ECCLESIAE SANCTAE – Quy tắc thi hành sắc lệnh Công Đồng Vaticano II

0


ECCLESIAE  SANCTAE

 Trích TỰ SẮC  “ECCLESIAE  SANCTAE ” của Đức Thánh Cha PAULO VI

Công bố và ấn định Quy tắc để thi hành mấy Sắc lệnh Công Đồng Vaticano II

(Trích “Nữ Tu đọc Văn Thư Tòa Thánh”, Tủ sách Ra Khơi, Sài Gòn 1969, Văn thư XXIII, trang 295 -310, Nữ Tu viện Đa Minh Bùi Chu – Tam Hiệp) 

…. Vậy sau khi đã cân nhắc cẩn thận, Ta lấy quyền Ta và quyền Tông Đồ, mà ấn định và công bố những quy tắc sau đây, để thi hành những Sắc lệnh của Công Đồng mở đầu bằng chữ:

“Christus Dominus =ChúaKytô” (nói về nhiệm vụ Giám Mục).

“Presbyterorum Ordinis = Chức Linh-mục” (nói về Chức vụ và đời sống của Linh mục).

“ Perfectae Caritatis = Đức MẾN trọn lành” (nói về việc canh tân thích nghi đời sống Tu trì).

Và “Ad gentes divinitus = Dân Thiên Chúa” (nói về hoạt động Truyền giáo).

Ta truyền phải giữ các Quy tắc đó để thử cho đến khi công bố Bộ Giáo luật mới, chỉ trừ khi Tòa Thánh sẽ đoán định khác.

Các quy tắc ấy bắt đầu có hiệu lực từ ngày 11 tháng 10 sắp tới, ngày lễ Đức MẸ CHÚA TRỜI, ngày cách đây 4 năm, Đức tiên Giáo Hoàng Gioan XXIII đáng kính nhớ đã long trọng khai mạc Thánh Công Đồng.

Bất cứ điều nàoTa đã tự ấn định trong văn thư này, Ta truyền phải được xác nhận và coi là chắc chắn, không có văn kiện nào phản trái lại được, dù là những văn kiện đáng được ghi nhớ cách riêng.

 Làm tại Roma, ở đền thờ Thánh Phêrô

Ngày 6 tháng 8, ngày lễ “ Chúa biến hình” năm 1966

Năm thứ 4 triều Giáo Hoàng Ta

Paulus VI

A. QUY TẮC ĐỂ THI HÀNH SẮC LỆNH “PERFECTAE  CARITATIS = ĐỨC MẾN TRỌN LÀNH”

(Về việc Canh Tân thích nghi đời sống Tu trì) của Công Đồng VATICANO II

MỞ ĐẦU

Để thành quả Công Đồng được hoàn bị, tiên vàn các Hội Dòng phải phát động tinh thần mới, rồi nỗ lực chu toàn cách khôn ngoan nhưng lanh lẹ việc canh tân thích nghi đời sống và luật pháp nhờ ở sự chăm chỉ học hỏi, nhất là HIẾN CHẾ “LUMEN GENTIUM” = Ánh Sáng muôn dân” (Chương V và VI) với Sắc Lệnh “Perfectae Caritatis = đức Mến trọn lành” rồi đưa giáo huấn và quy luật của Công Đồng ra thực hiện.

Để áp dụng và thúc bách thi hành sắc lệnh “Perfectae Caritatis, những quy tắc sau đây ấn định cách tiền hành và mấy luật phải giữ, buộc hết mọi tu sĩ, Latinh cũng như Đông phương, tuy có những điều thích nghi riêng.

PHẦN I: CÁCH PHÁT ĐỘNG VIỆC CANH TÂN THÍCH NGHI ĐỜI SỐNG TU TRÌ

I. NHỮNG NGƯỜI PHẢI PHÁT ĐỘNG VIỆC CANH TÂN THÍCH NGHI

1. Phần chính trong việc canh tân thích nghi đời sống Tu trì là của các Dòng, mà các Dòng thực hiện được là nhờ nhất ở các Đại Hội Đồng Dòng (bên Đông phương…). Nhiệm vụ của Đại Hội Đồng không phải là chỉ ra luật mà còn phải phát động sinh lực thiêng liêng và hoạt khí Tông đồ nữa.

2. Hết mọi Bề trên và Bề dưới cộng tác với nhau là điều cần thiết để canh tân đời sống tu trì ở ngay chính mình để chuẩn bị Tinh thần cho Đại Hội Đồng, để Đại Hội Đồng được làm việc cho chu đáo, để các luật lệ Đại Hội Đồng ra được trung thành tuân giữ.

3. Để phát động việc canh tân thích nghi trong mỗi Dòng, phải triệu tập nội trong 2 năm cùng lắm là 3 năm một Đại Hội Đồng riêng, thường hay bất thường. Đại Hội Đồng này có thề chia làm 2 kỳ cách nhau đừng quá một năm nếu chính Đại Hội Đồng bỏ phiếu kín quyết định như vậy.

