất công nhân loại, và đặc biệt hơn, của kẻ mồ côi, quả phụ*, nghèo* đói (Xh 21-23; Đnl 24,20).

 2-Đàng khác, suốt thời gian giáo dục* Israel giữa những dân thờ ngẫu tượng, cho tới thời Đấng Messia Giáng sinh, Thiên Chúa của Giao ước luôn coi trọng tình cảnh sống của dân Ngài và nhân danh Giao ước, Ngài tỏ mình như một Thiên Chúa khủng khiếp của chiến tranh. Ngài tiêu diệt những con đầu lòng Ai cập (Xh 12), Ngài đòi hỏi biệt hiến* (Gs 7) và tự cầm đầu trận chiến (td. 2Sm 5,24). Ngài ưng thuận sức mạnh* phục thù và phá hủy của Samson (Thp 15-16), cũng như chuẩn nhận lòng nhiệt thành* đến độ tiêu diệt những kẻ vi phạm Giao ước (Ds 15,11).

Dầu vậy, theo nhãn giới Thánh Kinh, Thiên Chúa vẫn không bị coi là kẻ ưa bạo lực, vì Ngài không hề vi phạm Giao ước mà chính Ngài là tác giả và là người bảo đảm. Nhưng Ngài chứng tỏ rằng một điều thệin cao hơn có thể hủy diệt cuộc sống* trần thế: hơn nữa Ngài muốn công bố trận chiến* cánh chung và tiêu diệt không chút xót thương sự dữ nơi trần gian. Tuy nhiên, chúng ta không được quyền bắt chước thái độ này để chiếm đoạt địa vị trong cục diện chính trị hiện nay, vì làm như thế sẽ là một thái độ phủ nhận những hoàn cảnh khi Thiên Chúa tự Mạc khải.

 3-Vẻ tương phản nơi hành động của Giavê được phản ảnh trong lối trình bày Thiên Chúa sống động, mà qua Mạc khải Thánh Kinh nó được tinh luyện dần dần. Đầu tiên, Thiên Chúa* tỏ mình trong sự vi phạm điều người ta vẫn gọi là sự vận hành bình thường của vạn vật, như ở Sinai (Xh 19). Nhưng sau này, Êlia hiểu rằng Thiên Chúa không còn hành động như giông tố, bão táp hoặc như những trận động đất nữa, nhưng chỉ như tiếng thì thầm êm nhẹ (1V 19,11), Đấng Messia*, ban đầu được nhìn qua dung  mạo vị vua hiếu chiến đập tan những đầu não phản loạn (Tv 110,5t; Gr 17,25; 22,4), Ngài sẽ đến dưới những nét của một “vị vua khiêm nhu, hiếu hòa cỡi trên lưng lừa mẹ” (Dcr 9,9; St 49,11; Thp 5,10). Cuối cùng, Đấng Tôi Tớ Thiên Chúa*, nơi Người, những Kitô hữu sẽ thấy hình bóng* sứ ngôn của Đức Giêsu, Người tin tưởng* hoàn toàn ở Chúa và chiến thắng bạo lực bằng chính sự tự nguyện chịu đựng bạo lực; Người không chống cự lại kẻ dữ (Is 50,5t), cũng không phạm điều xảo quyệt và bạo lực (53,9).

 IV-CHÚA GIÊSU VÀ BẠO LỰC

 Chúa Giêsu tới, người đương thời và mọi người ngạc nhiên trước cách hành động thật phức tạp của Người. Để giải thích đúng đắn, chúng ta không có quyền tự ý chọn những hành động này hoặc những lời nói kia theo những ưa thích hoàn toàn chủ quan, nhưng phải nắm vững viễn tượng mà chính Chúa Giêsu đã tự đặt mình vào.

 1-Vương Quốc Thiên Chúa đã đến bất ngờ cùng với Đức Giêsu và, trái với niềm mong đợi của dân Do thái, Nước Chúa gây nên bạo lực. “Từ ngày Gioan Tẩy Giả đến nay, Nước Trời bị tấn công bằng bạo lực (biazetai) và những kẻ dùng bạo lực (biastai) chiếm đoạt được nước ấy” (Mt 11,12). Theo cách chú giải có lẽ đúng nhất (biastai luôn chỉ những kẻ công kích, địch thù), Chúa Giêsu muốn nhắm tới những đối thủ ngăn cản người káhc gia nhập Nước Trời. Nhưng Thánh Luca đã hiểu câu nói trên theo ý nghĩa Lc 13,24: Chúa mời gọi môn đệ “Hãy gắng sức vào (agonizesthe) qua cửa hẹp”: “Thời đại của Luật và Sứ ngôn kéo dài đến tận thời Gioan; từ lúc đó Tin Mừng của Vương Quốc Thiên Chúa được loan báo và mọi người tranh đấu (biazetai) để tiến vào” (16,16). Vương quốc Thiên Chúa đến thả lỏng bạo lực, mà vì không có những từ ngữ thích đáng nên rất khó xác định đặc tính của nó, nhưng chính Chúa Giêsu đã không giấu giếm bạo lực ấy.

2-Đối diện với một trận tự bất công làm ngăn trở Vương Quốc Thiên Chúa, tùy mức độ nó không chịu đón nhận Vương quốc đó, tiếp theo đường hướng các sứ ngôn*, Chúa Giêsu phản kháng bằng hành động và lời nói mà những kẻ bảo thủ trật tự cố hữu cho là hung bạo: những hành động và lời nói đó làm họ bối rối không phải vì chúng thái quá nhưng vì chúng vi phạm Luật rõ ràng. Như vậy Chúa Giêsu xóa bỏ quan niệm sai lầm cho rằng Kitô hữu phải luôn nhận sự bất công, và nêu rõ những đòi hỏi bác ái. Người xua đuổi những kẻ buôn bán khỏi Đền thờ (Mt 21,12t ss; Ga 2,13-22). Người vi phạm những tục lệ tôn giáo, xã hội và ngôn ngữ. Người là chủ ngày Sabbat* (Mc 2,28). Vì Người không đến để mang hòa bình giả dối mà các sứ ngôn đã chê trách (x. Gr 6,14), nhưng mang gươm giáo (Mt 10,34; x. Lời Chúa 12,51), nên Người gây mối bất hòa cả trong cơ chế đáng kính nhất như gia đình, Người chia rẽ cha mẹ với con cái, anh em với chị em, vì tiếng gọi của Người (Mt 10,35tt ss). Mạnh mẽ hơn nữa, Người phản đối cả bổn phận thiêng liêng tôn kính cha mẹ: “Hãy để kể chết chôn kẻ chết” (Lc 9,60ss). Người đảo lộn cả nõi lo lắng tự nhiên để bảo đảm toàn thân thể: “Nếu mắt và tay ngươi nên cớ vấp phạm, hãy móc và chặt quăng đi” (Mt 5,29t ss)! Trong tất cả những hành động trên, trật tự bị vi phạm vì nó bất công, không phải trong chính nó, nhưng trong tương quan với một thực tại mà Chúa Giêsu cho là cao trọng hơn: Nước Thiên Chúa. Về phần những đầu mục của trật tự này, Người gọi họ là những kẻ giả hình, những mồ mả tô vôi (23,13-36).

Trước mắt những kẻ cố duy trì trật tự cố hữu, trật tự chối từ hướng tới giá trị cao quí hơn, Chúa Giêsu tỏ ra như Êlia* xưa (1V 19,17t), là một người bạo động phá đám, một nhà cách mạng dẫn dân lìa xa đường lối các đầu ục của trật tự đã vạch sẵn (Lc 23,2). Trái lại, dưới mắt Thiên Chúa, Đức Giêsu là Đấng có khả năng phục hồi những chân giá trị cuối cùng đã bị cơ chế làm chết ngạt. Theo quan điểm vừa nên lên, chúng ta có thể, cùng với tác giả Khải huyền, mô tả Đức Giêsu như một kẻ hung bạo (Kh 6,4-8; 8,5…), rốt cuộc sẽ mang hòa bình đến (21,4). Chúng ta cũng có thể lấy lại bức chân dung chính Chúa Giêsu đã dùng cho Người, và thấy nơi Người vị Thầy hiền dịu và khiêm nhượng thật trong lòng, Đấng chiến thắng bạo lực bằng chính sự chịu đựng (1Pr 2,21-24), và đem lại sự nghỉ ngơi* vượt trên bất công (Mt 11,29). Nhắm thẳng lý tưởng sống này, người Kitô hữu luôn cố gắng dõi theo (1Pr 2,18-21; 3,14; Lc 5,9t; Kh 14,12). Đối với những cơ cấu xã hội, Tin Mừng trở thành một cuộc cách mạng bao lâu những cơ cấu này còn làm tê liệt công bình và bác ái, vì vắng chúng, Con Thiên Chúa không thể tồn tại được. “Hãy tìm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài!” (Mt 6,33).

3-Đối diện với bạo lực thống trị thế giới, Chúa Giêsu tỏ ra tiến xa hơn Cựu ước. Luật báo phục đòi hỏi công bình bằng phục thù để tái lập sự công bình đã bị xúc phạm; còn Chúa Giêsu lại đòi hỏi tha thứ* (Mt 6,12.14t; Mc 11,25) tới 77 lần (Mt 18,22). Người ra lệnh cho tất cả: “Hãy yêu thương thù địch các con, và hãy khẩn cầu cho những người bắt bớ các con” (Mt 5,44; Lc 6,27). Với từng môn đệ, Người nói rõ: “Đừng chống cự với kẻ ác” (hay với “sự dữ” trong thế gian). Trong ba thí dụ giải thích mệnh lệnh của Người (5,39-41), Chúa Giêsu không hề lên án hành động bạo lực trong xã hội (vả má, đoạt áo ngoài, trưng dụng), vì nguyên do những bạo hành này có thể chính đáng; nhưng Người cũng không phép bắt chước người quản lý bất trung (Lc 16,1-8) hay viên thẩm phán bất lương (18,1-5). Ở đây Chúa Giêsu đứng trong lập trường của cá nhân xúc phạm và tuyên bố phải biết trở nên nạn nhân của kẻ hung bạo.

Chúa Giêsu là người đầu tiên đã thực hiện điều đó. Người chống lại cám dỗ thiết lập Nước Thiên Chúa bằng những phương tiện hung bạo: Người không muốn dùng ma thuật* biến những viên đá thành bánh để làm dịu cơn đói của thế gian (Mt 4,3tt) cũng không muốn cai trị dân chúng bằng sức mạnh* (4,8tt); Người không muốn là một nhà chính trị cách mạng (Ga 6,15) và chiếm đoạt vinh quang không qua hy tế Thập giá* (Mt 16,22t). Cuối cùng, sau khi dã đổ mồ hôi máu nơi vườn cây dầu, Người từ khước sự chống trả bằng bạo lực mà những kẻ đồng hành với Người đã dùng để bảo vệ Người: “Thôi! Đủ rồi!” Và hơn nữa Người chữa lành đối thủ (Lc 22,49tt; x. 22,36tt). Chúa Giêsu không làm đổ máu người khác, Người đã đổ chính máu mình.

Vậy, tại sao đừng chống cự lại người ác? Không phải vì đó là phương pháp bất bạo động, nhưng vì tinh thần yêu thương và hy sinh là phương thế duy nhất để đạt hòa giải giữa kẻ ưa bạo lực và nạn nhân của họ (x. St 33; 45; 1Sm 26). Nước Thiên Chúa không được thiết lập bằng thô bạo nhưng bằng thần lực, một sức mạnh có thể chiến thắng sự chết qua cuộc sống lại của Đức Giêsu. Từ đây, “Ai dùng gươm sẽ chết vì gươm” (Mt 26,52). Với những kẻ đối nghịch tinh thần của Chúa Giêsu, muốn khiến lửa trời xuống trả đũa những người Samaria không đón tiếp Người (Lc 9,54), Người phán: “Phúc cho những kẻ dịu hiền*, vì họ sẽ được đất* làm gia nghiệp” (Mt 5,4). Trái với “thủ lãnh các dân tộc chỉ cai trị bằng quyền thế và uy lực”, môn đệ Chúa Giêsu phải “trở nên tôi tớ” kẻ khác (Mt 20,25t). Khi Đức Giêsu, như Đấng Tôi tớ Thiên Chúa*, rút lui trước những kẻ thù gian ác (Mt 12,15.18-21; 14,13; 16,4). Người tin cậy vào Thiên Chúa và thực hiện mối phúc thật của những người bị bắt bớ (Mt 5,10tt) đã được tiên báo trong các bài ca của Đấng Tôi Tớ (Is 50,5; 53,9). Nhưng khi tha thứ những kẻ đóng định Người cách bất công (Lc 23,34; 1Pr 2,23t), khi đòi hỏi môn đệ giơ thêm má trái, Đức Giêsu đã vượt xa lý tưởng Cựu ước; Người không bằng lòng phó thác thụ động nơi tay Thiên Chúa, Đấng bênh đỡ những người bị đàn áp, nhưng Người đã dùng bạo lực chống kẻ ưa bạo lực, vì nhờ chính sự chạm trán đó, ta nhắm đến sự hòa giải mà có thể đã đạt được ngay dưới trần gian rồi.

 XLD

→bách hại – biệt hiến/ chúc dữ Cựu ước – chiến tranh – công chính A I Cựu ước 1, Tân ước 1 – giận A 1 – hận thù  – lòng tham Cựu ước 1 – máu Cựu ước 1 – nhiệt tâm – quyền năng III O.1.

BÁO THÙ

 Theo ngôn ngữ hiện đại, báo thù là trừng trị người đã hại mình theo tôn chỉ ác báo ác. Theo ngôn ngữ Thánh Kinh, trước hết báo thù chỉ việc tái lập công bình*, nghĩa là chiến thắng tội ác. Nếu báo thù vì ghét ác nhân, luôn luôn bị cấm đoán, thì trái lại, báo thù để bảo vệ quyền lợi bị chà đạp lại là một nhiệm vụ. Tuy nhiên, việc thực hành nhiệm vụ đó thay đổi tùy theo dòng lịch sử: cá nhân không có quyền báo thù, quyền đó dành cho xây dựng, và nhất là dần dần Thiên Chúa đã tự tỏ mình là Đấng báo thù hợp pháp duy nhất cho công bình.

1-Người báo thù mạng sống.

Trong xã hội du mục là xã hội nguyên thủy của Israel, các phần tử trong chi tộc phải che chở và bênh đỡ lẫn nhau. Trong trường hợp bị sát hại, thì có gôêl, “người báo thù mạng sống” (Ds 35,21), báo thù cho chi tộc bằng cách giết tên sát nhân. Ngoài lý do liên đới ra, người ta còn xác tín rằng cũng như máu Abel*, máu* đổ ra kêu đòi báo thù (x. St 4,10; G 16,18), vì máu đã phàm tục hóa nơi đất Giavê ngự trị (Ds 35,33t). Vì thế, phải bảo vệ công bình.

Sau này khi định cư, Israel vẫn giữ phong tục đó (x. 2Sm 3,22-27). Nưhng luật pháp Israel (Xh 21,12; Lv 24,17), dù chấp nhận người báo thù mạng sống như kẻ thực hành sự công bình (Ds 35,12.19), cũng lo điều hòa việc thực thi quyền lợi* đó, để đề phòng những cơn giận* quá đáng (Đnl 19,6). Từ nay, trong trường hợp cố sát (Đnl 24,16) sát nhân mới bị báo thù mạng sống, nhưng trước hết phải bị truy tố nơi thành phố mà y trú ẩn (Ds 35,24-30; Đnl 19). Như vậy, dần dần quyền báo thù chuyển từ cá nhân đến xã hội.

2-Báo thù cá nhân.

Theo luật báo phục (Xh 21,23tt; Lv 24,19; Đnl 19,21), Luật pháp Israel kiềm hãm tính báo thù muốn lấy ác báo ác: luật pháp ấy cấm báo thù vô hạn định như thời man rợ (x. St 4,15.24). Cuối cùng, luật pháp đó còn làm dịu bớt luật báo phục bằng cách công nhận rằng trong vài trường hợp có thể đến bồi bằng tiền bạc: nguyên tắc này cũng được các bộ luật khác ở Đông Phương chấp nhận (Xh 21,18t.26t). Tuy nhiên, luật báo phục ngăn cản sự tiến triển của lương tâm: cho dù được luật công bình xã hội ấn định, tự thâm tâm con người vẫn muốn báo thù. Vì vậy cần phải giáo dục* lương tâm.

 a)Cấm báo thù.

