Kêu gọi mọi người trong Giáo Hội nên thánh

0

KÊU GỌI MỌI NGƯỜI TRONG GIÁO HỘI NÊN THÁNH

Trích “HIẾN CHẾ LUMEN GENTIUM – ÁNH SÁNG MUÔN DÂN” của Công Đồng Vaticanô II

(Trích Nữ Tu đọc Văn Thư Tòa Thánh, Tủ sách Ra Khơi, Sài Gòn 1969, Văn thư XX, trang 261-272. Nữ Tu viện Đa Minh Bùi Chu – Tam Hiệp) 

CHƯƠNG VKÊU GỌI MỌI NGƯỜI TRONG GIÁO HỘI NÊN THÁNH

XXXIX.  NHẬP ĐỀ:

1. Giáo Hội mà Thánh Công Đồng trình bày như một Mầu nhiệm, xét theo Đức Tin là toàn thiện. Quả thực, Chúa KyTô Con Thiên Chúa được hoan hô “Đấng Thánh Duy Nhất” với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Thần (Kinh Vinh Danh), Người yêu mến Giáo Hội như Bạn Trăm Năm của Người. Người đã hiến thân cho Giáo Hội để Thánh hóa Giáo Hội (Ephes, 5, 25 – 26). Người kết hợp với Giáo Hội và coi Giáo Hội là Mình mầu nhiệm của Người. Người ban cho Giáo-Hội đầy tràn ơn Chúa Thánh Thần để Tôn vinh Đức Chúa Cha. Vì thế mọi người trong Giáo Hội, dầu người ở trong hàng Giáo phẩm, hay người được hàng Giáo phẩm coi sóc, tất cả đều được kêu gọi để nên Thánh, như Thánh Tông đồ đã nói: “ Thực, điều Chúa muốn là anh em phải nên thánh”(1 Thess, 4, 3 – Ephes 1,4). Sự thánh thiện của Giáo Hội vẫn biểu dương liên lỉ và thực sự đã biểu dương bằng những hoa trái của ơn Thánh mà Chúa Thánh Thần phát sinh trong lòng các Tín hữu. Sự Thánh thiện ấy, dưới mọi hình thức, thấy rõ trong những ai gắng theo Đức mến Trọn Lành ở cách sống riêng của họ để xây dựng cho người khác nữa. Sự thánh thiện ấy hiển hiện một cách đặc biệt trong việc thực thi những lời khuyên quen gọi là lời khuyên Phúc âm. Sự thực thi những lời khuyên ấy dưới sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần, được rất đông giáo hữu đón nhận, hoặc với tư cách riêng, hoặc với điều kiện hay với bậc sống được Giáo Hội chấp nhận, đã mang và sẽ mang lại cho thế giới một chứng cớ và một gương mẫu sáng ngời về sự Thánh thiện.

XL. KÊU GỌI MỌI NGƯỜI NÊN THÁNH

2. Vừa là Thầy Chí Thánh, vừa là Mô phạm sự Trọn lành, Chúa Giêsu đã dạy cho tất cả và cho từng môn đệ Ngài, chẳng kỳ bậc nào, phải sống một đời sống thánh thiện mà chính Chúa vừa khởi công vừa hoàn tất cho: “Chúng con hãy nên trọn lành như Cha các con ở trên trời là Đấng trọn lành” (Matth 5, 48). Quả thực Chúa đã sai Thánh Thần Chúa đến với hết mọi người để chuẩn bị từ trong tâm hồn, cho họ mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức họ (Marcô 12, 30) và cho họ yêu thương nhau như chính Chúa Kytô đã yêu thương họ (Joan 13, 34 – 15, 12). Các môn đệ Chúa Kytô được Chúa gọi không phải vì công nghiệp họ, nhưng vì thánh ý Chúa nhân từ. Họ được thánh hóa do chính Chúa Giêsu và nhờ tin mà được rửa, nên đã được trở nên con cái Thiên Chúa, thông dự với bản tính Thiên Chúa, và do đó, được nên thánh thật. Rồi một khi đã được ơn Thánh hóa, họ phải nhờ ơn Chúa giúp mà duy trì và kiện toàn bằng chính đời sống. Thánh Tông đồ đã bảo họ phải sống “cho xứng là người Thánh” (Ephes 5,3). “Họ phải có tâm tình từ bi, nhân hậu, nhu mì, dịu dàng và độ lượng, như người Thánh mà Chúa đã yêu thương tuyển lựa” (Col. 3, 12). “Họ phải làm cho ơn Chúa Thánh Thần sinh ra hoa trái trong mình để thánh hóa” (Gal 5,22 – Roma 6,22). Nhưng vì chúng ta hay sai lỗi (Jac 3,2) nên chúng ta phải luôn luôn chạy đến lòng thương xót Chúa, và hằng ngày khi cầu nguyện, chúng ta phải xin: “Xin tha nợ chúng tôi” (Matth 6,12).

3. Như thế rõ rằng: lời kêu gọi sống đầy đủ bổn phận người Kytô hữu theo Đức Mến trọn lành, là lời nói với tất cả những ai tin Chúa Kytô, bất cứ ở bậc nào và sống cách nào. Ngay trong chính xã hội trần gian này, sự thánh thiện cũng giúp tăng thêm tình nhân đạo trong cảnh sống. Các giáo hữu phải hết sức chăm lo tùy theo ơn Chúa Kytô ban, để được sự trọn lành mà bước theo chân Chúa, để nên giống Chúa, để làm trọn thánh ý Đức Chúa Cha: Họ phải tận tình thiết tha lo vinh danh Thiên Chúa và phục vụ người đồng loại. Có thế, sự thánh thiên của dân Thiên Chúa mới sinh được tràn đầy hoa trái, như lịch sử vẻ vang của Giáo Hội đã chứng tỏ bằng đời sống của biết bao Đấng Thánh.