4. Để chuẩn bị Đại Hội Đồng này, ban Tổng Quản Trị phải lo trước một cuộc trưng cầu ý kiến các tu sỹ cho đúng đáng, rộng rãi và thong dong rồi xếp sắp các ý kiến đó lại cho khéo để giúp đỡ và hường dẫn cho Đại Hội Đồng làm việc. Việc đó có thể làm bằng cách như: hỏi các Hội Đồng các nhà và các tỉnh Dòng hay lập các ủy ban hay nêu lên từng loạt câu hỏi v. v…

5. (Bên Đông Phương…)

6. Đại Hội Đồng này có quyền sửa đổi ít khoản Hiến Pháp để thử (Bên Đông phương…) miễn là phải giữ mục đích, bản chất và đặc tính của Dòng. Những khoản đổi để thử đó, nếu nghịch với Giáo luật thì phải ý tứ khôn ngoan lắm, nhưng nếu thích đáng cũng sẽ được Tòa Thánh sẵn sàng cho phép.

Các khoản để thử có thể kéo dài đến Đại Hội Đồng thường lệ sau và Đại Hội Đồng này cũng có quyền triển hạn thử nữa, nhưng không được quá Đại Hội Đồng sau liền đấy nữa.

7. Ban Tổng Quản trị cũng được quyền sửa đổi như trên trong thời gian từ Đại Hội Đồng nọ đến Đại Hội Đồng kia, tùy theo điều kiện Đại Hội Đồng ra. (Bên Đông phương…)

8. Quyền chuẩn phê xác định Hiến pháp dành riêng cho Cơ quan có thẩm quyền.

9. Về việc tu chỉnh Hiến pháp các Nữ Đan viện thì mỗi Nữ Đan viện làm theo kiểu Hội Đồng hay mỗi Đan sỹ bày tỏ nguyện vọng của mình. Những nguyện vọng ấy nhằm mục đích thống nhất gia đình Dòng tùy theo tính chất riêng của mỗi nhà sẽ do Bề trên tối cao của Dòng (nếu có, bằng không thì vị Đại diện Tòa Thánh) thu lượm lại. (Bên Đông phương…). Có thể lấy cả nguyện vọng hay ý kiến của các Hội đồng Liên Dòng, hay các Hội đồng nào khác nữa, miễn là được triệu tập hợp pháp. Các Đức Giám Mục hãy vui lòng ân cần giúp đỡ trong việc này.

10. Nếu trong các Nữ Đan viện có những điều luật cần phải thử giữ tạm thì Bề trên Cả hay vị Đại diện Tòa Thánh (Bên Đông phương…) có thể cho phép được. Nhưng phải để ý đến trạng thái tâm trí đặc biệt của các Nữ Đan viện vì họ rất cần những cái có tính cách vững vàng và chắc chắn.

11. Nhiệm vụ các Bề trên hữu quyền nói trên đây là phải lo để (sau khi đã bàn hỏi và đã được các nữ Đan viện giúp ý kiến) tu chỉnh bản văn Hiến pháp lại và đệ Tòa Thánh (Bên Đông phương…) châu phê.

II. TU CHỈNH HIẾN PHÁP

12. Luật chung (Hiến pháp, Quy tắc, Quy luật hay tên nào khác) của mỗi Dòng phải có những yếu tố sau đây:

a) Những nguyên tắc Phúc âm và Thần học về đời sống Tu trì và về sự hợp nhất đời sống Tu trì với Giáo hội. Lời lẽ phải xác đáng đanh thép để xác nhận và duy trì “Tinh thần và Ý định của Đấng sáng lập, với các tập tục tốt của Dòng, vì tất cả những cái ấy là gia nghiệp riêng của mỗi Dòng” (P.C.2b)

b) Những quy tắc theo pháp lý cần để xác định rõ tính chất, mục đích và các phương tiện của Dòng. Các quy tắc ấy không nên gia thêm nhiều quá, nhưng bao giờ cũng phải đầy đủ.

13. Hai yếu tố: Tinh thần và pháp lý cần phải đúc lại với nhau để những văn kiện chính của Hội Dòng có một nền tảng vững chắc, chứa đầy tinh thần đích thực và quy luật sống động. Bởi thế phải tránh đừng làm một bản văn chỉ có pháp lý không, hay chỉ có khuyến khích suông.

14. Phải loại khỏi bản văn căn bản của Dòng, những gì đã lỗi thời hay dễ bị thay đổi theo thời, hay chỉ thích hợp với phong tục riêng của từng nơi.

Nên, những Quy tắc thích hợp với thời nay, với điều kiện vật lý, tâm lý của Tu sĩ, hay với hoàn cảnh riêng của sự việc phải đưa ghi vào phụ bản gọi là sách “ Chỉ nam”  “Tục lệ” hay tên gì khác.