Luật thánh sự triệt hạ lòng ao ước báo thù: “chớ để lòng giận ghét anh em, chớ mưu thù oán, quên đi những người lân bang nhục hạ mình. Hãy yêu thương bạn hữu như chính mình” (Lv 19,17t). Đây vài mẫu gương tha thứ* lừng danh: Giuse coi việc bách hại mình như ý định của Thiên Chúa, Đấng biến dữ thành lành (St 45,3t.7; 50,19); Đavid không báo thù Saolê (1Sm 24,4t; 26,5-12), để khỏi xúc phạm đến Đấng được xức dầu của Giavê. Nhưng chính Đaivd đã truyền lệnh báo thù Simei và Gioab sau khi ông chết (1V 2,6-46). Tuy nhiên, chỉ có những anh em* cùng giống nòi mới phải tha thứ cho nhau: bởi đó sách Thẩm Phán không hề đả kích Samson vì lý do cá nhân đã báo thù quân Philistin (Thp 15,3.7). Từ các sách Khôn ngoan, bổn phận tha thứ trở thành phổ quát và sâu rộng hơn: “Ai báo oán sẽ bị Thiên Chúa phục thù… Đừng để bụng giận người lân cận*” (Hc 28,1.7). Nguyên tắc này có vẻ không loại trừ ai.

b)Kêu gọi đến sự báo thù của Thiên Chúa.

Lý do khiến người công chính  hoàn toàn khước từ việc báo thù, chính là lòng tin tưởng* vào Thiên Chúa: “Ngươi đừng nói rằng: tôi sẽ báo thù. Ngươi hãy tin vào Giavê, Ngài sẽ giải thoát ngươi” (Cn 20,22). Người công chính không báo thù nhưng phó mặc cho Thiên Chúa báo thù cho sự công bình: Chúa phán “quyền báo thù là ở Ta” (Đnl 32,35). Giêrêmia đã xử sự như thế khi ông bị bắt bớ “ông đã giải bày nguyên do cùng Chúa” (Gr 20,12); chắc chắn ông ao ước “thấy Chúa báo thù” (11,20), chính vì ông đồng hóa công việc của ông với công việc của Thiên Chúa (15,15). Không phải ông muốn sự dữ, nhưng là sự công bình* và chỉ mình Thiên Chúa mới tái lập được sự công bình. Cũng thế, đến lượt tác giả Thánh Vịnh với giọng điệu Sêmita quá đáng, ông ao ước được “rửa chân mình trong máu kẻ thù” (Tv 58,11) và mạt sát chúng thậm tệ (Tv 5,11; 137,7t), vì ước muốn công bình thôi thúc. Có thể nghi ngờ vẻ trung thực của một tâm tình như thế, nhưng không thể chối cãi giá trị tôn giáo của thái độ đó được. Thái độ đó cũng giống thái độ ông Giob: “Phần tôi, tôi biết rằng Đấng Bảo Vệ (Gôêl) tôi hằng sốgn và Ngài là Đấng sau cùng sẽ đến trên hoàn vũ” và Ngài sẽ hoàn lại sự công chính (G 19,25).

 3-Thiên Chúa Đấng báo thù.

Hy vọng của Giob và cả Giêrêmia không hão huềyn: Thiên Chúa là Đấng phán xét* tuyệt hảo, Đấng thấu suốt tâm can và hoàn trả cho mỗi người tùy theo công việc (x. công trình*) họ làm; Ngài là gôêl của Israel (Is 41,14). Ngày của Chúa* có thể gọi là “Ngày báo thù” (Gr 46,10): Ngày đó Thiên Chúa sẽ báo thù cho Công bình*, Ngài cũng báo thù cho danh dự Ngài, và theo nghĩa này ta có thể nói rằng duy chỉ mình Thiên Chúa mới có thể báo thù “cho mình”. Công chính, Cứu rỗi, báo thù: đó là những thực tại sẽ xuất hiện trong Ngày của Chúa (Is 59,17t). Vậy tùy theo mức độ trung thành với Giao ước, trước những bất công của các thẩm phán nhân loại, Israel có thể kêu gọi đến gôêl “Thiên Chúa báo thù” để Ngài xuất hiện xét xử thế giới (Tv 94). Dù chưa biết tha thứ theo tinh thần Kitô giáo, đó vẫn là thái độ vâng phục Thiên Chúa chờ Ngày Ngày thăm viếng*.

 4-Đức Kitô và viẹc báo thù.

Ngày đó đã đến khi Chúa Giêsu đổ máu* mình ra: lúc đó bất công tột bực của loài người cho thấy Công bình* vô biên của Thiên Chúa. Từ đây gương mẫu* Đức Kitô đã hoán cải thái độ của Kitô hữu: “Ngài chị lăng nhục mà không lăng nhục lại” (1Pr 2,23). Không những Chúa Giêsu thiết lập một Luật* mới hoàn thành* nguyên tắc báo phục, nhưng Người còn truyền đừng chống lại ác nhân (Mt 5,38-42). Người không kết án nền công bình của các tòa án nhân loại; theo thánh Phaolô, các tòa án đó có nhiệm vụ thực thi sự báo thù của Thiên Chúa (Rm 13,4); nhưng Người còn đòi môn đệ phải tha thứ các sự xúc phạm và yêu thương kẻ thù*. Nhất là Người muốn dạy rằng chỉ những ai chịu được bất công cá nhân mới không gây bất công cho kẻ khác. Từ nay, ngoài việc phó mặc cho Thiên Chúa báo thù, còn phải “làm lành để thắng dữ” (Rm 12,21); như thế ta “đặt than hồng trên đầu kẻ nghịch” nghĩa là đặt nó trong một tình trạng khó chịu làm cho nó biến hận thù* thành yêu thương.

Dù nhờ máu Chúa Kitô, mọi công bình đã được hoàn tất, nhưng ngày cuối cùng vẫn chưa đến. Ở trần gian này, Tình yêu còn chịu nhiều thất bại. Sau Chúa Giêsu, các Kitô hữu đã chết là nạn nhân của bạo lực* bất chính. Tuy họ tha thứ cho bọn lý hình (Cv 7,60), máu họ đổ ra vẫn kêu đến Thiên Chúa: “Lạy Chúa thánh thiện và chân thật, đến bao giờ Ngài mới xét đoán, trả thù cho máu chúng tôi nơi những kẻ còn ở dương thế?” (Kh 6,10; x. 16,6; 19,2). Vào ngày chung thẩm lịch sử, sự báo thù của Thiên Chúa Thẩm Phán sẽ tái lập công bình trong Nước vĩnh cửu là nơi không còn chuc dữ* (22,3).

 ADa&XLD

 →Abel 2 – bạo lực I 1, III 2, IV 3 – chúc dữ IV – giải phóng/tự do II 2 – giận – hận thù I 3 – kẻ thù II 3 – máu Cựu ước 1; Tân ước 4 – Ngày của Chúa Cựu ước II – nhân từ Cựu ước II – nhiệt tâm I 2 – phán xét Cựu ước I 1; Tân ước II, I – tha thứ III.

BẢO VỆ

 →bóng II – cánh tay&bàn tay – cứu rỗi – núi – Quan Phòng.

 BÃO

1-Lối giải thích ngoại giáo.

Ở Đông Phương xưa, người ta coi bão tố như sự biểu dương của một vị thần (Thần Baal ở Canaan). Sự biểu dương này thể hiện dưới ba đặc tính. Phô bày mãnh lực vũ trụ vượt khả năng con người, bão tố biểu lộ oai phong khủng khiếp của thần linh. Vì là một hiện tượng nguy hiểm cho con người nên bão tố còn là dấu chỉ cơn thịnh nộ: thần linh ẩn khuất trong đám mây lên tiếng chống kẻ thù (=sấm) và bắn những mũi tên vào chúng (=chớp) (x. Tv 18,6-16). Sau cùng, bão tố còn chỉ rằng thần minh là nguồn mạch sự phong phú vì nó đem lại cơn mưa làm đất đai phì nhiêu.

 2-Bão tố, dấu chỉ vẻ uy nghiêm của Thiên Chúa.

Trong ngôn ngữ Thánh Kinh, mọi âm hưởng đa thần đều bị gạt bỏ, nhất là việc phụng thờ sự phong nhiêu; nhưng bão tố vẫn có một ý nghĩa. Nó là một trong những kỳ công tuyên dương nét vĩ đại của Đấng Tạo Hóa (Gr 51,16t; Tv 135,7; G 38,34-38), và biểu lộ cách lu mờ vẻ uy nghiêm đáng sợ của Ngài (G 36,29-37,5): Thiên Chúa siêu việt ngự trị trên bão tố (Tv 29). Bão tố cũng còn tượng trưng Thiên Chúa ngự trong ánh vinh quang* của Ngài (G 38,1; Ez 1,13t; 10,5; Kh 4,5; 8,5tt; 10,3t). Nó là khung cảnh thần hiển cổ điẻn trong đó nói lên việc Thiên Chúa can thiệp vào trần gian: Ngài can thiệp vào lịch sử thánh lúc Xuất hành (Tv 77,19tt), ở núi Sinai (Xh 19,16-19) để tiến vào miền Canaan (Thp 5,4t); Ngài can thiệp để giải thoát Đấng được xức dầu của mình (Tv 18) hay dân Ngài (Hb 3,3-16); Ngài can thiệp để khai nguyên triều đại cố định của Ngài (Tv 97,1-6). Tuy nhiên, Thiên Chúa không phải chỉ nguyên là sự hiện diện* uy nghi gợi lên cảnh khiếp đảm thần thiêng. Ở núi Horeb, sứ ngôn Êlia đã được mời gọi vượt trên dấu chỉ bất toàn ấy để lắng nghe một Mạc khải cao sâu hơn: Thiên Chúa còn hiện diện thân mật, Ngài cũng nói với con người qua làn gió nhẹ dịu dàng (1V 19,11tt).

 3-Bão tố, dấu chỉ cơn thịnh nộ của Thiên Chúa

Để biểu lộ thái độ của Thiên Chúa đối với con người, bão tố còn là một dấu chỉ mơ hồ: dấu chỉ gia ân nhờ đó Thiên Chúa banc ho tạo vật từ tiêu điều trở thành phong nhiêu* (1V 18); nhưng cũng là tai họa khủng khiếp Thiên Chúa dành cho quân thù Ngài như dấu chỉ cơn giận* của Ngài (Xh 9,13-34). Sự thần hiện qua bão tố đặc biệt xứng hợp với Thiên Chúa khi Ngài phán xét và sửa phạt* (Is 30,27tt), nhất là vào cảnh phán xét* cuối cùng khi Chúa dùng sét đánh Babylon* (Kh 16,18; x. 11,19). Vì thế, như điềm báo trước sự phán xét này, tiếng Thiên Chúa nghe như tiếng sấm khi công bố sự vinh hiển của Chúa Con, lúc thủ lãnh trần gian sắp bị hạ xuống (Ga 12,28-32).

Viễn ảnh phán xét làm những kẻ thuộc về Chúa phải kinh khiếp nếu Ngài không bảo đảm với họ rằng chính Ngài là nơi trú ẩn chống lại cơn bão tố: tai họa cánh chung này chỉ đe dọa thế gian tội lỗi (Is 4,6). Vì Thiên Chúa* khác với thần Jupiter sấm sét: Chúa Giêsu cho “con cái sấm sét” (Mc 3,17) hiểu rằng Người không thích giáng sấm sét xuống trên những kẻ không đón nhận Người (Lc 9,54t). Sự thần hiển trong bão tố từ nay sẽ được bổ túc bằng sự Mạc khải về Ân sủng* Thiên Chúa, được ban cho chúng ta trong chính Chúa Giêsu (x. Tt 2,11). “Tiếng kèn vang, tia chớp chói lòa, mặt đất rung chuyển; nhưng khi Chúa ngự xuống trong lòng một Trinh Nữ, bước chân Ngài lại không gây một tiếng độgn nào!” (Đoản thư Kitô giáo về Chúa Kitô Giáng sinh).

 PG

 →đám mây – hiện diện của Thiên Chúa Cựu ước II – lửa Cựu ước I 2 – thiên tai o – vinh quang III 1.

BẮT CHƯỚC

→Cha IV – gương mẫu – hình bóng – môn đệ Tân ước 2 – theo.

BẤT HẠNH

 →chúc dữ – đau khổ – hổ thẹn – lành&dữ II 2.3 – nước II 2 – say sưa 1 – thiên tai – tro bụi 2.

BẤT HÒA

 →hiệp nhất – lạc giáo – ly giáo.

BẤT LỰC

 →nhục thể I 3 b – quyền năng IV 1.2, V 3.

BẤT TRUNG

→chồng/vợ Cựu ước 1 – ngoại tình – trung thành.

BẤT TỬ

 →chết – hình ảnh II Cựu ước – linh hồn II – Sống lại – sự sống IV 5.

BẤT TUÂN

 →cứng lòng tin – lắng nghe 1 – tội I 1 – vâng lời II.

BẦU CỬ

 →Abraham I 3 – Đấng Bầu Cử o – Kinh nguyện – Môsê 3 – trung gian – xá tội 2.

BẢY

 →phận vụ II 2 – số – Sứ Đồ I 1.

BẺ BÁNH

 →bánh I 1 – bữa ăn III – hiệp thông Tân ước 1 – Phép Thánh Thể II 3 – Vượt Qua III 1.

BẼ MẶT

 →hãnh diện – hổ thẹn – kiêu ngạo 4 – thất vọng I 2.

BÊLIAL

 →Satan III.

BELZÊBUL

 →quỷ Tân ước 1.

BỀN CHÍ

 →Kiên nhẫn II – tin tưởng 2 – trung thành.

 BÊN PHẢI

 Bên phải là bàn tay phải, biểu tượng cho quyền năng, hay là chỗ bên phải, biểu tượng lòng ưu ái.

 1-Bàn tay phải.

Không những chỉ là bàn tay khéo léo nhất trong hai bàn tay, mà còn là bàn tay mạnh mẽ hơn, bàn tay cầm gươm. Vì vậy, bàn tay phải là biểu tượng quyền năng* Thiên Chúa, Đấng nổi danh bằng những thành tích của bàn tay mình, Ngài đập tan quân thù và giải thoát dân Ngài (Xh 15,6; Tv 20,7; 21,9). Như thế, theo lời loan báo của tác giả Thánh Vịnh (Tv 118,16), thì sau khi chết, Chúa Giêsu đã được “quyền năng Thiên Chúa tôn vinh” (Cv 2,33).

 2-Chỗ bên phải.

Bàn tay phải hộ trì những kẻ ở bên nó; bên phải Thiên Chúa là nơi các bạn hữu Ngài nếm hưởng những hoan lạc vĩnh cửu (Tv 16,11), nơi Đấng Messia sẽ ngự trị bên Ngài (Tv 110,1). Như thế, theo một bản dịch khác của Cv 2,33 thì Chúa Giêsu đã được “tôn vinh bên hữu Thiên Chúa” Người trở nên khí cụ của bàn tay quyền năng Thiên Chúa, “Người con tay phải” (Tv 80,16.18) như vua Israel đã được Thiên Chúa xác nhận bằng chính sức mạnh* Ngài (x. St 35,18: Benjamin = đứa con tay phải). Chúa Giêsu xác nhận và thực hiện những lời hứa của Giao ước cũ. Khi Con Người ngự đến như vị Vua phán xét cả vũ trụ, Người sẽ đặt bên phải mình những kẻ được Cha Người chúc phúc* (Mt 25,31-34). Chính người cũng xác quyết rằng người ta sẽ thấy Người ngự trị bên phải Đấng Quyền năng theo lời loan báo của Thánh Vịnh 110 (Mt 26,64); và trước lúc quân thù thấy Người xuất hiện ở bên phải như vị Thẩm Phán, thì thánh Stêphanô đã thấy Người đứng đó như một chứng nhân* (Cv 7,55).

 JBB

 →Cánh tay & bàn tay – Giêsu Kitô II 1 a – quyền năng.

BỀN VỮNG

→chân lý – núi I 1 – ở – trung thành.