III. VỀ TIÊU CHUẨN CANH TÂN THÍCH NGHI.

15. Những Quy tắc và Tinh thần để theo đấy mà Canh tân thích nghi, chẳng những phải lấy ở Sắc lệnh Perfectae Caritatis (tức là Sắc lệnh để Canh tân thích nghi đời sống Tu trì) mà còn ở các văn kiện khác của Công Đồng Vaticano II nữa, nhất là chương V và chương VI của Hiến Chế “ LUMEN GENTIUM = Ánh Sáng muôn dân”.

16. Các dòng phải lo sao cho các nguyên tắc ấn định ở số 2 của Sắc lệnh “Perfectae Caritatis” nên khuôn thước thật cho việc Canh Tân Đời Sống Tu Trì của mình. Vì thế:

1) Phải hết sức cổ võ cho các Tu sĩ, học hỏi suy ngắm hơn nữa về Phúc âm và toàn thể Thánh Kinh ngay từ ở nhà Tập – Rồi cũng phải lo cho họ được tham gia va mầu nhiệm và đời sống của Giáo hội bằng những phương tiện thích hợp hơn nữa.
2) Phải nghiên cứu và giải thích Giáo lý bậc Dòng theo nhiều phương tiện khác nhau : (Thần học, Giáo sử, Giáo luật v.v.)
3) Để mưu ích cho Giáo hội, các Dòng phải theo dõi tìm hiểu cho thấu đáo về tinh thần ban đầu của Dòng mình, có thể mới giữ nguyên vẹn được Tinh thần ấy khi phải thích nghi để đời sống Tu Trì được thanh tẩy hết các yếu tố ngoại lai và thoát được những điều tồi tệ.

17. Phải cho là đồi tệ, những gì không làm nên bản tính và mục đích của Dòng mình, bởi nó đã mất ý nghĩa và hiệu lực nên thực sự cũng đã chẳng giúp ích cho Đời Sống Tu trì, nhưng phải để ý đến vấn đề bằng chứng mà bậc Dòng phải có nhiệm vụ phải nêu lên.

18. Cách cai trị phải thế nào để “Đại Hội Đồng và các Hội Đồng (tức Ban Quản trị) tùy theo quyền hạn, mà thực hiện việc cho hết mọi Tu sĩ tham gia thiết tha vào lợi ích chung của Hội Dòng” (P.C.14). Điều đó rất có thể, nếu các Tu sĩ tham gia cách thực hữu hiệu vào việc tuyển chọn các nhân viên Hội Đồng. Đồng thời phải làm sao cho việc hành chính  được kết quả hơn, thuận tiện hơn, theo dõi sự đòi hỏi ngày nay. Vì thế, nên cho các Bề trên các cấp dưới được quyền đúng đáng để khỏi phải đi về với cấp trên vô ích hay nhiều quá.

19. Lại nữa, công việc Canh Tân không có thể làm một lần mà được luôn, nên phải tìm lẽ hun đúc mãi, nhờ ở sự nhiệt thành của các Tu sĩ, với sự chăm lo của Đại Hội Đồng và các Bề trên.

PHẦN II: MẤY ĐIỂM PHẢI CANH TÂN THÍCH NGHI TRONG ĐỜI SỐNG TU TRÌ.

I. VỀ KINH NHẬT TỤNG CỦA CÁC THÀY VÀ CÁC DÌ (Số 3 “PERFECTAE  CARITATIS”).

20. Tuy các Tu sĩ nguyện Kinh nhật tụng nhỏ đã được châu phê chính thức cũng là thi hành Kinh nguyện chung của Giáo Hội rồi (Sacrosanstum consilium số 98), nhưng khuyên các Dòng nên thay kinh nhật tụng nhỏ, mà nguyện Kinh nhật tụng lớn, hoặc một phần, hoặc trọn cả kinh để được tham dự vào đời sống Phụng vụ của Giáo Hội cách thâm thiết hơn. (Bên Đông phương…)

II. VỀ NGUYỆN NGẮM  (Số 6 P.C.)

21. Để các Tu sĩ được tham dự Mầu nhiệm Thánh Thể và lời cầu nguyện chung của Giáo Hội cách thâm thiết hoàn toàn hơn và để cả đời sống thiêng liêng cuả các Tu sĩ được nuôi dưỡng đầy đủ dồi dào hơn, thay vì đọc nhiều Kinh, nên dành giờ nguyện ngắm nhiều hơn, tuy vẫn giữ các việc đạo đức đã được Giáo Hội công nhận.  Còn phải gắng công tập luyện cho các Tu sĩ biết chăm chú sống đời sống thiêng liêng nữa.

III. VỀ VIỆC HÃM MÌNH (Số 5 VÀ 12 PC)

22. Các Tu sĩ phải chăm lo việc hãm mình đền tội hơn giáo dân. Nên luật đền tội riêng vủa các Dòng, nếu cần cũng phải để ý đến cả tập tục Tây phương hay Đông phương và cả hoàn cảnh thời nay mà tu chỉnh lại thế nào để các Tu sĩ thi hành được thực sự luật đền tội với cả những hình thức mới mẻ của nếp sống ngày nay nữa.