BỆNH TẬT

 Bệnh tật, cùng với đau khổ đặt vấn đề cho con người mợi thời đại. Câu giải đáp tùy thuộc vào quan niệm của họ về thế giới họ sống và về các năng lực chi phối họ. Trong thế giới Đông Phương ngày xưa, người ta xem bệnh tật như một tai họa do các ác thần gây ra hoặc thần minh gởi đến vì một lỗi lầm tế tự đã khiến cho các ngài nổi giận. Để được lành bệnh, người ta thi hành những nghi lễ để trừ tà xua đuổi ma quỷ*, và họ khẩn cầu thần minh tha thứ bằng những lời van xin và lễ tế nền văn chương Babylon còn giữ lại những mẫu kinh thuộc cả hai loại. Vì thế, y học trước tiên bắt nguồn từ giới tư tế; nhưng phần nào đó vẫn gần với ma thuật*. Phải đợi đến óc quan sát của người Hy lạp mới thấy y học tự lập phát triển như một khoa học thực nghiệm. Từ hiện trạng này, Mạc khải Thánh Kinh gạt ra ngoài khía cạnh khoa học củ vấn đề. Mạc khải chỉ chú trọng đến ý nghĩa tôn giáo của bệnh tật và của việc chữa lành trong ý định Cứu rỗi. Hơn nữa, qua bệnh tật, quyền lực của Thần chết* được tỏ hiện trên con người (x. 1Cr 11,28-32); thế nên, bệnh tật cũng phải có một ý nghĩa tương tự.

 CỰU ƯỚC

 I-BỆNH TẬT

1-Sức khỏe giả thiết sự sung mãn sinh lực; còn bệnh tật trước hết lại được quan niệm như là một trạng thái suy yếu và bạc nhược (Tv 38,11). Ngoài nhận định thực nghiệm này, những quan sát y học còn rất sơ lược; chúng bị giới hạn vào những điều thường thấy: Các chứng bệnh ngoài da, các vết thương và chỗ gẫy nứt, nóng sốt và kinh phong (xem các Thánh Vịnh về bệnh nhân: Tv 6; 32; 38; 39; 88; 102). Việc sắp loại các chứng bệnh khác nhau còn mập mờ (thí dụ bệnh phong cùi*). Những nguyên nhân tự nhiên không được lưu tâm đến, ngoại trừ những trường hợp quá hiển nhiên như vết tích, té (2Sm 4,40; tuổi già* mà sách Giảng viên mô tả suy yếu với một giọng trào lộng bi ai (Gv 12,1-6; x. St 27,1; 1V 1,1-4; và trái ngược với Đnl 34,7). Thực ra với người có ý thức tôn giáo, điểm cốt yếu được đặt ở chỗ khác: bệnh tật có ý nghĩa gì đối với bệnh nhân?

 2-Trong một thế giới mà tất cả đều tùy thuộc vào Thiên Chúa như nguyên nhân, bệnh tật không tránh khỏi luật này; không thể nào không thấy trong bệnh tật hành động Thiên Chúa đánh phạt con người (Xh 4,6; G 16,12tt; 19,21; Tv 39,11t). Trong lúc lệ thuộc vào Thiên Chúa người ta còn có thể nhận ra ở đó việc các đấng cao vượt hơn con người can thiệp vào: Thiên thần* hủy diệt (2Sm 24,15tt; 2V 19,35; x. Xh 12,23), những tai ương được nhân cách hóa (Tv 91,5t), Satan* (G 2,7)… Sau thời lưu đày, Do thái giáo càng ngày càng chú ý đến hành động của ma quỷ*, của những ác thần mà ảnh hưởng của họ trên thế giới chúng ta đang sống được thoáng thấy trong bệnh tật. Nhưng nếu Thiên Chúa là ông chủ tuyệt đối, thì tại sao có ảnh hưởng của quỷ thần, tại sao sự dữ hiện diện giữa thế gian?

 3-Theo khuynh hướng tự nhiên, cảm quan tôn giáo của con người thiết lập tương quan giữa bệnh tật và tội lỗi*. Mạc khải Thánh Kinh không chống lại quan điểm này mà chỉ xác định rõ phải hiểu mối tương quan ấy trong các điều kiện nào. Thiên Chúa đã tạo dựng con người để được hạnh phúc (x. St 2). Bệnh tât, như tất cả mọi sự dữ khác của nhân loại, đều trái ngược với ý hướng sâu xa ấy; bệnh tật chỉ nhập vào trong thế gian như hậu quả của tội lỗi (x. St 3,16-19). Nó là một trong những dấu chỉ sự giận* dữ của Thiên Chúa trước thế gian tội lỗi (x. Xh 9,1-12). Trong khuôn khỏ giáo thuyết Giao ước*, nó đặc biệt mang lấy ý nghĩa này: đó là một trong những sự chúc dữ chính, dành cho dân tộc bất trung của Thiên Chúa (Đnl 28,21t. 27tt.35). Thế nên, kinh nghiệm về bệnh tật phải đưa đến kết quả là gợi lên trong con người ý thức tội lỗi. Thực vậy, người ta nhận thấy điều đó trong các Thánh Vịnh cầu khẩn: lời van xin chữa lành luôn kèm theo sự thú nhận các lỗi lầm (Tv 38,2-6; 39,9-12; 107,17). Dù vậy, vấn đề được đặt ra là có phải bệnh tật nào cũng do tội lỗi cá nhân của người mắc bệnh hay không? Ở đây giáo thuyết về điểm này lại mập mờ hơn. Việc tìm đến nguyên tắc trách nhiệm cộng đoàn chỉ cung cấp một giải đáp còn thiếu sót (x. Ga 9,2). Cựu ước chỉ thoáng thấy giải đáp mang chiều hướng. Khi bệnh tật xẩy đến cho người công chính, như Giob hay Tobia, nó có thể là một thử thách thiên định để chứng tỏ lòng trung tín của họ (Tb 12,13). Trong trường hợp Người Công Chính toàn hảo chịu đau khổ, Người Tôi Tớ của Giavê*, bệnh tật lại mang một giá trị xá tội* cho những lỗi lầm của tội nhân (Is 53,4t).

 II-CHỮA LÀNH

1-Cựu ước không hề ngăn cấm dùng các phương thức chữa trị y dược: Isaia đã dùng chúng để chữa lành Ezekia (2V 20,7) và Raphael đã dùng để săn scó Tobia (Tb 11,8.11t). Một số những phương thuốc đơn giản đã trở nên thông dụng (x. Is 1,6; Gr 8,22; Kn 7,20) và sách Huấn ca cũng ca tụng y nghiệp (Hc 38,1-8.12t). Điều Cựu ước cấm là những việc làm ma thuật gắn liền với việc thờ ngẫu tượng (2V 1,1-4), và việc thờ ngẫu tượng thường làm ô uế chính y học (x. 2Sk 16,12).

 2-Nhưng trước tiên phải kêu cầu chính Thiên Chúa, vì Ngài là chủ sự sống (Hc 38,9tt.14). Chính Ngài gây bệnh và chữa lành (Đnl 32,39; x. Hs 6,1). Ngài là danh y tuyệt hảo của con người (Xh 15,26): chính vì thế mà thiên thần được sai đến chữa lành Sara tên là Raphael (= “Thiên Chúa chữa lành”) (Tb 3,17). Cũng vì thế, mà bệnh nhân phải đến với các vị đại diện Ngài, là các thầy tư tế (Lv 13,49tt; 14,2tt; x. Mt 8,4) và các sứ ngôn (1V 14,1-13; 2V 4,12; 8,7tt). Vừa khiêm nhường thú nhận (x. tuyên xưng*) tội lỗi mình, họ vừa cầu xin ơn (x. Ân sủng*) được chữa lành. Cả tập Thánh Vịnh cho thấy họ đang giãi bày cùng khốn của mình, nài xin Thiên Chúa giúp đỡ, cầu khẩn phép toàn năng và lòng nhân từ của Ngài (Tv 6; 38; 41; 88; 102…). Chính nhờ tin tưởng vào Ngài mà họ chuẩn bị đón nhận ân huệ đang van xin. Ân huệ đó đôi khi được ban cho dưới hình thức nào, ân huệ đó vẫn còn giá trị dấu chỉ: Thiên Chúa đã nghiêng mình trên nhân loại đau khổ để xoa dịu nỗi khổ của họ.

 3-Dù bệnh tật có một ý nghĩa, nó vẫn là một sự dữ.

Bởi đó những lời hứa cánh chung của các sứ ngôn loan báo bệnh tật sẽ bị hủy diệt trong thế giới mới* nơi đó Thiên Chúa sẽ đặt để những kẻ thuộc về Ngài vào thời cuối cùng*: không còn người tật nguyền (Is 35,5t), không còn đau khổ và nước mắt (25,8; 65,19…) Trong một thế giới đã được giải thoát khỏi tội lỗi, những hậu quả của tội lỗi đang liên đới đè nặng trên nhân loại cần phải biến mất. Khi Người Công Chính* chịu đau khổ tự gánh lấy những bệnh tật của chúng ta, chúng ta sẽ được chữa lành nhờ những vết thương của Ngài (53,4t).

 TÂN ƯỚC

I-ĐỨC GIÊSU TRƯỚC BỆNH TẬT

1-Suốt thời gian rao giảng, Chúa Giêsu gặp nhiều bệnh nhân trên đường Người đi qua.

Không giải thích bệnh tật trong một bối cảnh thưởng phạt hẹp hòi (x. Ga 9,2t), Người thấy nơi đó một tai họa mà người đời gánh chịu, một hậu quả của tội lỗi, một dấu chỉ của quyền năng Satan* trên loài người (Lc 13,16). Người cảm thương họ (Mt 20,30), và lòng thương xót này đã điều khiển hành động của Người. Không cần phân biệt cơn bệnh tự nhiên hay cơn quỷ ám, “Người trừ đuổi ác thần và chữa lành những ai bệnh tật” (Mt 8,16ss). Hai sự kiện đi song song. Chúng cùng biểu lộ quyền năng của Người (x.Lc 6,19) và cùng hướng về một ý nghĩa: chúng biểu dương Đức Giêsu vinh thắng Satan và triều đại* của Thiên Chúa được thiết lập dưới thế này, đúng như lời Thánh Kinh (x. Mt 15,5ss). Như thế, không có nghĩa là từ nay bệnh tật phải biến mất khỏi thế gian; nhưng chứng tỏ sức mạnh của Thiên Chúa, sức mạnh cuối cùng sẽ chiến thắng bệnh tật và ngay bây giờ đang hành động tại thế. Vì vậy, trước những bệnh nhân bày tỏ niềm tin tưởng vào Người (Mc 1,40; Mt 8,2-6ss), Chúa Giêsu chỉ đòi hỏi họ một điều: họ phải tin, vì với lòng tin*, mọi sự đều có thể (Mt 9,28; Mc 5,36ss; 9,23). Tin vào Người bao gồm tin vào Vương Quốc* Thiên Chúa và chính Đức tin này Cứu rỗi họ (Mt 9,22ss; 15,28; Mc 10,52ss).

 2-Vậy những phép lạ* chữa lành, một phần nào đó, tiên báo về trạng thái toàn thiện mà sau cùng nhân loại sẽ gặp thấy trong Vương Quốc Thiên Chúa đúng như lời các sứ ngôn dạy. Nhưng những phép lạ ấy cũng có một ý nghĩa tượng trưng (x. dấu chỉ*) liên quan đến thời hiện tại. Bệnh tật là một biểu tượng cho trạng thái mà người có tội đang vướng phải: cách thiêng liêng, họ ra mù, điếc, tê bại… Do đó việc chữa lành bệnh nhân cũng là một biểu tượng: nó chỉ sự chữa bệnh thiêng liêng mà Chúa Giêsu thực hiện trong con người. Người tha thứ tội lỗi của người tê bại, và để chứng minh mình có quyền ấy, Người đã chữa lành ông (Mc 2,1-12ss). Tầm quan trọng của những phép lạ dấu chỉ này được nổi bật nhất trong Tin Mừng IV: Việc chữa lành người tê bại ở Bêzatha chỉ công cuộc thông ban sự sống mà Chúa Giêsu đã hoàn thành (Ga 5,1-9.19-26), và việc chữa lành người mù từ lúc mới sinh chứng tỏ Người là Anh sáng* thế gian (Ga 9). Như thế, các hành vi của Chúa Giêsu đối với bệnh nhân khai mào cho các bí tích Kitô giáo. Vì Người xuống thế như danh sư của tội nhân (Mc 2,17ss), một vị Thầy thuốc đã ôm vào mình hết mọi đau yếu bệnh tật để xóa bỏ chúng (Mt 8,17 = Is 53,4). Quả thực, đó sẽ là ý nghĩa của cuộc Khổ Nạn Người: Chúa Giêsu sẽ thông dự vào thân phận của nhân loại đau khổ, để sau cùng có thể vinh thắng mọi sự dữ.

 II-CÁC SỨ ĐỒ VÀ GIÁO HỘI TRƯỚC BỆNH TẬT.

1-Dấu chỉ về nước Thiên Chúa, đã được những phép lạ chữa lành kết thành, không chỉ giới hạn trong quãng đời trần thế của Chúa Giêsu. Người đã cho các Sứ Đồ, ngay từ sứ mệnh đầu tiên của họ, quyền chữa lành các bệnh tật (Mt 10,1). Và khi dứt khoát giao sứ mệnh, Người còn hứa ban cho họ quyền tiếp tục thực hiện dấu chỉ này, để lời rao giảng Tin Mừng của họ được thêm uy tín (Mc 16,17t). Thế nên, nhiều lần sách Công Vụ Sứ Đồ ghi lại những phép lạ chữa lành (Cv 3,1tt; 8,7; 9,32tt; 14,8tt; 28,8t) để minh chứng quyền năng của Tên* Đức Giêsu và việc Người sống lại thật. Cũng thế, trong số các đoàn sủng*, Thánh Phaolô kể đến ơn chữa lành (1Cr 12,9.28.30): dấu chỉ thường trực này tiếp tục gây uy tín cho Giáo Hội Chúa Giêsu khi chứng tỏ là Thánh Linh hành động trong Giáo Hội. Tuy nhiên, Ân sủng của Thiên Chúa thường đế với bệnh nhân bằng cách ít gây chấn động hơn. Lập lại cử điệu của các Sứ Đồ (Mc 6,13), các “trưởng lão” của Giáo Hội đã nhân danh Chúa xức dầu* các bệnh nhân trong khi họ thành tìn cầu nguyện và cùng xưng tội lỗi; lời cầu nguyện này Cứu rỗi họ, vì tội họ đã được tha và họ có thể hyv được chữa lành bệnh, nếu đẹp lòng Thiên Chúa (Gc 5,14tt).

 2-Tuy nhiên, sự lành bệnh không phải lúc nào cũng đương nhiên xảy đến, dường như lời cầu nguyện hay nghi thức đó có sức thần diệu. Bao lâu thế gian hiện thời còn tồn tại, bấy lâu nhân loại phải tiếp tục gánh chịu hậu quả của tội lỗi. Nhưng “khi gánh nhận trên mình các bệnh tật chúng ta” trong cuộc Khổ Nạn, Chúa Giêsu đã mặc cho chúng ta một ý nghĩa mới: như mọi đau khổ, từ đây bệnh tật có một giá trị Cứu chuộc*. Qua bao lần với bao kinh nghiệm về điều ấy (Gl 4,13; 2Cr 1,8tt; 12,7-10), Thánh Phaolô biết rằng bệnh tật liên kết con người với Chúa Kitô đau khổ: “Chúng ta mang trên thân xác chúng ta những đau khổ của cuộc tử nạn Người, ngõ hầu chính sự sống của Người cũng được biểu lộ trong thân xác chúng ta” (2Cr 4,10). Trong khi Giob không đạt đến mức hiểu ý nghĩa của cơn thử thách ông chịu, thì người Kitô hữu vui mừng vì được “bổ túc nơi thân xcs họ những gì còn thiếu sót nơi những đau khổ mà Đức Kitô phải chịu cho Thân Thể Người, là Giáo Hội” (Cl 1,24). Trong lúc chờ đợi trở về thiên đàng (x. địa đàng*), nơi loài người sẽ được vĩnh viễn chữa lành nhờ hoa trái của cây* hằng sống (Kh 22,2; x. Ez 47,12), thì chính bệnh tật cũng được nối kết vào trật tự Cứu rỗi*, như đau khổ* và sự chết*. Không phải vì bệnh tật dễ chịu đựng: nó vẫn là một thử thách*, và giúp đỡ người ốm đau vui nhận cơn bệnh bằng các cuộc thăm viếng ủy lạo, chính là một hành vi bác ái. Thánh Ignatiô thành Antiokia khuyên nhủ: “Anh em hãy mang lấy các bệnh tật của tất cả”. Nhưng phục vụ các bệnh nhân là phục vụ chính Chúa Giêsu trong các chi thể đau khổ của Người, ngày chung thẩm Người sẽ phán: “Ta đau ốm và các ngươi đã viếng thăm Ta” (Mt 25,36). Trong thế giới Kitô giáo, bệnh nhân không còn là một người bị chúc dữ mà người đời chê trách (x. Tv 38,12; 41,6-10; 88,9); họ là hình ảnh và dấu chỉ của Chúa Giêsu Kitô.

 JGi&PG

 →chết Cựu ước I 5 – Cứu rỗi – dầu – đau khổ – đặt tay Tân ước – lành &dữ I 1 – phép lạ II 2 b – phong cùi – quỷ Cựu ước 1; Tân ước 1 – sự sống IV 1 – thiên tai – tuổi già 1 – xức dầu II 1.

BÍ ẨN

 →ấn – Mạc Khải – mầu nhiệm – Thiên Chúa Tân ước II 3.4 – ý định Thiên Chúa Cựu ước II; Tân ước II.

BÍ TÍCH

 →dấu chỉ Tân ước I 2.

BIA

 →bàn thờ – Giao ước Cựu ước I 3 – hành hương Tân ước 1 – lời chứng Cựu ước I.

BIỀN BIỆT

 →dấu chỉ – đơn sơ 1 – lương tâm – nếm 1 – quỉ Tân ước 2 – sứ ngôn Cựu ước III 1 – Thần Khí Tân ước 1 – thử thách / cám dỗ Tân ước III – ý Chúa Tân ước II 1.

 BIẾN CỐ

 →dấu chỉ Cựu ước II 4 – phép lạ – thời giờ Cựu ước II.

BIỂN ĐỎ

 →biển 2 – Xuất hành Cựu ước 2; Tân ước 1.

BIẾN HÌNH

 1-Bối cảnh.

Trong các Tin Mừng, sự kiện Đức Kitô biến hình được đặt vào giờ phút quyết định, lúc mà Người, sau khi được các môn đệ nhận biết như Đấng Messia*, đã Mạc khải cho họ biết công trình của Người sẽ kết thúc như thế nào: sự tôn vinh của Người sẽ là sự sống lại qua con đường đau khổ và tử nạn (Mt 17,1-9 ss; 16,13-23 ss). Chính điều đó mang lại cho việc biến hình một ý nghĩa trong lời Đức Kitô và nhiều ơn ích cho đời sống Kitô hữu. Qua lần biến hình này Đức Giêsu muốn tỏ mình như Đấng phải đến để thực hiện Thánh Kinh (x. Lc 24,44tt) và các sấm ngôn nói về Đấng Messia là Tôi Tớ Thiên Chúa và là Con Người.

 2-Mầu nhiệm

Đức Giêsu chọn những kẻ chứng kiến cơn hấp hối của Người làm nhân chứng cho biến cố này: Phêrô (x. 2Pr 1,16tt), Giacôbê và Gioan (Mc 14,33 ss; x. 5,37). Cảnh tượng này gợi lên hình ảnh những lần Thiên Chúa tỏ hiện với Môsê*Êlia* trên Núi* của Thiên Chúa (Sinai-Horeb, x. Xh 19,9tt; 24,15-18; 1V 19,8-18). Giờ đây Thiên Chúa không chỉ hiện diện qua tiếng phán bảo giữa đám mây* và ngọn lửa* (Đnl 5,2-5); nhưng với sự có mặt của Môsê và Êlia, Đức Giêsu đã biến hình trong vinh quang* Thiên Chúa dưới mắt các môn đệ.

Vinh quang này làm họ sợ hãi, một thứ kính sợ* trước Đấng Thần Linh (x. Lc 1,29t); tuy thế, niềm kính sợ này cũng gây nơi Phêrô một suy từ giúp ông tỏ bày niềm vui của mình trước vinh quang của Đấng mà ông tuyên xưng là Messia; Thiên Chúa sắp đến ở với dân Ngài, như lời các sứ ngôn đã loan báo về kỳ gian của Đấng Messia. Nhưng vinh quang này không phải là vinh quang của Ngày thế mạt*, nó chỉ làm rạng ngời y phục* và khuôn mặt của Đức Giêsu, như xưa đã chói sáng trên mặt Môsê (Xh 34,29t.35). Đó là chính vinh quang của Đức Kitô (Lc 9,32), Người là Con* yêu dấu, như tiếng nói từ đám mây tuyên phán. Đồng thời tiếng đó tuyên nhận những điều Đức Giêsu đã Mạc khải cho các môn đệ và những gì Người đã đàm luận với Môsê và Êlia: cuộc “Xuất hành”, khởi sự từ Giêrusalem (Lc 9,31), phải đi qua cái chết* mới có thể vào vinh quang (x. Lc 24,25tt); vì tiếng Chúa phán dạy ta phải nghe* theo Đấng là Con và là Kẻ được Thiên Chúa tuyển chọn (Lc 9,35).

Lời vang dội trên núi Sinai mới đã Mạc khải cho ta thấy sẽ có một Luật* mới thay thế cho Luật cũ. Lời này nhắc lại ba lời sấm của Cựu ước: một nói đến Đấng Messia* và tử hệ thần linh của Người (Tv 2,7); lời khác bàn tới Tôi Tớ của Thiên Chúa*, kẻ đã được tuyển chọn* (Is 42,1); lời nữa loan báo một Môsê mới (Đnl 18,15; x. Ga 1,17t): “Giavê Thiên Chúa của ngươi sẽ gây dựng… một sứ ngôn* như Ta, Đấng các ngươi phải nghe theo”. Thực vậy, nghe Người tức là nghe Ngôi Lời Nhập Thể, nơi Người các kẻ tin tìm thấy vinh quang Thiên Chúa (x. Ga 1,14).

 3-Mục đích và kết quả của biến cố.

Sự kiện Biến hình xác nhận lời tuyên xưng ở Cêsarêa (Mc 8,29) và phê chuẩn Mạc khải của Đức Giêsu, là Con Người thống khổ và vinh quang đã hoàn tất Thánh Kinh bằng cái chết và sự sống lại của Người. Biến cố ấy Mạc khải con người Đức Giêsu, Người Con yêu dấu và siêu việt, Đấng đồng hưởng vinh quang với Thiên Chúa, một trật cũng tỏ lộ Đức Giêsu và Lời của Người* như Luật mới. Nó tiên báo và hình dung biến cố vượt qua, một biến cố nhờ con đường khổ giá sẽ giúp Đức Giêsu phát huy toàn diện vinh quang và phẩm chức làm Con Thiên Chúa của Người. Kinh nghiệm này báo trước vinh quang Đức Kitô nhằm nâng đỡ các môn đệ hầu chuẩn bị họ thông phần mầu nhiệm Thập giá*.

Nhờ phép rửa*, các Kitô hữu thông phần vào mầu nhiệm sống lại đã được tiên báo qua sự kiện Biến hình luôn mãi dưới tác động của Chúa (2Cr 3,18) trong khi chờ đợi cuộc Biến hình toàn diện cùng với thân xác* vào ngày quang lâm (Ph 3,21). Nhờ thông phần vào những đau khổ* của Đức Kitô ở dưới thế này, mọi cuộc gặp gỡ đích thực với Người một phần nào cũng đóng vai trò nâng đỡ Đức tin* người Kitô hữu cũng như xưa sự kiện Biến hình đã nâng đỡ Đức tin của các môn đệ vậy.

 PdS

→ánh sáng&tối tăm Tân ước I 3 – đám mây 4 – Êlia Tân ước 3 – hiện ra (Chúa Kitô) 1 – Môsê 3 – Núi III 1 – trắng 2 – vinh quang IV 3 – y phục II 3.

BIỂN LẬN

 →giàu II, III – kiêu ngạo 3 – lòng tham – tội IV 3 a.

 BIỂN

 Khác với dân Phênicia và Hy lạp, dân Do thái không phải là một dân tộc thủy thủ. Nhưng tổ chức hằng hải của Salomon (1V 9,26) và Giosaphat (22,49) không có ngày mai. Phải nhờ kinh nghiệm cuộc phân tán* để ý niệm “đảo” du nhập vào phạm vi địa dư Israel (Is 41,1; 49,1) và để người Do thái quen với những cuộc vượt biển lâu dài (Gion 1,3). Đó là chuyện thông thường vào thời Tân ước (Mt 23,15), và Thanh Phaolô, một người Do thái lưu lạc cho là tự nhiên khi rẽ sóng địa Trung Hải để rao giảng Tin Mừng. Tuy nhiên, từ thời xa xưa, biển mang một ý nghĩa tôn giáo nhất định trong các bản văn Thánh Kinh.

 1-Từ quái vật thần thoại đến tạo vật của Thiên Chúa.

Đứng trước biển cả, mọi người cảm thấy một quyền lực đáng sợ, không thể chế ngự được, khủng khiếp khi nổi sóng và gieo kinh hãi cho các thủy thủ (Tv 107,23-30) cũng như đe dọa nhận chìm dân cư sống ven biển (x. St 7,11; 9,11.15). Chính biển cả đó, Đại dương vũ trụ bao bọc quanh lục địa được thần thoại Mêsôpôtamia nhân cách hóa thành một quái vật (thú vật*); dưới cái tên Tiamat, con rồng này có đủ uy lực hỗn mang và tàn phá đến nỗi Marđuk, thần trật tự phải vô hiệu hóa nó để tổ chức vũ trụ. Thần thoại Ugarit cũng đối đầu Yam Thần Biển với Baal trong một cuộc chiến để giành quyền tối tượng của thế giới thần linh.

Trái lại, trong Thánh Kinh, biển được xếp vào hàng chỉ là một tạo vật. Trong câu chuyện sáng tạo* vũ trụ xưa, Đức Giavê phân chia nước của vực thẳm (Tehom) làm đôi cũng như thần Marduk đã làm đối với thân xác của Tiamat (St 1,6t). Nhưng hình ảnh đó đã được hoàn toàn giải-huyền-thoại vì không còn có việc tranh giành giữa Thiên Chúa toàn năng và sự hỗn mang có lẫn nước thời nguyên thủy. Khi tổ chức thế gian, Giavê đã một lần thay cho tất cả ấn định giới hạn cho nước để chúng không tràn ra ngoài nữa nếu không có lệnh Ngài (St 1,9t; Tv 104,6-9; Cn 8,27tt). Các sách Khôn ngoan thích tả lại trật tự của thế gian, trong đó có biển, lại dùng những dữ kiện của kiến thức sơ đẳng để diễn tả: đất nằm trên nước của vực thẳm bên dưới (Tv 24,2), nó sẽ thấm qua đất để cung cấp cho suối nguồn (St 7,11; 8,2; Gb 38,16; Đnl 33,13) và suối nguồn ăn thông với đại dương. Chính như thế biển được đặt vào vị trí giữa các tạo vật và được mời gọi cùng với tất cả các tạo vật khác ca ngợi Đấng tạo hóa (Tv 69,35; Đn 3,78).

 2-Biểu tượng tôn giáo của biển.

Trong viễn tượng giáo thuyết vững chắc này, nhiều tác giả thánh có thể dùng lại những hình ảnh thần thoại cũ đã được lột bỏ hết mọi nọc độc và không sợ gì nguy hại. Biển bằng đồng (1V 7,23tt) có lẽ đưa vào việc phụng tự tại đền thờ biểu tượng vũ trụ của Đại dương nguyên thủy, nếu đúng biển này là hình dạng của nó. Nhưng Thánh Kinh lại dùng một loại biểu tượng khác. Nước trong vực thẳm cung cấp cho Thánh Kinh một hình ảnh nổi bật nhất của cơn nguy tử (Tv 69,3). Sau nữa, mùi ô uế của sức mạnh xấu xa vô trật tự, kiêu căng vẫn tiếp tục phảng phất chung quanh biển cả, mà hình bóng của những Thú vật thần thoại đôi khi còn diễn tả lại. Biển cũng tượng trưng những quyền năng đối nghịch mà Giavê phải thắng để làm khải hoàn ý định của Ngài.

Hình ảnh oai hùng này được áp dụng bằng ba cách. Trước hết, công việc sáng tạo của Thiên Chúa đôi khi được gợi lại một cách thi vị bằng những nét của một trận chiến nguyên thủy (Is 51,9; Gb 7,12; 38,8-11). Thường thường biểu tượng được lịch sử hóa. Chẳng hạn như kinh nghiệm lịch sử của cuộc Xuất hành khi Đức Giavê đã làm biển Đỏ khô cạn để vạch một con đường cho dân Ngài (Xh 14 – 15; Tv 77,17.20; 114,3.5) đã trở thành cuộc chiến thắng của Thiên Chúa trên con Rồng của vực sâu vĩ đại (Is 51,10); cũng thế tiếng gầm thét của chư dân ngoại giáo nổi lên chống Thiên Chúa được coi như tiếng sóng gầm (Is 5,30; 17,12). Sau hết, trong những bản văn Khải huyền sau này, các quyền lực Satan mà Thiên Chúa sẽ đối phó trong một trận chiến cuối cùng đều mang những nét tương tự như Tiamat của Babylon: đó là những Thú vật từ vực thẳm vĩ đại vượt lên (Đn 7,2-7). Nhưng Đấng Tạo Hóa ngay từ đầu đã dùng vương quyền* của Ngài để chế ngự sự kiêu căng của biển cả (Tv 65,8; 89,10; 93,3t) và cũng làm chủ cả lịch sử, cho nên mọi quyền lực của hỗn loạn ấy dấy động vô hiệu quả.

 3-Đức Kitô và biển cả.

Biểu tượng tôn giáo của biển cũng tìm thấy trong Tân ước, cả trong các sách Tin Mừng. Biển vẫn là chỗ của Ma quỉ và cả đàn heo bị quỷ ám đã nhào đầu xuống (Mc 5,13 ss). Lúc nổi sóng, biển luôn đe dọa con người; nhưng trước biển cả Chúa Giêsu đã tỏ thần lực chiến thắng mọi yếu tố: Người đi trên biển đến với các môn đệ (Mc 6,49t; Ga 6,19t) hoặc Người đã khiến biển yên lặng bằng một lời trừ quỉ cho nó: “Im lặng! Hãy yên đi” (Mc 4,39t), và với dấu này, các môn đệ nhìn nhận trong Người có một sự hiện diện siêu phàm (4,41).

Sau cùng, Khải huyền không những đặt tương quan với biển cả những uy lực xấu mà Chúa Kitô phải đối phó suốt dòng lịch sử (Kh 13,1; 17,1). Khi mô tả cuộc sáng tạo mới mà vương quyền Chúa được thi hành đầy đủ, Khải huyền đã gợi lên ngày lạ lùng “biển cũng sẽ chẳng còn nữa” (21,1). Vậy biển sẽ biến mất với tư cách là vực thẳm của Satan và quyền lực hỗn loạn. Nhưng trên trời cao sẽ tồn tại một thứ biển pha lê (4,6) trải rộng bao la trước ngai Thiên Chúa như biểu tượng một thứ hòa bình huy hoàng trong vũ trụ mới.

 JdF & PG

 →lửa Tân ước I 3 – muối 1 – nước IV 2 – Phản Kitô Cựu ước 1 – phép rửa I 1 – thú vật 1.

 BIỆT HIẾN/CHÚC DỮ

 Danh từ biết hiến, herem, phát sinh từ ngữ căn Sêmita, mang ý nghĩa “tách biệt”, “dùng vào việc thánh”. Theo nghĩa Thánh Kinh, danh từ này chỉ việc thánh hiến cho Thiên Chúa.

 CỰU ƯỚC

 Trong các bản văn xưa nhất, biệt hiến, mà dân Israel cùng các dân láng giềng thực hành, như dân Moab, không chỉ là việc tàn sát kẻ thù bại trận, nhưng còn là một trong những luật lệ tôn giáo về thánh* chiến*. Để chiến thắng, Israel, dân tộc chiến đấu cho Giavê, sẽ biệt hiến chiến lợi phẩm, nghĩa là chối từ chiếm hữu, và hứa sẽ dâng cho Giavê chiến lợi phẩm đó (Ds 21,2t; Gs 6). Việc dâng hiến này đòi phải hủy diệt hoàn toàn chiến lợi phẩm: sinh vật và tài sản; nếu không làm thế, dân sẽ bị phạt (1Sm 15), và nếu lỗi luật đó, dân sẽ thất trận (Gs 7).