IV. VỀ ĐỨC KHÓ NGHÈO (Số 13 PC)

23. Các Dòng, nhất là các Đại Hội Đồng phải hết sức cụ thể phát động tinh thần và việc thực thi Đức Khó Nghèo như số 13 PC đã dạy, phải tùy theo tính chất của Dòng mà nghiên cứu, sáng chế ra những hình thức mới hầu cho việc thực hành và làm chứng về Đức Khó Nghèo được kết quả hơn trong thời nay.

24. Các Dòng khấn đơn, trong Đại Hội Đồng phải quyết định xem có đưa vào Hiến pháp việc từ khước phần gia tài Cha Mẹ giối cho, hoặc đã được, hoặc sẽ được không? Nếu có, thì bắt buộc hay để tự do? Việc từ khước ấy phải làm khi nào? Trước khi Khấn trọn đời hay sau đó mấy năm?

V. VỀ ĐỜI SỐNG CHUNG (Số 15 PC)

25. Các Dòng chuyên làm việc Tông đồ phải tùy theo cách nào hợp với ơn kêu gọi của Dòng mà hết sức phát động đời sống chung vì nó rất quan trọng để giúp các tu sĩ xây dựng tình Huynh đệ như một gia đình hiệp nhất trong Chúa Kytô.

26. Trong các Dòng ấy, chương trình hằng ngày thường là không thể đồng nhất được cho hết mọi nhà, mà trong một nhà có khi cũng không đồng nhất được cho hết mọi người,nhưng bao giờ cũng phải ấn định thế nào để ngoài giờ thiêng liêng và làm việc rồi, các tu sĩ còn có chút thời giờ riêng cho mình và có thể giải trí vừa phải được.

27. Các Đại Hội Đồng phải khám phá ra cách nào cho các quy sĩ, trợ tu hay tên gì khác dần dần được quyền bỏ phiếu cho một số việc đã định, được quyền bầu cử, và trong một ít chức vụ, được cả quyền ứng cử nữa. Nếu thực sự được như thế thì họ mới liên kết khăng khít chặt chẽ với đời sống và công việc của Dòng và các Linh mục mới có thể rảnh rang mà lo về Thánh vụ của mình hơn được.

28. Trong các nữ đan viện nào đã đi được đến chỗ chỉ còn có 1 bậc chị em thì trong Hiến pháp phải ấn định rõ luật buộc nguyện trong ca hội, sau khi đã cân nhắc sự chênh lệch khác nhau ở giữa chị em vì việc làm khác nhau hay đặc biệt vì ơn kêu gọi khác nhau đòi buộc.

29. Các chị em thuộc về Nữ đan viện nhưng chuyên làm việc ngoài, gọi là “tự hiến” hay tên gì khác đó phải có quy luật riêng. Luật ấy vừa phải theo ơn gọi không phải là thuần túy chiêm niệm của họ, vừa phải theo ơn kêu gọi của Nữ đan sĩ mà họ đã liên kết sống chung với, mặc dầu họ không phải là Nữ đan sĩ thật.

Bề trên các Nữ đan viện có nhiệm vụ buộc ngặt phải lo lắng chăm nom coi sóc họ, huấn luyện họ theo tinh thần Dòng cho họ hợp với họ, thật lòng thương yêu họ và gây tình thân ái giữa họ với nhà Dòng.

VI. VỀ NỘI VI CÁC NỮ ĐAN SĨ (Số 16 PC)

30. Luật Nội vi Giáo Hoàng bậc ngặt (Major) của các Nữ đan viện phải coi là luật Tu đức, đặc biệt đi liền với ơn kêu gọi riêng của Nữ đan sĩ. Nó phải là dấu chỉ, là bảo đảm và là hình thức riêng để tỏ rõ rằng: Họ xa biệt thế gian. Các Nữ đan sĩ Đông phương cũng phải theo tinh thần ấy mà giữ luật nội vi riêng của mình.

31. Vì thế, luật nội vi ấy phải thích nghi thế nào để bên ngoài vẫn giữ được sự xa cách thật sự với thế gian. Mỗi gia đình Dòng phải tùy theo tinh thần riêng mà ấn định rõ ràng trong Hiến pháp những quy luật riêng về sự xa cách cụ thể ấy.

32. Bãi bỏ luật nội vi Giáo hoàng bậc rộng (Minor). Vì thế trong Hiến pháp phải chỉ rõ luật nội vi cho các Nữ đan sĩ theo Quy luật được chuyên lo việc ngoài. Còn các Nữ đan sĩ, tuy theo luật là chiêm niệm nhưng lại làm việc ngoài thì đặt mọi thời gian đủ cho họ suy nghĩ để chọn: hoặc bỏ việc ngoài mà ở trong nội vi Giáo hoàng bậc ngặt (Major), hoặc cứ làm việc ngoài mà giữ luật nội vi riêng đã ấn định trong Hiến pháp, tuy nhiên bậc họ vẫn là bậc Nữ đan sĩ.