Nhưng trong thực tế, việc áp dụng xem ra rất hiếm; Israel chiếm đóng số lớn thành trì dân Canaan (Gs 24,13; Thp 1,27-35), như thành Gezer (Gs 16,10; 1V 9,16) hay Giêrusalem (Thp 1,21; 2Sm 5,6t). Một số thành khác lại lý hòa ước với Israel, như thành Gabaon (Gs 9) và Sikhem (St 34).

Các sử gia Đệ Nhị Luật biết rằng việc biệt hiến đã không được áp dụng trong thời chinh phục (Thp 3,1-6; 1V 9,21). Tuy nhiên, họ cũng đề ra luật chung về biệt hiến để chống lại những quyến rũ của dân Canaan và để xác nhận lại Israel là dân thánh đã được chọn (Đnl 7,1-6). Vì thế, họ trình bày lịch sử chinh phục theo một hệ thống đã có sẵn: các sử gia đã đặt vào quá khứ một phản ứng tôn giáo đương thời, mà mục đích là đề cao quyền tối thượng độc tôn của Giavê trên đất* thánh và trên dân thánh.

Diễn tiến của danh từ herem dường như đã tách rời hai yếu tố: một đàng việc tiêu diệt và trừng phạt những kẻ bất trung với Giavê (Đnl 13,13-18; Gr 25,9); đàng khác trong văn chương tư tế, việc hiến dâng cho Thiên Chúa người hay vật, mà không có quyền chuộc lại (Lv 27,28t; Ds 18,14).

 TÂN ƯỚC

 Trong Tân ước không còn vấn đề thánh chiến, cũng không còn biệt hiến kẻ thù* nữa. Nhưng danh từ này vẫn tồn tại để chỉ việc chúc dữ* (và ở Lc 21,5 để chỉ những lễ vật xin ơn trong Đền thờ Giêrusalem).

Người Do thái dùng từ ngữ này trong những công thức thề hứa*, (Mc 14,71 ss; Cv 23,12), để chỉ việc chúc dữ cho kẻ phản bội lời thề.

Theo thánh Phaolô, đây là công thức chúc dữ diễn tả việc Thiên Chúa phán xét kẻ bất tín (Gl 1,8t; 1Cr 16,22). Người Kitô hữu không thể dùng danh từ này để chống lại Đức Giêsu (1Cr 12,3). Sứ Đồ ước mong mình trở nên đồ biệt hiến, nếu nhờ đó đồng bào mình có thể được Cứu rỗi; nói như thế, Ngài muốn chỉ việc tách rời khỏi Đức Kitô (Rm 9,3). Công thức nghịch lý này là một cách định nghĩa sự chúc dữ cách tuyệt diệu.

PS

 →chiến tranh Cựu ước II – chúc dữ – Sứ Đồ II 1 – thánh Cựu ước III 2 – trong sạch Cựu ước I 1.

BIẾT ƠN

 →Phép Thánh Thể I 1 – tạ ơn.

 BIẾT

 Biết Thiên Chúa: lời kêu gọi đầu tiên này được gởi đến tâm hồn con người mà Thánh Kinh không bày tỏ trong khung cảnh của tri thức, nhưng trong khung cảnh của đời sống. Thật vậy, đối với người Sêmita, sự nhận biết (tiếng Hy bá yd) vượt qua tri thức trừu tượng và diễn tả một liên hệ hiện sinh: biết một cái gì chính là có kinh nghiệm cụ thể về cái đó; cũng vậy người ta biết đau khổ (Is 53,3) và tội lỗi (Kn 3,13), chiến tranh (Tph 3,1) và hòa bình (Is 59,8), thiện và ác (St 2,9.17), một dấn thân thực sự để lại những ảnh hưởng sâu xa. Biết một người nào chính là có những liên hệ cá nhân với người đó; vì những liên hệ có thể mang rất nhiều hình thái và bao hàm rất nhiều cấp độ, “biết” có thể có một chuỗi ý nghĩa; từ ngữ này dùng để diễn tả tình liên đới gia đình (Đnl 33,9), và cũng để diễn tả những liên hệ vợ chồng (St 4,1; Lc 1,34); Người ta biết Thiên Chúa khi người ta chịu sự phán xét của Ngài (Ez 12,15); người ta biết Ngài một cáh hoàn toàn khác hẳn lúc dự vào trong Giao ước của Ngài (Gr 31,34) và lúc được dần dần đưa vào trong sự thân mật của Ngài.

 CỰU ƯỚC

1-Sáng kiến của Thiên Chúa.

Trong kiến thức tôn giáo, mọi sự đều bắt đầu do sáng kiến của Chúa. Trước khi biết Thiên Chúa, người ta đã được Thiên Chúa biết. Mầu nhiệm của sự tuyển chọn* và của sự săn sóc: Thiên Chúa biết Abraham (St 18,19), Ngài biết dân Ngài: “Trong các dòng tộc trên hoàn cầu, Ta chỉ biết duy một mình các ngươi thôi” (Am 3,2). Ngay cả, trước khi các sứ ngôn của Ngài sinh ra, Ngài đã biết họ rồi (Gr 1,5), và mọi kẻ Ngài tiền định trở nên dưỡng tử của Ngài (Rm 8,29; 1Cr 13,12). Đối với những kẻ Ngài đã ưu biệt như thế và những kẻ Ngài biết đích danh (Xh 33,17; x. Ga 10,3). Chính Thiên Chúa tỏ mình cho họ biết: Ngài Mạc khải cho họ Tên* Ngài (Xh 3,14), Ngài đưa vào tâm hồn họ lòng kính sợ* Ngài (Xh 20,18tt), nhưng nhất là Ngài chứng tỏ cho họ lòng âu yếm* của Ngài bằng cách giải thoát họ khỏi tay quân thù, ban cho họ một miền đất (Đnl 4,32…; 11,2…), cho họ biết những giới răn của Ngài là con đường hạnh phúc (Đnl 30,16; Tv 147,19t).

 2-Con người không nhận biết Thiên Chúa.

Đáp lại, đáng lẽ dân phải nhận biết Thiên Chúa mình và ở trong Tình yêu chân thật của Ngài (Os 4,1; 6,6). Nhưng ngay từ đầu họ đã tỏ ra bất lực (Xh 32,8). “Dân tộc có tâm hồn lầm lạc, những kẻ đó không biết đường lối của Ta” (Tv 95,10). Vì không biết Thiên Chúa, nên Ngài không ngừng thử thách* họ (Ds 14,22; Tv 78). Ngu hơn con vật nữa, “Israel không biết tí gì” (Is 1,3; Gr 8,7); Họ nổi loạn, vi phạmm Giao ước (Os 8,1); bán mình cho “các thần mà họ không biết” (Đnl 32,17).

Ngay cả lúc họ tưởng rằng mình “biết Giavê” (Os 8,2) họ đã ảo tưởng, vì sự nhận biết đó chỉ là một liên hệ hoàn toàn hình thức bên ngoài (Is 29,13t; Gr 7); vậy sự nhận biết đích thực về Thiên Chúa phải là sự nhận biết thấm nhập vào trong tâm hồn và biểu lộ ra trong đời sống thực sự (Os 6,6; Is 1,17; Gr 22,16; x. Mt 7,22t). Các sứ ngôn lập lại điều đó đến chán ngấy, nhưng “dân không lắng nghe* Lời của Thiên Chúa họ và không chịu để dạy bảo” (Gr 7,28). Vậy họ sẽ bị phạt “vì thiếu hiểu biết” (Is 5,13; Os 4,6).

Thiên Chúa sẽ tỏ mình ra cho biết một cách khủng khiếp: bằng những hãi hùng của sự tàn phá và của lưu đày*. Ezekiel loan báo những sửa phạt* này với một điệp khúc đe dọa: “Và các ngươi sẽ biết Ta là Giavê” (Ez 6,7; 7,4.9…). Qua những biến cố tàn bạo và phải đương đầu với chính họ và với Thiên Chúa của họ, dân không còn có thể ở mãi trong ảo tưởng: họ phải nhận biết sự thánh* thiện của Thiên Chúa và tội lỗi* của chính mình (Br 2).

 3-Nhận biết và tâm hồn mới.

Vẫn còn niềm hy vọng một cuộc canh tân lạ lùng, trong đó “quê hương sẽ tràn đầy kiến thức của Giavê như sóng nước lấp đầy biển cả” (Is 11,9). Nhưng làm sao có thể thực hiện được điều này? Israel không còn muốn chính mình đạt tới điều đó, vì họ ý thức rằng họ có một “tâm hồn xấu xa” (Gr 7,24), “một tâm hồn chưa cắt bì” (Lv 26,41) và để biết Chúa thật sự, phải có một con tim* hoàn hảo. Sách Đệ Nhị Luật nhấn mạnh sự cần thiết phải cải hóa tự bên trong, và sự cải hóa này chỉ có thể đến từ Thiên Chúa. “Đến hôm nay Giavê cũng chưa cho các ngươi một tâm hồn để biết” (Đnl 29,3), nhưng sau cuộc lưu đày “Ngài sẽ cắt bì* tâm hồn ngươi và tâm hồn của miêu duệ ngươi” (Đnl 30,6).

Cũng một lời hứa đó Giêrêmia truyền cho những kẻ bị lưu đày (Gr 24,7) và chính lời hứa đó là điểm cốt yếu của việc loan báo một Giao ước* mới (31,31-34): một sự tẩy rửa tận cội rễ, “Ta sẽ tha thứ tội ác của chúg”, sẽ khiến họ có thể vâng phục tự thâm tâm; “Ta sẽ đặt Luật Ta tận đáy lòng ngươi, và Ta sẽ khắc nó trên tim ngươi”; được bảo đảm như thế, sự lệ thuộc nhau “Ta sẽ là Chúa chúng và chúng sẽ là dân Ta” sẽ là nguồn gốc của một kiến thức trực tiếp và đích thực: “Chúng sẽ không còn phải dạy dỗ nhau, chúng tự nói với nhau: Hãy học biết Giavê. Nhưng tất cả chúng sẽ biết Ta từ những trẻ nhỏ nhất đến những người già cả nhất”.

Ezekiel bổ túc viễn tượng bằng cách nói rõ vai trò của Thần Thiên Chúa* trong cuộc canh tân bên trong này: “Ta sẽ cho các ngươi một tâm hồn mới, Ta sẽ đặt trong các ngươi một tinh thần mới… Ta sẽ đặt Thần Khí Ta trong các ngươi” (Ez 36,26t); đó chính là sự sống lại của dân* Chúa (Ez 37,14). Bởi đó, Thiên Chúa sẽ tỏ mình ra không những cho Israel biết (Ez 37,13), mà còn cho cả chư dân* ngoại giáo nữa (Ez 36,23).

Khi mô tả trước ơn Cứu rỗi sẽ được thông ban, sách Isaia thứ hai cũng nói rõ những hậu quả phổ quát của nó. Việc tôn thờ ngẫu tượng* sẽ bị một chạm trán vô tiền khoáng hậu (Is 45 – 46). Trong cuộc Xuất hành* mới, Thiên Chúa sẽ chứng tỏ quyền bá chủ của Ngài trên lịch sử, và “mọi nhục thể sẽ biết Ta, Giavê, là vị cứu tinh của ngươi” (Is 49,26). Thiên Chúa phán với dân Israel rằng: “Các ngươi là những chứng nhân của Ta… để thiên hạ biết Ta” (Is 43,10) và phán với Tôi Tớ Ngài rằng: “Ta sẽ làm cho con trở nên ánh sáng muôn dân” (Is 49,6).

 4-Sự Khôn ngoan từ trời.

Một gióng tư tưởng khác cũng dẫn đến những nhãn quan tương tự. Các nhà hiền triết Israel đã kiếm tìm và gom góp những qui luật bảo đảm sự chỉ đạo sáng suốt cho đời sống (Cn) và một niềm xác tín bén rễ sâu trong họ. Chỉ Thiên Chúa mới biết sự bí mật (Gb 28). “Ngài đã dò biết hết cả con đường kiến thức” (Br 3,37). Vì vậy, “mọi Khôn ngoan* đều bởi Thiên Chúa” (Hđ 1,1). Chắc rằng vì lòng nhân lành của Ngài, Thiên Chúa đã ban nguồn Khôn ngoan cho dân Israel: “Đó chính là Luật* đã được Môsê ban hành” (Hđ 24,23t). Tuy nhiên, tặng phẩm này còn ở bên ngoài (x. Kn 9,5), và vì thế còn phải cầu xin Thiên Chúa hoàn tất tặng phẩm đó bằng cách đặt vào bên trong con người “trí Khôn ngoan của Ngài” (Kn 7,7; 9). “Vì nào ai có thể biết được ý định của Thiên Chúa?” (Kn 9,13).

Những người ở Qumrân tỏ ra khao khát “biết những mầu nhiệm của Thiên Chúa”. Họ tạ ơn Chúa vì những ánh sáng đã được ban cho (1QH 7,26t) và họ nóng lòng chờ đợi thời gian tỏ lộ cuối cùng sẽ ban cho những người công chính “hiểu kiến thức của Đấng Tối Cao” (1QH 4,18-22).

Tiếp xúc với thế giới Hy lạp, những người Do thái lưu lạc được hướng dẫn khai triển một lý luận có sắc thái triết lý hơn để đánh bại sự tôn thờ ngẫu tượng, va phổ biến kiến thức về một Thiên Chúa chân thật. Tác giả của sách Khôn ngoan khẳng định rằng cảnh thiên nhiên có thể dẫn con người đến việc phân định ra sự hiện diện và quyền năng của Đấng Tạo Hóa. (Kn 13,1-9).

 TÂN ƯỚC

Chính nơi Chúa Giêsu Kitô* mà chúng ta có kiến thức hoàn hảo về Thiên Chúa, kiến thức đã được hứa ban vào thời Giao ước mới.

 1-Các Tin Mừng Nhất Lãm.

Chúa Giêsu là người độc nhất có thể Mạc khải Chúa Cha* (Lc 10,22) và giải thích mầu nhiệm Vương quốc* Thiên Chúa (Mt 13,11). Người dạy dỗ với uy quyền (Mt 7,29). Từ chối thỏa mãn những sự tò mò vô ích (Cv 1,7), lời giáo huấn của Người không lý thuyết suông, nhưng được trình bày như một “Tin Mừng” và một lời mời gọi hoán cải* (Mc 1,14tt). Thiên Chúa đã tới gần, phải phân biệt những dấu chỉ của thời đại (Lc 12,56; 19,42), và phải sẵn sàng tiếp nhận Người (Mt 25,10tt). Chúa Giêsu kèm theo với lời nói những phép lạ, dấu chỉ* của sứ mạng Người (td Mt 9,6).

Nhưng tất cả những thứ đó chỉ là những công việc chuẩn bị. Không những kẻ thù của Người (Mc 3,5), mà chính các môn đệ của Người cũng không hiểu gì (Mc 6,52; Mt 16,23; Lc 18,34). Chỉ lúc nào máu của Giao ước mới đổ ra (Lc 22,20ss), ánh sáng trọn vẹn mới được bộc lộ: “Lúc đó Người mở trí cho họ” (Lc 24,45), lúc đó Người đổ tràn Chúa Thánh Linh (Cv 2,33). Như vậy, thời gian cuối cùng được thiết lập, thời gian của sự nhận biết thực sự Thiên Chúa.

 2-Thánh Gioan.