VII. VỀ VIỆC HỌC CỦA CÁC TU SĨ (Số 18 PC).

33. Việc học ngay từ ở nhà Tập không phải Dòng nào cũng như nhau. Phải để ý đến tính chất riêng của mỗi Dòng. Trong việc tu chỉnh và thích nghi việc học, phải có sự thí nghiệm đầy đủ và khôn ngoan.

34. Những điều ấn định trong sắc lệnh “Optatam totius” (nói về việc của các Linh mục) cũng phải giữ cho trung thành để dạy các Giáo sĩ Dòng.Tuy nhiên, phải theo tính chất riêng của mỗi Dòng mà thích nghi cho đúng đáng.

35. Việc theo học thêm sau năm Tập, tùy theo cách thích hợp của mỗi Dòng, là việc rất cần thiết cho hết mọi Tu sĩ, dù là những tu sĩ sống đời chiêm niệm. Đối với các Tu sĩ Dòng giáo dân và các Nữ tu thuộc Dòng chuyên việc Tông đồ, việc học ấy nói chung phải kéo dài suốt hết kỳ Khấn tạm như ở nhiều Dòng đã có Học viện, Kinh viện hay tên gì đó.

36.  Việc học ấy phải thực hiện ở các nhà thích hợp và để khỏi chỉ là lý thuyết suông, nó cần phải được kiện toàn bằng việc thực tập các công việc hay các nhiệm vụ theo tính chất và hoàn cảnh riêng của mỗi Dòng để các tu sĩ được xen dần dần vào đời sống họ phải sống mai ngày.

37. Bao giờ cũng phải giữ nền giáo dục riêng của mình, nhưng vì mỗi Dòng không thể dạy Giáo lý hay chuyên môn riêng cho đầy đủ được nên có thể nhiều Dòng hãy tập hợp lại, lấy tình huynh đệ mà cộng tác giúp nhau. Việc cộng tác đó có thể thực hiện được bằng nhiều trình độ và hình thức khác nhau như: chung nhau về bài học hay trao đổi Giáo sư lẫn cho nhau, hoặc tập trung giáo sư và phương diện thiết yếu lại ở một trường để tu sĩ các Dòng đến đấy học chung. Những Dòng có dồi dào phương tiện hơn, hãy vui lòng giúp các Dòng khác.

38. Thí nghiệm xong hẳn hoi rồi, mỗi Dòng sẽ lập bản Quy luật riêng về việc học thích hợp cho các tu sĩ của Dòng mình.

VIII. VỀ VIỆC LIÊN HIỆP VÀ BÃI BỎ HỘI DÒNG (Số 21 – 22 PC)

39. Muốn cổ động việc liên hiệp các Dòng, bất cứ về loại nào, phải chuẩn bị chu đáo về tinh thần, tâm lý, pháp lý theo Sắc lệnh Per.Car… Để được mục đích đó, thường nên có một vị phụ tá được cơ quan có thẩm quyền nhận cho đứng ra để giúp các Dòng.

40. Trong các trường hợp trên đây, tuy phải nhắm vào lợi ích của Giáo hội thật nhưng cũng phải cẩn thận chú ý lắm đến tính chất riêng của mỗi Dòng và quyền thong dong của mỗi tu sĩ.

41. Trong các tiêu chuẩn phải đưa ra  để quyết định về việc bãi bỏ một Hội Dòng hay một đan viện nào, sau khi đã cân nhắc mọi hoàn cảnh, còn cần phải chú ý đến tất cả những điều sau đây một trật nữa: số tu sĩ ít oi sánh với số năm kể từ khi có dòng, đã nhiều năm không có người vào tu, phần đông các tu sĩ đã già cả. Nếu phải đi đến chỗ bãi bỏ, thì hãy liệu cho họ: “Nếu có thể, được sát nhập vào Dòng nào hay đan viện nào hưng thịnh hơn và mục đích và tinh thần không khác lắm” (số 21 PC). Nhưng cũng phải thăm dò ý kiến từng tu sĩ một trước đã và mọi việc phải làm theo Đức Thương yêu.

IX. VỀ HIỆP HỘI CÁC BỀ TRÊN THƯỢNG CẤP (Số 23 PC)

42. Phải lo sao cho Hiệp hội các Bề Trên Cả có thể được nghe và được hỏi tới, nhờ ở một hội đồng nào đó thiết lập ở gần Thánh Bộ Tu sĩ.