Rõ ràng hơn những Tin Mừng Nhất Lãm, Thánh Gioan ghi rõ những giai đoạn của Mạc khải* này. Trước hết, phải để Chúa Cha dạy bảo; những ai để dạy đối với Ngài đều được đưa về Chúa Giêsu (Ga 6,44t). Chúa Giêsu nhận ra họ và họ nhận ra Người (10,14) và Người dẫn đưa họ về cùng Chúa Cha (14,6). Tuy nhiên, tất cả những gì Người đã phán và làm đều còn khó hiểu đối với họ (16,25) bao lâu Người chưa bị treo lên Thập giá. Chỉ có sự treo lên vinh hiển này mới thực sự làm cho những điều trên thành hiển nhiên (8,28; 12,23.32); chỉ có sự treo lên này mơi thu hạt đươc cho các môn đệ Người ơn của Thánh Linh (7,39; 16,7). Thánh Linh sẽ tỏ lộ cho họ tất cả tầm quan trọng của Lời nói và công việc của Chúa Giêsu (14,26; x. 2,22; 12,16) và dẫn họ đến cl toàn diện (16,13). Như thế, các môn đệ biết Chúa Giêsu và nhờ Chúa Giêsu, họ biết Chúa Cha (14,7.20).

Như Giêrêmia đã tiên báo, một liên hệ mới được thiết lập với Thiên Chúa: “Con Thiên Chúa đã đến và Ngài ban cho chúng ta trí hiểu để chúng ta biết Đấng Chân Thật (1Ga 5,20; 2,14). Sự sống* vĩnh cửu không thể định nghĩa cách khác được: nó hệ tại ở việc “nhận biết Cha, Thiên Chúa độc nhất và chân thật, và Đấng Cha đã sai đến, Đức Giêsu Kitô” (Ga 17,3), sự nhận biết trực tiếp, theo một nghĩa nào đó, làm cho các tín hữu “không cần ai dạy họ nữa” (1Ga 2,27; x. Gr 31,34; Mt 23,8). Sự nhận biết này bao hàm một khả năng phân biệt, mà Gioan đã làm sáng tỏ những khía cạnh chính yêu (1Ga 2,3t; 3,19.24; 4,2.6.13), đề phòng những giáo thuyết sai lạc (2,26; 4,1 2Ga 7). Tuy nhiên, hiểu trong tất cả ngoại trương của nó, việc biết Thiên Chúa này đáng được gọi là “sự thông hiệp” (1Ga 1,3) vì nó là sự tham dự vào cùng một sự sống (Ga 14,19t) kết hiệp hoàn hảo trong chân lý Tình yêu (Ga 17,26; x. 1Ga 2,3t; 3,16…)

 3-Thánh Phaolô.

Trong thế giới Hy lạp đương khao khát lý thuyêt triết học và tôn giáo (gnôsis), Thánh Phaolô mạnh dạn giảng về Thập giá* Chúa Kitô (1Cr 1,23). Dù có một khoa học nhân loại cao siêu thế nào chăng nữa, thì ơn Cứu độ không ở trong khoa học đó được, nhưng ở trong niềm tin* vào Chúa Kitô bị đóng đinh, “sức mạnh của Thiên Chúa và Khôn ngoan của Thiên Chúa” (1Cr 1,23). Nhờ tạo vật, con người có thể biết Thiên Chúa, nhưng “tâm hồn ngu muội của họ đã trở nên tối tăm”, và họ hiến thân cho việc tôn thờ ngẫu tượng, đáng bị Chúa nổi giận (Rm 1,18-22), phải tự nhận mình không có đủ khả năng thấu hiểu những bí mật của Thiên Chúa (1Cr 2,14) và phải vâng phục Tin Mừng (Rm 16,25t) do “việc giảng dạy điên rồ*” truyền lại (1Cr 1,21; Rm 10,14).

Lúc đó việc tin vào Đức Kitô và vào phép rửa mở lối cho họ đi tới một sự nhận biết khác “lời lãi lớn nhất là biết Chúa Giêsu Kitô”; một sự nhận biết không lý thuyết, nhưng sống động: “Biết Người, với quyền năng* của sự sống lại và sự thông hiệp vào những đau khổ của Người” (Ph 3,8tt). Bởi đó, trí khôn sẽ được “đổi mới” và có thể “phân biệt đâu là ý Chúa*, điều gì tốt, điều gì làm đẹp lòng Ngài, điều gì hoàn hảo” (Rm 12,2). Chống lại những khuynh hướng duy lý đã xuất hiện đây đó giữa các Kitô hữu (1Cr 1,17; 8,1t; Cl 2,4.18), Thánh Phaolô hướng dẫn họ nhận biết tôn giáo cách đích thực hơn, sự nhận biết đến từ Thần Thiên Chúa* và nhờ đó chúng ta có thể thực sự “nhận biết những ơn Chúa đã làm cho chúng ta” và diễn tả chúng bằng một ngôn ngữ do “Thánh Linh chỉ dạy” (1Cr 2,6-16).

Trước “sự phong phú vô cùng của Chúa Kitô” (Ep 3,8), lòng thán phục của Thánh Phaolô lớn lên với năm tháng, và Ngài chúc phúc cho các Kitô hữu “sự triển nở đầy đủ trí khôn làm cho họ thấu hiểu mầu nhiệm* Thiên Chúa, trong đó ẩn dấu mọi kho tàng Khôn ngoan và kiến thức” (Cl 2,2t). Tuy thế, Ngài vẫn không quên rằng “kiến thức tăng triển” và “chính bác ái kiến tạo” (1Cr 8,1; 13,2): điều Ngài nhắm tới không phải là một sự nhận biết kiêu hãnh, nhưng là một sự nhận biết về “Tình yêu của Chúa Kitô vượt mọi sự hiểu biết” (Ep 3,19). Ngài mong đợi lúc mọi điều không hoàn hảo nhường chỗ cho điều hoàn hảo, lúc đó Ngài sẽ biết như Ngài được biết (1Cr 13,12).

Như thế, đối với Thánh Phaolô cũng như đối với toàn bộ Thánh Kinh, biết chính là nhập vào một dòng sức sống lớn lao và một dòng ánh sáng vĩ đại phát ra từ trái tim Thiên Chúa và trở lại với Ngài.

 JCo & AV

 →chân lý Cựu ước 3; Tân ước 2.3 – chiêm bao Tân ước – Chồng / Vợ Cựu ước 1 – điên – giảng dạy – hiện ra (Chúa Kitô) 4 b.7 – Khôn ngoan – Maria II 4 – Mạc khải – mầu nhiệm – nếm – sứ ngôn Cựu ước IV 4 – Thần Thiên Chúa Cựu ước I 3; Tân ước V 5 – thấy – tiền định – tim O, II 1.2 a – tin – tình yêu O; I Tân ước 3; II Cựu ước – ý định Tân ước II 1.

 BIỂU LỘ

 →ánh sáng&tối tăm Cựu ước I 2, II 2; Tân ước I 3 – bão – Biến hình – dấu chỉ – hiện diện của Thiên Chúa Cựu ước II – hiện ra (Chúa Kitô) 1 – lửa Cựu ước I – Mạc Khải – Ngày của Chúa – Sống lại Tân ước I 1.2 – vinh quang III.

BIỂU TƯỢNG

 →dấu chỉ – dụ ngôn I 1 – hình bóng – Mạc Khải Cựu ước I 2, II 2 – mầu nhiệm – Phản Kitô Cựu ước 1 – số – súc vật O – Thiên thần Cựu ước 2.

BỒ CÂU

 1-Chim cu, chim gáy, bồ câu là những loại chim được Thánh Kinh thường nhắc đến với tên gọi bồ câu (hb: Yonah). Đây là loài chim duy nhất được làm hy lễ trong Đền Thờ: Lễ vật của người nghèo thường dùng để dâng nhất là trong nghi thức thanh tẩy (x. trong sạch*) (Lv 1,14; 5,7.11; Ds 6,10; Lc 2,24; trích dân Lv 12,8). Do đó, mới có việc buôn bán bồ câu trong Đền Thờ (Mt 21,12ss; Ga 2,14.16).

 2-Khi so sánh, người Do thái thích lấy cảm hứng từ những tập quán của bồ câu mà họ quen thuộc. Khi Israel trông đợi sự Cứu rỗi, nhưng sự Cứu rỗi không đến, họ kêu van như tiếng chim bồ câu (Is 38,14; 59,11; Nah 2,8). Rồi thất vọng, họ mong ước bay vào hoang địa (Tv 55,7t). Nhờ bản năng, bồ câu biết mùa mà đi di trú, trái lại Israel không nhận ra luật Thiên Chúa được khắc ghi trong tâm khảm họ (Gr 8,7). Những cuộc di trú ấy lần lượt gợi lại sự lưu đày (Ez 7,16) hoặc cuộc quy tụ nơi trú ẩn (Os 11,11; Is 60,8). Đàng khác, “Ephraim như một bồ câu ngây thơ và không tâm địa” (Os 7,11), hoảng sợ vì nguy hiểm. Chúa Giêsu không trực tiếp dùng những cách so sánh ấy; nhưng Người dùng lối đối lập khi Người khuyên các môn đệ phải “tinh khôn như con rắn và đơn sơ như bồ câu” (Mt 10,16).

 3-Sau cùng, trong Thánh Kinh cũng như nơi một số đông thi sĩ, bồ câu có thể tượng trưng cho Tình yêu. Hôn phu ví người yêu mình như bồ câu (Dc 2,14; 5,2…). Israel tự nhận cho mình danh gọi ấy: “Chớ trao mạng bồ câu Chúa cho ác thú” (Tv 74,19). Lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa, Thần Thiên Chúa lấy hình bồ câu xuống trên Người (Mt 3,16ss). Không có sự giải thích nào chắc chắn về biểu tượng ấy. Rất có thể, đây không phải là một ám chỉ về con bồ câu bay về tàu Noê (St 8,8-12). Một số người dựa vào truyền thống Do thái đồng hóa bồ câu với Israel. Bồ câu đây chẳng biểu tượng cho Tình yêu Thiên Chúa xuống trên địa cầu đó sao? Sau cùng, phù hợp với những truyền thống Do thái khác nhìn thấy trong biểu tượng bồ câu Thiên Thiên Chúa bay là là trên mặt nước (St 1,2), một số phê bình gia cho rằng bồ câu gợi lại sự sáng tạo mới xảy ra khi Chúa Giêsu chịu phép rửa.

 XLD

→Đền thờ Tân ước I 1 – đơn sơ 2 – phép rửa III 2 – súc vật – Thần Thiên Chúa Tân ước I 1.

  BỎ MÌNH

 →chết Tân ước III – Thập giá II.

BỘI GIÁO

 →giả hình 3 – lạc giáo 1 – ngẫu tượng – Phản Kitô Tân ước – Thập giá II 3 – tỉnh thức 3.

BÓI TOÁN

 →mà thuật 1.

BỐN MƯƠI

 →số I 1 – Thăng Thiên II 3.

BỔN PHẬN

 →lành&dữ – Luật – lương tâm – phụng sự II, III – vâng lời 3 – ý Chúa Tân ước II.

BÓNG

 Cũng như đêm* đen hay đám mây*, bóng biểu hiện hai kinh nghiệm, tùy theo lúc nó xác quyết sự khiếm diện hay giả thuyết sự hiện diện của ánh sáng*. Con người muốn có ánh sáng tràn đầy và tìm kiếm bóng mát; Thiên Chúa là ánh sáng và ngọn lửa* bừng cháy, nhưng cũng là bóng mát. Ngài đã định liệu ẩn mình trong áng mây mờ tối. Với ý nghĩa lưỡng diện này, Thánh Kinh diễn tả “bóng”.

 I-LOAN BÁO SỰ CHẾT

1-Bóng tối qua mau.

Là một tạo vật ý thức mình sẽ biến mất, con người nhận biết thân phận mình trong sự trào dâng hay sự hiện diện chóng qua của bóng tối; “ngày xế tàn, bóng chiều đã trải dài” (Gr 6,4), đời người cũng thế, các thờikỳ của cuộc đời cứ mãi tăng dần y theo khuôn mẫu thời gian (2V 20,9tt). Con người là “bóng chóng qua không ngừng lại” (G 14,2; x. 8,9); ngày sống của họ xế đổ vào màn đêm* như cái bóng (Tv 102,12; 144,4), họ vô vọng đi vào cõi chết (1Sk 29,15; Kn 5,9). Theo dòng cuộc sống phù hoa (Gv 6,12), họ lê bước như cái bóng (Tv 39,7); nhưng trong tiến trình không trở lại này, con người cảm thấy tính cách bất định của mình, nên họ gởi trọn lòng tin vào “Cha sự sáng, trong Ngài không có biến dịch, cũng không có bóng dáng đổi thay” (Gc 1,17).

 2-Tối tăm và bóng chết.

Dựa vào một nguyên ngữ tuy chưa được xác định, nhưng mang một ý nghĩa sâu xa về thực tại, bản “LXX” thường dịch từ ngữ Hy bá có nghĩa “bóng thâm u” bằng “bóng sự chết”; các tác giả Tin Mừng đã biện minh cho cách dịch này (Is 9,1; Mt 4,16; Lc 1,79). Thực thế, bóng tối không chỉ là một hiện tượng đổi thay và chóng qua, mà chính là một trỗng rỗng, một hư ảo, là chính tối tăm mờ mịt mà Giob ao ước khi lâm nạn (G 3,1-6). Shêol vô vọng, quê hương của sự chết*, là vùng đất tối tăm và bóng chết (10,21), ở đó mọi ánh sáng chỉ là đêm đen. Ngay từ đời này thử thách* đã tước đoạt con người khỏi ánh sáng kẻ sống: “Bóng tối bao phủ lấy mắt tôi” (16,16).

 3-Chủ của bóng tối.

Đứng trước đe dọa của bóng tối sự chết, chỉ có mình Thiên Chúa là Đấng cứu vớt. Ngài biến đổi ánh sáng giả tạo mà người tội lỗi tự định cho mình thành bóng tối dày đặc (Gr 13,16; x. Tv 44,20); Ngài cũng có thể “khiến bóng tối thâm u trở thành ánh sáng” (G 12,22), và “lôi kéo những ai bị giam hãm ra khỏi bóng đen và tăm tối” (Tv 107,10.14). Vì thế, lòng tràn đầy tin tưởng*, tác giả Thánh Vịnh đã thốt lên: “Dầu tôi đi qua thung lũng tối tăm, tôi cũng chẳng sợ chi, vì Chúa ở cùng tôi” (Tv 23,4). Niềm hy vọng này đã thành sự thực từ khi lời sứ ngôn Isaia được hoàn tất trong Đức Kitô: “Một luồng sáng đã chiếu soi cho những ai ở trong vùng bóng tối sự chết” (Mt 4,16; Is 9,1).

 II-SỰ HIỆN DIỆN BẢO TRỢ

 Cũng như mây*, đối với người này là bóng tối đe dọa, đối với người khác là ánh sáng và sự bảo trợ, bóng tối kinh hoàng có thể là sức che chở; nhờ sự bảo đảm trợ lực của nó, con người khám phá ra một sự hiện diện.

 1-Bóng trần thế.

Trong cuộc sống thường nhật, nhất là ở Đông Phương, người ta vốn ưu thích bóng mát, vì nó gìn giữ khỏi sức hun đốt của mặt trời. Mọi tạo vật đều cần bóng mát: Con Bêhêmoth hung dữ nấp dưới cành sen (G 40,22) – chim chóc, thú vật và con người tìm ẩn nấp dưới bóng cây* (Ez 31,6). Vì thế, cây nho bóng mát biểu tượng quyền năng* bảo trợ như: Đaniel đã giải thích cho Nabukodonosor: “Muôn tâu Bệ hạ, cây chính là Ngài” (Đn 4,17tt). Cũng vậy, dưới bóng vua*, an ninh được bảo đảm (Thp 9,15); vị hoàng công chính như là “bóng mát của đá tảng* trên mặt đất cằn cỗi” (Is 32,2). Chỉ có chiếc bóng mơ hồ như thế mới có thể lừa phỉnh: như chiếc bóng của cây thầu dầu khô trên đầu Giona (Gn 4,5tt); hay bóng của vua Israel (Ai 4,20); hoặc hơn thế nữa, bóng Ai cập (Is 30,2) hay bóng những cây “bách hương trên đồi Libanô”, chúng có thể trong chốt lát bị nhổ bật và vất bỏ vào hố sâu cùng với những ai đã tin tưởng vào bóng giả dối của chúng (Ez 31; Đn 4).

 2-Bóng Thiên Chúa.

Thay vì sự bảo trợ mỏng manh, chỉ một mình Thiên Chúa mới cho chúng ta một bóng che bảo đảm. Cần phải xa tránh những bóng lá mát dịu của những cây thiêng (Hs 4,13) và hãy tìm kiếm nơi Giavê bóng mát muôn đời (Tv 121,5; Is 25,4t). Mộng ước của tín hữu là được “cư ngụ dưới bóng Đấng toàn năng (Shaddai)” (Tv 91,1), và làm Tôi Tớ đích thực được ở dưới bóng bàn tay* quyền năng của Ngài (Is 49,2; 51,16) hay dưới bóng cánh Ngài (Tv 17,8; 57,2; 63,8).

Đàng sau những ẩn dụ này, người ta tìm lại được một vài kỷ niệm của cuộc Xuất hành. Bản “LXX” đã cảm nhận điều đó khi dịch động từ Sakan (bao bọc, ở, nghỉ) bằng skiazein, episkiazein (che bóng, phủ bóng). Lúc đó, mây* bao phủ Lều Thiên Chúa (Xh 40,35), tức là định rõ thời gian hạ trại (Ds 9,18.22); bóng mây cũng đã bao phủ dân Israel (10,34), bảo vệ họ cách kỳ diệu, như sách Khôn ngoan đã mô tả (Kn 19,7). Sự bảo trợ này sẽ được tái lập trong thời sau hết. Vinh quang Giavê sẽ ngự trên Sion đã được thanh luyện như “một chiếc tàn lọng và một tấm lều làm mát dịu sức nóng ban ngày, và trở thành nơi trú ẩn trong cơn mưa bão” (Is 4,5t). Và khi Israel đi dưới bóng vinh quang này, thì “các cánh rừng sẽ rợp bóng che mát họ” (Br 5,7tt; x. 1,12).

Lúc thánh hiến Đền thờ*, mây đã tràn ngập nơi Cực Thánh, và Salomon đã kêu lên “Đức Giêsu đã quyết định ngự ẩn trong áng mây dày đặc” (1V 8,12). Ở đây, ngoài ý tưởng bảo trợ, còn có một ý tưởng về sự hiện diện* mật thiết của Thiên Chúa; chính hiểu theo nghĩa này mà Giêrusalem có thể “ngồi dưới bóng hằng mong ước” như vị hôn thê trong Diễm Tình Ca (Dc 2,3). Nơi Đức Maria*, mộng ước đã trở thành sự thực, khi Ngài được quyền năng Thiên Chúa bao trùm (Lc 1,35), thụ thai Đấng mà áng mây sẽ tỏa che trên Người lúc Biến hình (9,34 ss).

 3-Bóng Israel.

Đến lượt dân tuyển chọn trở thành nguồn bảo trợ của Thiên Chúa. Xưa kia, vượt trên các vương quốc khác; cây nho* Israel đã phủ bóng trên các ngọn núi (Tv 80,11). Rồi bị quật ngã do sự phán xét của Thiên Chúa, sau cùng Israel lại trở thành tàn cây* xanh tươi làm nơi ẩn thân cho chim trời (Ez 17,23; x. Đn 4,9), hình bóng hữu hình của Vương Quốc* Thiên Chúa rộng mở đón nhận mọi chư dân (Mt 13,32 ss). Cũng vậy, khi Thánh Phêrô dùng bóng mình chữa lành các bệnh nhân (Cv 5,15), Ngài Mạc khải sự hiện diện Cứu rỗi của Thiên Chúa trong Giáo Hội.

 XLD

 →ánh sáng&tối tăm – âm phủ&hỏa ngục Cựu ước I 1 – cây 2 – chết – đám mây – đêm – hình bóng.

BỮA ĂN HUYNH ĐỆ

 →bữa ăn III – Phép-Thánh-Thể II 3

 BỮA ĂN

 Mỗi ngày nhiều lần ta dùng bữa trong bầu khí thân mật gia đình hay trong một bữa tiệc chính thức. Ta có thể ăn uống cơ cực, hoặc chè chén say sưa. Việc ngồi đồng bàn tạo nên một cộng đoàn chung sống giữa những người dùng bữa với nhau. Nhưng bữa ăn cũng có thể mang tính cách linh thiêng nơi ngoại giáo cũng như trong Thánh Kinh. Người ta ngồi vào bàn tiệc dâng cúng ngẫu tượng để kết hợp với quỷ thần, hay tham dự tiệc thánh Chúa để được thông hiệp với Mình và Máu Ngài. Qua hình thức đó, con người thỏa mãn được khát vọng thực hiện một cuộc chung sống với chính Thiên Chúa hay với quyền lực hạ giới.

 I-NHỮNG BỮA ĂN CỦA CON NGƯỜI.

Trong Thánh Kinh, một bữa ăn dù rất thanh đạm cũng diễn tả được cử chỉ cao đẹp của con người. Là một hình thức xã giao trong việc tiếp khách (x. hiếu khách*) (St 18,1-5; Lc 24,29) hoặc để chứng tỏ lòng biết ơn (Mt 9,11), là dấu vui mừng khi có một người họ hàng đến thăm viếng (Tb 7,9) hay đứa con hoang trở về (Lc 15,22-32), bữa ăn có thể trở thành một việc tạ ơn* Thiên Chúa là Đấng Cứu thế (Cv 16,34). Nếu bữa ăn phải luôn tràn đầy niềm vui* (Ga 2,1-10; x. Gs 9,7), thì trái lại tính cách xa hoa kiểu cách không được niềm nở chấp nhận (x. Gđt 1,16), ngay cả nơi Salomon (1V 10,5). Sự thỏa thê thoái hóa thành thác loạn điên rồ (Mt 14,6-11; Lc 16,19), và tự nó có thể biến thành hình phạt (Gđt 13,2). Phúc cho ai đủ sáng suốt để nghe Lời Thiên Chúa khuyến cáo về điểm này (Đn 5,1-20; Lc 12,19t)!

Được kinh nghiệm chỉ giáo, các bậc hiền đức đã vạch ra những qui luật phải giữ trong khi dùng bữa: những lời khuyên đơn giản về sự tiết độ (Cn 23,20t; Hđ 31,12-22) hoặc về sự thận trọng (Cn 23,1tt; Hđ 13,7) chú trọng về cách sống ngay thẳng (Hđ 6,10; 40,29). Nhất là các ngài báo trước sự bất hạnh cho những ai không tuân giữ luật hiếu khách* và lên án kẻ phản bội tình liên kết giữa những người đồng bàn (Tv 41,10): một ngày kia, Satan sẽ nhập vào lòng Giuđa, kẻ vừa lãnh miếng bánh rơi tay Đấng mà hắn đã quyết định phản bội (Ga 13,18.26t).

 II-CÁC BỮA TIỆC THÁNH

Thời Thánh Kinh, việc phụng tự bên Đông Phương bao gồm những bữa tiệc thánh có tính cách huyền bí; người ta tin rằng việc thông phần vào hy lễ trong các bữa tiệc ấy bảo đảm sự chiếm hữu quyền năng thần linh. Israel luôn bị cám dỗ chạy theo những hình thức phụng tự này của dân Moab (Ds 25,2) hay của dân Canaan (Ez 18,6.11.15; 22,9). Tôn giáo Giavê cũng bao gồm những bữa tiệc thánh dưới hình thức chính thống (Lv 3) hoặc ngay cả dưới hình thức ngụy tạo có tính cách mê tín qua việc thờ kính bò vàng (Xh 32,6). Vả lại mọi bữa tiệc, ít là những bữa tiệc có thịt, đều mang tính cách linh thiêng (1Sm 14,31-35); sau cùng, mọi lễ nghi tôn giáo trọng thể đều bao gồm một bữa tiệc hy tế* (1Sm 9,12t; x. 1,4-18). Ý nghĩa đích xác của việc ăn tiệc thánh này không được rõ ràng và dường như chính dân Israel phần nào cũng không thấu triệt. (x. Lv 10,17t chứng tỏ điều này). Các sứ ngôn thì không nhắc tới. Thánh Kinh cũng không hề nhắc tới một sự chiếm hữu các sức lực linh thiêng bằng đường lối này theo như cách diễn tả của hồn linh giáo, trái với quan niệm ngây ngô muốn nuôi dưỡng Thiên Chúa bằng những của ăn hy tế (Ds 28,2) mà nay này tác giả Thánh Vịnh cũng không muốn nghe nói tới nữa (50,12).

Tuy nhiên, các truyền thống khác nhau đều đồng ý về điểm này: tiệc thánh là một nghi thức không phải để thiết lập  nhưng để củng cố một Giao ước* dù là Giao ước giữa các bộ lạc (St 31,53t; x. 26,26-31) hay là Giao ước giữa Thiên Chúa với Đấng xức dầu (1Sm 9,22) với các tư tế (Lv 24,6-9), với dân Ngài (Xh 24,11; Đnl 27,7). Chính vì thế bữa ăn Vượt Qua là sự tưởng niệm những kỳ công khi khởi đầu Giao ước (Xh 12_13) và việc ăn của đầu mùa* là nhắc lại sự quan phòng* liên lỉ của Thiên Chúa đối với dân Ngài (Đnl 26).

Sách Đệ Nhị Luật hệ thống hóa tư tưởng này bằng cách đề cao chủ đề một cuộc lễ* vui mừng trước nhan Giavê dưới khía cạnh bữa tiệc (Đnl 12,4-7.11t.18; 14,22t; 15,20; 16,10-17): bữa tiệc thánh duy nhất chính là bữa tiệc quy tụ toàn thể dân chúng trong nơi mà Thiên Chúa đã chọn để Ngài hiện diện, và qua việc tạ ơn trong bữa tiệc này dân chúng tưởng niệm những ơn lành Chúa ban đồng thời ca tụng Ngài bằng chính các ân huệ của Ngài. Việc cử hành nghi lễ qua lời kinh, tiếng hát hay bằng việc nhảy múa lấn át việc ăn uống. Sự tiến triển này ta có thể nhận thấy trong phụng vụ (Kitô giáo), được các sứ ngôn hỗ trợ qua việc các Ngài đả phá quan niệm quá vật chất về hy tế* và cùng một trật đề cao giá trị hy tế ca tụng*: “Hỡi Giêrusalem, hãy vui lên! Giavê, Thiên Chúa ngươi đang ở giữa ngươi, Ngài sẽ hoan lạc vì ngươi, Ngài sẽ canh tân ngươi trong tình thương của Ngài, vì ngươi, Ngài sẽ nhảy múa với tiếng reo hò mừng rỡ” (Xêp 3,14-17; x. Is 30,19; Neh 12,27-43), chủ đề này trở nên thiết yếu cho sự lãnh hội hy lễ trong luật mới (Dt 13,9-16).

 III-NHỮNG BỮA ĂN CỦA CHÚA KITÔ

Những bữa ăn của con người mang trọn vẹn ý nghĩa khi Đấng Thần-Nhân hiện diện ở đó. Người là người bạn được mời đến dùng bữa ăn trong nhà Lazarô (Lc 10,38-42) và tại tiệc cưới Cana (Ga 2,1-11). Người nhận lời mời của ông Simon thuộc nhóm Pharisiêu nhưng đồng thời nhận lời tự thú của người nữ tội nhân thống hối (Lc 7,36-50). Tự nhiên Người ăn cùng bàn với những người thu thuế như Matthêô (Mt 9,10) hay Giakêu (Lc 19,2-10).

Sự hiện diện của Chúa Giêsu đem lại ý nghĩa trọn vẹn cho bữa ăn. Người tụ họp những kẻ theo Người cùng ăn một bàn, và chính Người đọc lời chúc tụng* (Mt 14,19; 15,36). Người công nhận luật hiếu khách (Lc 7,44tt); Người khuyên nên khiêm tốn chọn chỗ chót hết (14,7-11) và lo lắng đến Lazarô nghèo khổ (16,21). Những bữa ăn này mang lại những ân huệ của Chúa và do đó thể hiện những lời loan báo về Đấng Messia trong Cựu ước; niềm vui (Mt 9,15), tha thứ (Lc 7,47), Cứu độ (Lc 19,9), và cuối cùng là sự sung mãn khi Chúa Giêsu đích thân dọn bữa cho đám đông đói lả nơi hoang địa (Mt 14,15-21). Những công trình* này của Chúa Kitô một đàng vừa ám chỉ hạnh phúc địa đàng vừa nhắc lại những phép lạ trong thời Xuất Hành (Ga 6,31tt; x. Xh 16,18), một đàng cũng loan báo một bữa tiệc khác, đó là Tiệc Thánh Thể (x. phép Thánh Thể*) và qua đó, loan báo bữa tiệc cánh chung.

Trong khi chờ đợi ngày trở lại, Chúa Giêsu khai mạc tiệc Giao ước mới được ký kết trong máu Người. Thay vì manna*, Chúa ban chính nhục thể* mình làm của ăn là bánh* thật ban sự sống cho thế gian (Ga 6,31tt. 48-51). Bữa ăn này nối tiếp những bữa ăn mà xưa kia đã quy tụ quanh Người những kẻ thuộc về Người trong tình huynh đệ và có lẽ những bữa ăn này đã gồm có bánh và rượu. Nhưng trước đó Người rửa chân cho các môn đệ để nói lên cách tượng trưng ý nghĩa hy tế của phép-Thánh-Thể và nhắc rằng lòng khiêm nhường và bác ái là điều kiện để tham dự Tiệc Thánh một cách xứng đáng (Ga 13,2-20).

Vào ngày Phục sinh, Đấng sống lại hiện ra* cùng các môn đệ chính trong một bữa ăn (Lc 24,30; Ga 21,30); khi lặp lại “việc bẻ bánh” trong niềm hân hoan và sự hiệp thông* huynh đệ (Cv 2,42.46) cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên tại Giêrusalem vẫn nghĩ mình lại được đồng bàn với Đấng sống lại (Cv 1,4).

Quả vậy, đối với Thánh Phaolô, điều kiện tiên quyết để được tham dự phép-Thánh-Thể chính là đức bác ái (1Cr 11,17-33). Như thế, Ngài vạch rõ hai chiều hướng của tiệc thánh: tự bản chất, nó là bữa ăn có tính cách “bí tích”, bởi vì bất cứ ai ăn bánh này đều nên một với Chúa và qua Người, với tất cả (1Cr 10,17); tuy nhiên, bữa ăn này chưa phải là bữa ăn tối hậu: nó tiên báo Chúa sẽ trở lại để dọn bữa tiệc cánh chung.

 IV-BỮA TIỆC CÁNH CHUNG.

Hình ảnh bữa tiệc được các bậc hiền đức dùng trong Cựu ước để diễn tả niềm vui do bữa tiệc của Đấng Khôn Ngoan khoản đãi (Cn 9,1t). Vào thời cuối cùng “Giavê sẽ thiết đãi mọi dân tộc một bữa tiệc linh đình” (Is 25,6; x. 65,13), tất cả những ai nghèo đói đều được tham dự “cho dù họ không có vàng bạc” (55,1t). Chúa Giêsu hứa ban cho môn đệ Người toàn phúc* này (Mt 5,3.6) mà Người sẽ thực hiện trong ngày quang lâm: tất cả những ai đã lấy Đức tin mà đáp lại lời mời gọi của đức vua sẽ được ngồi vào bàn tiệc (Lc 22,30) đều thưởng thức rượu nho mới (Mt 26,29) cùng với Abraham, Isaac và Giacob trong Nước Trời (Mt 8,11) miễn là có mặc áo cưới (x. y phục*) (22,11-14); và nếu những tôi tớ luôn trung thành tỉnh thức*, Chủ “sẽ thắt lưng, đặt ngồi vào bàn và đi lại hầu hạ (x. phụng sự*) chúng” (Lc 12,37). Bữa ăn này quy tụ tất cả mọi người, nhưng trong đó mỗi người được diện kiến Chúa: “Đây Ta đứng ngoài cửa và gõ; ai nghe tiếng Ta mà mở cửa, Ta sẽ vào với nó và Ta sẽ dùng bữa tối với nó, Ta gần nó và nó gần Ta” (Kh 3,20).

 PMG

  →bánh – chén 1 – đói & khát Cựu ước 1 c – Giao ước Cựu ước I 3; Tân ước I – hiệp thông – hy tế Cựu ước II 1; Tân ước II 1 – Phép-Thánh-Thể – rượu nho – thực phẩm – vĩnh biệt Tân ước 1 – Vương quốc Tân ước II 2 – Vượt qua.

 BỤI

 →Ađam I 1 – chết Cựu ước I 2 – tro bụi.

BUỘC & THA

 →Giáo Hội III 2 c – quyền bính Tân ước II 1 – tha thứ II 3.