43. Điều lợi nhất là Hiệp hội các Bề Trên Thượng Cấp trong một Quốc gia hãy lấy lòng tin cậy kính cẩn mà hợp tác với Hội Đồng Giám Mục (số 35, 5 sắc Christus Dominus và số 33 sắc Ad Gentes divinitus). Vì thế mong rằng: các vấn đề liên hệ đến cả đôi bên cũng được đưa ra bàn ở trong những ủy ban hỗn hợp có cả các Giám Mục và các Bề Trên thượng cấp của Dòng nữa.

KẾT LUẬN

44. Các Quy tắc trên đây buộc mọi Tu sĩ trong toàn thể Giáo Hội. Không kể những nố có sửa đổi cách rõ ràng hay cách ngậm vẫn giữ nguyên Luật chung của Giáo Hội La tinh cũng như Đông phương và cả luật riêng của Dòng nữa.

PAULO  VI

B. QUI TẮC ĐỂ THI HÀNH SẮC LỆNH “CHRISTUS DOMINUS = CHÚA KYTÔ”

(Nói về Chức Vụ Giám Mục của Công Đồng Vaticano II – Trích dịch đoạn nói riêng về Tu Sĩ từ số 22 đến hết số 40)

22. Các quy tắc ân định ở đây,áp dụng cho hết mọi Tu sĩ nam nữ thuộc bất cứ Nghi lễ nào, trừ quyền các Đức Giáo Chủ đối với các Tu sĩ Đông phương.

23. 1) Tất cả các Tu sĩ, dù thuộc Dòng miễn trừ, đang hoạt động ở những nơi chỉ có một Nghi lễ khác với Nghi lễ của mình hay ở nơi có rất đông Giáo hữu thuộc Nghi lễ khác, đến nỗi theo ý kiến chung, Nghi lễ đó được coi như là Nghi lễ độc nhất thì khi thi hành Chức vụ phải phục tùng lệnh Đấng Bản Quyền hay Đức Giáo Chủ của Nghi lễ ấy về tất cả những gì liên hệ đến hoạt động bên ngoài.

2) Ở chỗ có nhiều Đấng Bản Quyền hay nhiều Đức Giáo Chủ, thì khi thi hành Chức vụ giữa Giáo dân thuộc nhiều Nghi lễ khác nhau, các Tu sĩ sẽ giữ những quy tắc mà các Đấng Bản Quyền và các Đức Giáo Chủ ở đấy đã thỏa thuận ấn định cho.

24. Tuy ở các xứ Truyền giáo, các Tu sĩ vẫn còn được miễn trừ trong phạm vi hợp pháp của mình, nhưng vì hoàn cảnh đặc biệt phải thi hành Chức vụ, các Tu sĩ phải theo tinh thần Sắc lệnh “AD GENTES DIVINITUS về Hoạt động Truyền Giáo” mà giữ những quy luật riêng do Tòa Thánh đã ban bố hay phê chuẩn để quy định mối tương quan giữa Đấng Bản Quyền và các Bề Trên Dòng, nhất là ở trong một xứ Truyền giáo đã được trao cho một hội Dòng nào.

25. 1) Tất cả các Tu sĩ, dù thuộc Dòng miễn trừ, đều phải giữ các luật lệ, các quyết định và mệnh lệnh của Đấng Bản Quyền ra cho các hoạt động có liên can đến việc Truyền Giáo, Mục vụ và Xã hội.

       2) Cũng phải giữ các luật lệ, quyết định và mệnh lệnh của Đấng Bản Quyền hay của Hội đồng Giám Mục ra về các việc sau đây:

a) Xử dụng công khai các phương tiện truyền thông xã hội theo quy tắc đã ra ở số 20 và 21 trong Sắc Lệnh “Inter mirifica”
b) Đi dự các cuộc vui công cộng.
c) Biên tên hay cộng tác với những hội hoặc những hiệp hội mà Đấng Bản Quyền hay Hội Đồng Giám Mục đã tuyên bố phải tránh.
d) Về áo dòng, vốn giữ y nguyên Giáo luật c.596 và luật Giáo hội Đông phương khoản 139 theo quy tắc sau đây: Để Giáo dân khỏi bỡ ngỡ, Đấng Bản Quyền hay Hội Đồng Giám Mục có thể cấm các Giáo sĩ Triều cũng như Dòng, cả Dòng miễn trừ, không được mặc y phục đời ở trước công chúng.

26. Hơn nữa, còn buộc các Tu-sĩ Dòng phải giữ các luật lệ và quyết định của Đấng Bản Quyền đã chiếu luật ấn định về việc cử hành Phụng vụ công khai trong các nhà thờ. Dòng và nhà nguyện công hay bán công nếu có giáo hữu thường xuyên lui tới. Tuy nhiên Dòng vẫn được theo Nghi lễ đã được phép dùng riêng trong Dòng hoặc giữ cách đọc kinh Nhật Tụng chung trong cả hội Dòng và thi hành các việc Phụng vụ theo mục đích riêng của Dòng.

27. 1) Hội Đồng Giám Mục mỗi Quốc gia có thể thảo luận với các Bề trên Dòng liên hệ, để quy định luật lệ cho việc đi xin làm phúc và buộc các Dòng phải giữ, kể cả những Dòng theo Hiến Pháp vốn mang tên và thực sự là Dòng hành khất tuy họ vốn có quyền đi hành khất.

       2) Dòng không được đưa sổ đi ghi tên quyên tiền công khai khi không có sự ưng thuận của các Đấng bản Quyền ở những nơi đến quyên.

28. Các tu sĩ phải nhiệt thành với những công việc riêng của Dòng, nghĩa là những việc đã được Tòa Thánh chấp nhận hoặc từ khi thành lập Dòng hoặc vì truyền thống cổ kính đã được ấn định trong Hiến pháp hay luật Dòng. Nhưng vẫn phải chú trọng đến những nhu cầu thiêng liêng của địa phận, và giữ sự hòa hợp thân thiện với hàng Giáo sĩ địa phận và với các Hội Dòng khác cùng làm các việc tương tự như mình.

29. 1) Các việc riêng làm trong chính nhà Dòng dù là nhà thuê, sẽ tùy ở Bề trên điều khiển theo  Hiến pháp Dòng. Nhưng các việc đó cũng phải theo luật ở dưới thẩm quyền của Đấng Bản Quyền.

       2) Còn các việc do Đấng Bản Quyền ủy cho Dòng, dù được coi như việc riêng của Dòng cũng phải ở dưới thẩm quyền điều khiển của Đấng Bản Quyền. Tuy nhiên, các Bề Trên Dòng vẫn có quyền săn sóc đến đời sống các tu sĩ và cùng với Đấng Bản Quyền chăm lo cho họ được chu toàn nhiệm vụ đã trao.

30. 1) Khi Đấng Bản Quyền giao việc Tông đồ cho một Hội Dòng nào, chẳng những phải giữ theo Luật đòi mà còn phải làm một giấy giao kèo giữa Đấng Bản Quyền và Bề trên có thẩm quyền của Hội Dòng nữa. Trong tờ giao kèo đó phải ấn định rõ ràng những điều liên hệ đến việc làm, người làm và kinh tế.

        2) Rồi để làm việc đó, Bề trên Dòng, sau khi đã thảo luận với Đấng Bản Quyền phải chọn những Tu sĩ thật có khả năng và nếu là một Chức vụ trong Giáo hội thì Tu sĩ đó phải được Đấng Bản Quyền cắt đặt do sự đề cử hay ít là do sự ưng thuận của Bề trên Dòng, với thời gian do cả 2 bên cùng thỏa thuận ấn định.

31. Dù Đấng Bản Quyền, dù Hội Đồng Giám Mục ủy nhiêm Chức vụ gì cho một Tu sĩ Dòng cũng phải có sự ưng thuận của Bề trên Dòng và phải có giấy giao kèo.

32 – Khi có lý do hệ trọng, bất cứ tu sĩ nào cũng có thể bị cất chức, hoặc do Đấng Bản Quyền đã giao việc cho, sau khi đã báo cho Bề trên Dòng biết, hoặc do Bề trên Dòng, sau khi đã báo cho Đấng Bản Quyền hay . Về vấn đề này, hai bên cùng bình đẳng trước Pháp luật nên bên nọ không cần phải chờ sự ưng thuận của bên kia,  cũng không buộc phải cho bên kia biết lý do và càng không cần phải nêu ra chứng cớ gì. Tuy nhiên, bên nào cũng có quyền khiếu nại đến Tòa Thánh nhưng không phải chờ trả lời mới thi hành.

33. 1) Với sự ưng thuận của Bề trên có thẩm quyền của Dòng, Đấng Bản Quyền có thể dùng quyền giao một xứ cho Dòng coi. Có thể lấy ngay nhà thờ Dòng làm nhà thờ xứ. Xứ đó sẽ được giao vĩnh viễn hay chỉ tạm trong một thời gian tùy đã được ấn định rõ ràng trước. Trong cả hai trường hợp, phải làm giấy giao kèo giữa Đấng Bản Quyền và Bề Trên có thẩm quyền của Dòng. Trong giấy giao kèo phải ấn định rõ ràng, cẩn thận những điều liên hệ đến việc phải làm, người làm kinh tế.

        2) Đấng Bản Quyền với sự ưng thuận của Bề trên Dòng có thể cắt đặt một Tu sĩ làm Cha xứ mà không giao xứ đó cho Dòng, với giấy giao kèo rõ ràng đích đáng làm với Bề Trên có thẩm quyền của Dòng.

34. 1) Nhà hợp lệ hay không hợp lệ thuộc Dòng miễn trừ không thể bị bãi bỏ, nếu không có sự chấp của Tòa Thánh và ý Đấng Bản Quyền.