BƯỚC ĐI

 →chạy – đường – nhân đức& tật xấu 1 – ở O – theo.

BUỒN SẦU

→an ủi – bách hại – buồn – đau khổ – nghèo – quả phụ o – vui Tân ước I 2, II 2.

BUỒN

 Ngược với niềm vui* gắn liền với ơn Cứu rỗi* và sự hiện diện của Thiên Chúa*, buồn phiền là trái đắng cay do tội lỗi* làm xa lìa Thiên Chúa. Nguyên nhân bên ngoài thật thiên hình vạn trạng: đó có thể là một thử thách* khi Thiên Chúa dấu mặt* (Tv 13,2t), một người vợ làm thất vọng vì tính hung ác (Hc 25,23), một đứa con thiếu giáo dục (30,9t), một người bạn* thất trung (37,2), sự điên dại* của mình (20,10tt) hay trụy lạc (36,20) và lời gièm pha người khác (Cn 25,23). Thánh Kinh không đành lòng thuật lại những thất vọng* ê chề của con người, “loài được nuôi bằng bánh lệ châu” (Thánh Vịnh 80,6), và không người an ủi (Gv 4,1); đàng sau thiên nan vạn nạn đó, Thánh Kinh tiết lộ tội lỗi là nguyên nhân thực sự, và Đấng Cứu thế là phương thuốc trị liệu: nếu buồn sầu phát sinh từ tội lỗi, thì niềm vui là thành quả của ơn Cứu độ (Tv 51,14).

CỰU ƯỚC

1-Lương tri và buồn sầu.

Không phải ngay từ đầu mà Mạc khải vươn đến những tột đỉnh như thế; Mạc khải cũng giữ lại những phản ứng tầm thường của những loại triết gia phái Khắc kỷ, thứ phản ứng muốn tìm cách chạy trốn buồn sầu, đồng thời vẫn biết rằng chỉ có một cách duy nhất bảo đảm niềm vui sống là biết kính sợ Thiên Chúa* (Hc 1,12t). Buồn sầu làm suy nhược tâm can (Cn 12,25), phá đổ tinh thần (15,13), làm người khô héo (17,22) hơn cả bệnh tật (18,14). Vì thế, những bậc Khôn ngoan khuyên nhủ: “đừng buông theo những tư tưởng đen tối” (Hc 30,21), “hãy tống đi những buồn sầu đang làm cho con người già trước tuổi (30,22). Quả thực, phải “sầu khỏ với những người sầu khổ” (Hc 7,34; x. Cn 25,20); nhưng không nên rên la quá độ khi mất người thân yêu: “hãy tự an ủi khi người thân tắt thở” (Hc 38,16-23); và nhắp rượu* giải niềm cay đắng (Cn 31,6t; Gv 9,7; 10,19); và nếu “niềm vui có sớm biến thành buồn” (Cn 14,13), thì đừng quên rằng “có một thời để khóc và một thời để cười” (Gv 34). Những lời khuyên trên đây dù có vẻ tầm thường, nhưng cũng giúp lột bỏ sự giả trá đang len lỏi trong buồn sầu và chuẩn bị ta đón nhận Mạc khải cao hơn.

 2-Buồn sầu, dấu chỉ của tội lỗi.

Thực vậy, lịch sử Giao ước xét theo một khía cạnh, là cuộc giáo dục* dân Israel, khởi đầu từ nỗi buồn sầu do những sửa phạt* đáng chịu gây nên: điều đó chứng tỏ rằng người ta đã ý thức mình xa lìa Thiên Chúa. Sự trừng phạt tội thờ ngẫu tượng tại Sinai là “Giavê sẽ không đích thân ở với dân”; phải cất y phục* ngày lễ đinhư dấu chỉ cho tang chế và ly biệt (Xh 33,4t). Khi vào đất hứa (Gs 7,6t.11t), trong thời Thẩm Phán (Thp 2), người ta vẫn cảm thấy cùng một nhịp điệu; tội lỗi, xa lìa Thiên Chúa, hình phạt đem đến phiền muộn. Các sứ ngôn có nhiệm vụ Mạc khải nỗi buồn sầu ấu bằng cách chỉ rõ nền hòa bình* hão huyền của dân tội lỗi; trước tiên các ngài thực hiện điều đó bằng cách tự hạ mình sống trong vực thẳm sầu muộn. Gương Giêrêmia còn đó, nhưng tiếng kêu bi ai của Ngài rất có thể là những tiếng kêu của dân tộc: trước nguy cơ chiến tranh (Gr 4,19), trước nạn đói (8,18), tai ương (9,1), Ngài là hiện thân cho ý thức thống hối của dân tộc tội lỗi (9,18; 13,17; 14,17). Ngài sống tách biệt với dân chúng như lời chứng đối nghịch (15,17t; 16,8t). Ezekiel cũng vậy, nhưng ngược lại ngài không khóc vì cái chết của người vợ, “niềm vui của ông”, trái tim đá của dân Israel cũng chai cứng như vậy (Ez 24,15-24).

 3-Buồn sầu theo cái nhìn của Thiên Chúa.

Các sứ ngôn cũng có sứ mệnh duy trì niềm thống hối đích thực. Sự buồn sầu hẳn thực được diễn tả bằng nhiều tiếng kêu la và cử điệu: chay tịnh* (Thp 20,26), xé y phục* mình ra (G 2,12), mang bị và rắc tro (2Sm 12,16; 1V 20,31t; Ai 2,10; Ge 11,13t; Ne 9,1; Đn 9,3), kêu la và than khóc (Is 22,12; Ai 2,18t; Ez 27,30tt; Est 4,3). Các nghi lễ sám hối* đó đôikhi bị các sứ ngôn bêu xấu (Hs 6,1-6; Gr 3,21-4,22), vì nếu cần phải khóc, thì lý do là không vì mất của cải nhưng vì vắng bóng Thiên Chúa (Hs 7,14), khóc vơi điều kiện là trung thành với Luật (Ml 2,13), khóc để biểu lộ lòng thống hối đích thực: “Hãy xé nát tâm hồn, chớ đừng xé áo!” (Ge 2,12t). Trong trường hợp đó, những luận chứng trên đều có giá trị (Ne 9,6-37; Er 9,6-15; Đn 9,4-19; Br 1,15-3,8; Is 63,7-64,11); những tiếng khóc làm mủi lòng Thiên Chúa (Ai 1,2; 2,11.18; Tv 6,7t); sự buồn sầu là lời thú nhận của tội nhân: “Lạy Chúa xin hãy hứng nước mắt con vào bình của Chúa!” (Tv 56,9).

 4-Buồn sầu và hy vọng.

Trái lại, con tim tan nát không làm vỡ niềm hy vọng; nó đưa ta về với Đấng Cứu thế, Đấng không muốn tội nhân phải chết nhưng được sống (Ez 18,23). Qua cuộc lưu đày được nhìn nhận như hình phạt tiêu biểu cho những tội đã phạm, dân Israel thoáng thấy rừng một ngày nào đó nỗi buồn sầu sẽ không còn nữa. Rakhel đã than khóc con cái mình bị mang đi; bà không muốn được an ủi, nhưng Giavê đã can thiệp: “Hãy im tiếng khóc, và lau khô nước mắt!” (Gr 31,15tt). Giêrêmia vị sứ ngôn của bi ai bỗng nhiên trở thành vị sứ giả của an ủi*, gieo niềm hy vọng: “Họ ra đi trong nước mắt, Ta đưa họ về trong an ủi; Ta sẽ biến đổi tang chế thành vui mừng, Ta sẽ an ủi và làm cho họ hoan lạc sau những nỗi thống khổ” (31,12t). Bấy giờ đoạn sách Isaia nói về niềm an ủi sẽ đổ đầy hương thơm (Is 40-55; 35,10; 57,18; 60,20; 61,2t; 66,10.19) vào lòng Sion cho dù không muốn vui ca đang thời lưu đày (Tv 137). “Người gieo trong nước mắt sẽ gặt trong hân hoan” (Tv 126,5; x. Br 4,23; Tb 13,14). Hẳn rằng tội lỗi và buồn sầu còn có thể xảy tới (Er 10,1), nhưng người ta hy vọng chúng chỉ tràn ngập Thành đô* sự dữ (Is 24,7-11), trong khi đó, trên núi Thiên Chúa, “Ngài sẽ lau khô nước mắt trên mọi gương mặt” (25,8). Tuy nhiên, đó cũng không phải là lời cuối cùng của Cựu ước. Viễn tượng địa đàng này sẽ được sách Khải huyền lặp lại (Kh 21,4), nó không che mất thực tại thống khổ của con đường đưa đến niềm vui bất tận: một ngày nào đó, sẽ phải than khóc “Đấng bị đâm thâu qua”, để ngu vui vô tận được tràn lan bên mạn Thành (Dcr 12,10t).

 TÂN ƯỚC

1-Buồn sầu của Chúa Giêsu Kitô.

Đấng xóa tội trần gian phải gặp nỗi buồn sầu bao la của nhân loại dày võ mà không bị đè bẹp. Như các sứ ngôn, Người cũng cảm thấy nỗi buồn sầu xa trước thái độ cứng lòng* của Pharisiêu (Mc 3,5), Người đã than phiền Giêrusalem vô tâm không biết giờ Người thăm viếng* (Lc 19,41). Ngoài nỗi buồn vì dân tộc được chọn, Chúa Giêsu đã khóc trước cái chết*, trước Lazarô, người bạn chí thân ly trần được vài hôm (Ga 11,35). Đây không chỉ là thứ tình bạn thuần nhân loại mà người Do thái* lầm tưởng (11,36t), vì Chúa Giêsu lại thổn thức trong lòng (11,38), chắc hẳn vì Người đã yêu Lazarô bằng một Tình yêu phát xuất từ Chúa Cha (15,9). Nhưng trước đó, Người đã thổn thức và xúc động lần thứ nhất (11,33.38) khi nghe những tiếng khóc nức nở nói lên thực tại khủng khiếp của cái chết mà Người sẽ phải đối diện nơi mồ Lazarô đã sình thối.

Không chỉ đối diện với cái chết mà trong chính cái chết, Chúa Giêsu muốn chịu “buồn sầu và lo sợ”, “buồn sầu cho đến chết” (Mt 26,37t ss), một nỗi buồn sầu có giá trị như cái chết: phải chăng ý muốn Người sẽ xung khắc với ý muốn của Chúa Cha, tạo nên một hố sâu mà chỉ có lời nguyện cầu liên lỉ mới có thể lấp đầy được? nhưng sau khi đã thu góp những lời kêu van và khóc lóc của nhân loại trước cái chết trong lời Người cầu khẩn, Người được Chúa Cha chấp nhận (Dt 5,7); trên Thập giá, nhờ lời Thánh Vịnh nói về lòng tin tưởng của Người Công Chính bị bách hại (Mt 27,46 ss), Người diễn tả việc Thiên Chúa bỏ rơi mình mà do đó Người cảm thấy phải chết: theo lời giải thích của Thánh Luca, đó là để phó mình cho Đấng xem ra như bỏ rơi Người (Lc 23,46). Như thế, Đấng vô tội đã chiến thắng sự buồn sầu khi tự nộp mình cho nó.

 2-Phúc cho kẻ khóc lóc! (Lc 6,21).

Đấng đã phải đắm mình như thế trong vực sầu khổ có thể chúc phúc (x. toàn phúc*) không phải cho đau đớn thể xác nhưng cho nỗi buồn sầu gắn liền với niềm vui Cứu độ. Cần phân biệt hai mối buồn sầu. “Buồn sầu theo ý Thiên Chúa phát sinh lòng thống hối bổ ích mà không ân hận; buồn sầu theo ý thế gian mang lại cái chết” (2Cr 7,10). Tư tưởng này của thánh Phaolô được làm sáng tỏ với nhiều thí dụ thông thường. Trường hợp chàng thanh niên buồn sầu ra đi vì chuộng giàu* sang hơn Đức Giêsu (Mt 19,22) chàng là mẫu cho những kẻ giàu sang bị thánh Giacôbê kết án phải chết đời đời (Gc 5,1); trường hợp những môn đệ ở vườn Giêtsêmani bị giấc ngủ* và buồn sầu đè bẹp, nghĩa là sẵn sàng bỏ rơi Thầy mình (Lc 22,45); sau cùng trường hợp Giuđa thất vọng vì phải xa lìa Đức Giêsu bởi phản bội (Mt 27,3tt): đó là sự buồn sầu của thế gian*. Ngược lại, buồn sầu theo ý Thiên Chúa làm cho các môn đệ u sầu khi nghĩ đến sự phản bội đang đe dọa Chúa Giêsu (Mt 26,22), Thánh Phêrô khóc nức nở vì đã chối Chúa (26,75), các môn đệ buồn sầu trên đường đi Emmaus khi nghĩ Chúa Giêsu đã lìa họ (Lc 24,17), Maria khóc nức nở vì người ta đã lấy mất Chúa mình (Ga 20,11tt). Điều giúp phân biệt hai sự buồn sầu, đó là lòng yên mến Chúa Giêsu; tội nhân phải bước qua sự buồn sầu tách khỏi thế gian để gắn chặt vào Chúa Giêsu, trong khi đó người đã hoán cải chỉ muốn biết đến nỗi buồn sầu khi phải xa lìa Chúa Giêsu.

 3-Niềm vui phát xuất từ buồn sầu.

Mối phúc thật hứa ban niềm an ủi* cho kẻ khóc lóc; tuy nhiên Đức Giêsu đã loan báo người ta sẽ còn khóc nữa khi bị Hôn phu bị mang đi (Mt 9,15). Chính bài huấn từ sau Tiệc Ly Mạc khải ý nghĩa thâm sâu của buồn sầu. Chúa Giêsu đã là nguyên nhân những tiếng khóc của Rakhel trên những đứa trẻ vô tội (Mt 2,18); Người không sợ làm phiền cả cha mẹ, khi phải lo việc Cha Người (Lc 2,48). Bấy giờ, Người không chối rằng việc Người ra đi là nguồn sầu thảm, nếu không thế thì Người không còn là Đấng, mà không có Người sự sống chỉ là cái chết. Người cũng biết rằng thế gian* sẽ vui thích khi người mất đi (Ga 16,20). Khi lấy ại hình ảnh thường dùng để diễn tả việc phát sinh thế giới mới (Is 26,17; 66,7-14; Rm 8,22), Người gợi lên niềm vui của người đàn bà đã trải qua giờ buồn sầu khi sinh con (Ga 16,21). Như thế, “sự buồn sầu của các con sẽ thành niềm vui” (16,20), buồn sầu đã qua đi hay đúng hơn đã trở thành niềm vui, như những vết thương luôn in dấu vào Con Chiên nước trời như bị sát tế (Kh 5,6); từ nay, buồn sầu được hoàn tất trong niềm vui mà không ai có thể chiếm đoạt được (Ga 16,22), vì nó phát xuất từ Đấng đứng bên kia của sự Chế. Buồn sầu xuất phát từ cơn bối rối nguy hại (14,27), từ những nỗi khốn khó (16,33). Các môn đệ của Chúa Giêsu không còn buồn nữa vì họ sẽ không bao giờ sống trong cảnh cô đơn* côi cút, trong đó họ cảm thấy bị bỏ rơi (14,18), bị nộp cho thế gian bách hại (16,2t): Đấng Phục sinh ban cho họ chính niềm vui của Người (17,13; 20,20).

Từ nay, thử thách (Dt 12,5-11; 1Pr 1,6tt; 2,19), xa cách những bạn bè ly trần (1Th 4,13), hay xa cả những kẻ cứng tin (Rm 9,2), không gì có thể tấn công niềm vui của tín hữu hay tách lìa xa khỏi Tình yêu Thiên Chúa (Rm 8,39). Dù bề ngoài có vẻ buồn sầu, nhưng thực ra luôn vui tươi (2Cr 6,10), môn đệ của Đấng Cứu thế dù có đi qua những ngả đường buồn sầu, vẫn còn nếm được nguồn vui nước trời, đổ đầy những kẻ được chọn; Thiên Chúa sẽ ở mãi mãi với ho, đồng thời lau sạch giọt lệ nơi mắt họ (Kh 7,17; 21,4).

 MP&XLD

 →an ủi – đau khổ – lo lắng 2 – thất vọng – tro bụi 2 – vui.

 

Comments are closed.