        2) Các Bề Trên Dòng, bất cứ vì lý do gì, muốn bãi bỏ một nhà nào hay một công cuộc nào của Dòng, chớ có vội vàng! Các Ngài phải nhớ rằng: hết mọi Tu sĩ chẳng những có nhiệm vụ phải nhiệt thành hăng hái xây dựng và phát triển toàn thể Mình Mầu Nhiệm Chúa Kytô nói chung mà còn từng địa phận nói chung, mà còn từng địa phận nói riêng nữa.

        3) Nhưng khi Bề trên Dòng đến xin bãi bỏ một nhà nào hay một công cuộc nào của Dòng, nhất là vì lý do thiếu người thì Đấng Bản Quyền hãy nhân nhượng xét đơn cho họ.

35. Những Hội đoàn Giáo dân được đặt dưới sự hướng dẫn điều khiển của một Hội Dòng, dù Hội đoàn đó do Tòa Thánh lập cũng phải ở dưới thẩm quyền kiểm soát của Đấng Bản Quyền vì theo Giáo luật, Ngài có quyền và có nhiệm vụ phải xem xét các Hội đoàn đó.

Nếu các Hội đoàn đó lo việc hoạt động bên ngoài hay lo cổ động việc phụng sự Chúa thì phải giữ các chỉ thị của Đấng Bản Quyền hay Hội Đồng Giám Mục đã ra về việc đó.

36. 1) Hoạt động Tông đồ của các Tu sĩ Dòng không thuần túy chiêm niệm sẽ không bị hạn chế trong khuôn khổ các việc riêng của Dòng, hay các việc Dòng đã nhận nhân một dịp đó, nên vì nhu cầu thiêng liêng hay vì khan thiếu Linh Mục, các Đấng Bản Quyền vẫn có thể kêu gọi các Linh Mục và các Tu sĩ Dòng Nam, nữ đến giúp việc trong các địa phận hay trong các miền sở. Dĩ nhiên, các Đấng Bản Quyền phải để ý đến tính chất riêng của mỗi Dòng và được Bề trên có thẩm quyền của mỗi Dòng ưng thuận đã.

      2) Nếu Đấng Bản Quyền xét thấy sự giúp đỡ của các Dòng là cần thiết, là ích lợi thật để thi hành việc Tông đồ và để mở mang việc Từ thiện bác ái, hay Mục vụ trong các xứ Triều hay các Hội đoàn địa phận thì các Bề trên Dòng phải hết sức giúp đỡ theo ý các Ngài xin.

37. Trong các Nhà Thờ và các nhà nguyện công hay bán công của Dòng, nếu thực sự thường xuyên có mở cửa cho Giáo dân lui tới thì Đấng Bản Quyền có thể buộc phải công bố các Văn thư của các Đấng Giám Mục, phải dạy Giáo lý và phải xin tiền giúp riêng cho các việc trong xứ, trong địa phận, trong Quốc gia hay Quốc tế. Tiền quyên được phải lo gửi về Tòa Giám Mục.

38. Đấng Bản Quyền sẽ theo Giáo luật và chỉ thị Tòa Giám Mục nói về việc Phụng sự mà kiểm soát các nhà thờ và nhà nguyện, cả nhà nguyện bán công của Dòng, dù là Dòng miễn trừ, nếu thường xuyên có giáo hữu đến đó. Nếu có sự tệ lạm nào và đã khuyến cáo Bề trên Dòng mà thấy không kết quả thì Đấng Bản Quyền phải tự dùng quyền mà đề phòng.

39. 1) Theo quy tắc số 354 của Sắc Lệnh “Christus Dominus”, Dòng vẫn có quyền điều khiển các trường học.Cũng theo quy tắc nói ở đấy vì giấy giao kèo phải có ngay từ đầu giữa Đức Giám Mục và Bề trên Dòng, trường Công giáo của Dòng cũng nằm trong sự phân phối chung của các trường công giáo trong một Địa phận nên cũng phải chung tay cộng tác và cũng phải lo sao để các trường ấy cũng có thể thích ứng mà theo đuổi được mục đích văn hóa xã hội, không kém các trường khác.

       2) Đấng Bản Quyền, theo Giáo luật, có quyền hoặc đích thân, hoặc cử đại diện đi thị sát các trường, các học viện, giảng đường, ký viên, hội quân, nhà thương, cô nhi viện và các cơ sở tương tự của Dòng chuyên lo việc Tôn giáo hay Từ thiện, về đàng thiêng liêng hay vật chất. Trừ các trường mở riêng cho học sinh (Đệ-tử v.v…) của Dòng.

40. Các quy tắc nói về việc nhận các Tu sĩ Dòng vào làm việc và giữ Chức vụ trong địa phận dưới quyền điều khiển của các Đức Giám Mục cũng phải đưa áp dụng vào việc và các chức vụ vượt phạm vi địa phận với các nguyên tắc riêng thích nghi cho những nố tương tự.

Theo bản Anh Văn của National Catholic Welfare Conference   p.20 (Từ trang 295 – 310)

 

Comments are closed.