XLI. CÓ NHIỀU CÁCH ĐỂ THỰC THI SỰ THÁNH THIỆN

4. Có những cảnh sống khác nhau và trách nhiệm cũng khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một sự thánh thiện do Chúa Thánh Thần hướng dẫn mọi người để vâng lời Đức Chúa Cha và để thờ lạy Người cách chân thành. Họ bước theo Chúa Kytô nghèo khó, khiêm nhường vác khổ giá, để đáng được thông dự và vinh quang của Người. Vậy, ai nấy phải cương quyết tiến đến sự thánh thiện tùy theo trách nhiệm, ơn Chúa và khả năng, nhờ Đức Tin sống động dẫn đường. Đức Tin ấy sinh ra Đức Cậy và làm nên Đức Mến.

5. GIÁM MỤC: Những ai nhận trách nhiệm chủ chăn đối với đoàn chiên Chúa Ky tô, là những người trước nhất phải theo gương Đấng là Linh mục Thượng phẩm đời đời, là Đấng chăn chiên lành và là Giám mục các linh hồn, mà hoàn thành xứ mệnh mình trong sự thánh thiện, nhiệt thành khiêm nhường và can đảm. Nếu được đủ các điều kiện đó, họ sẽ tự gây cho mình một phương thế thần hiệu để nên thánh.

6. Các vị ấy đã được chọn để chịu cách sung mãn chức Linh mục sinh ơn Bí-tích để thực thi cách hoàn thiện, trách nhiệm Đức ái của Chủ chăn, bằng lời cầu nguyện, hy sinh, giảng giải, bằng việc săn sóc và giám vụ dưới mọi hình thức, can đảm nhận hiến mạng vì con chiên, trở nên mô phạm cho đoàn chiên (1 Pet 5, 3) và giúp Giáo hội mỗi ngày một tiến tới thánh thiện hơn.

7. LINH MỤC: Giống như hàng Giám mục, Linh mục là triều thiên thiêng liêng của Giám mục, và bởi Giám mục, Linh mục được tham dự phép Truyền chức nhờ Chúa Ky tô Đấng trung gian duy nhất đời đời nên các Linh mục phải phát triển tình mến Chúa yêu người bằng chính nhiệm vụ hàng ngày, phải xiết chặt nút giây tình bạn đồng nghiệp Linh mục, phải trở nên sung túc về của cải thiêng liêng và phải là chứng nhân sống động của Thiên Chúa trước mặt mọi người, ganh đua với các Linh mục xưa, từ bao đời vẫn còn để lại gương chói lói thánh thiện bằng các việc, thường là âm thầm kín đáo, mà Giáo hội Chúa hằng ca ngợi. Chính vì phận sự, các Linh mục hiến dâng cho đoàn chiên mình và cho toàn thể dân Thiên Chúa, lời cầu nguyện và hy sinh. Vì ý thức được việc làm và sống theo các Bí tích các Ngài làm, nên chẳng những không bị việc hoạt động Tông đồ hay những gian lao thử thách cản trở, mà trái lại, các Ngài còn đạt được sự thánh thiện cao siêu hơn vì tìm được trong sự suy niệm triền miên, sức bổ dưỡng nâng đỡ hoạt động các Ngài, để mang lại phấn khởi cho toàn thê Giáo hội Chúa. Ước gì hết mọi Linh mục địa phận nhớ được rằng: sự họ liên kết chặt chẽ và tận tình cộng tác với Giám mục sẽ giúp họ nên thánh.

8. CÁC THÀY CHỨC: Các Thày chức ở dưới cũng tham dự vào Sứ mệnh và Hồng ân của Đấng là Linh mục Thượng phẩm cách riêng. Trước nhất là các Thày Sáu (Phó tế), khi phục vụ mầu nhiệm Chúa Ky tô và Giáo Hội, phải giữ mình cho sạch các tính hư nết xấu, phải tìm làm đẹp lòng Thiên Chúa, và hết sức trở nên dụng cụ tác thiện trước mặt mọi người (1Tim 3, 8-10.12-13). Các Thầy Tư Giáo, vì được Chúa kêu gọi và được trạch cử để dự phần với Chúa, đang sửa soạn gánh trách nhiệm chức vụ dưới sự khôn ngoan của các vị Chủ chăn, phải để hết tâm trí vào ơn Thiên triệu cao quý, mà chuyên chăm cầu nguyện, nhiệt thành thi hành Đức ái, chủ tâm vào điều Chân, Thiện, Mỹ, làm mọi sự vì vinh danh Chúa.

9. GIÁO DÂN: Cũng phải kể đến các Giáo dân được Chúa chọn và được Đức Giám Mục gọi để tự hiến hoàn toàn cho việc Tông đồ, họ làm việc trong cánh đồng của Chúa và thu được kết quả nhiều.

10. BẬC ĐÔI BẠN: Còn những người ở bậc đội bạn và các cha mẹ Công giáo, phải nhờ ơn Chúa giúp, theo đường lối riêng mà giúp đỡ lẫn nhau, trung tín thương yêu nhau; suốt đời phải thiết tha ghi khắc các chân lý đạo Công giáo và các nhân đức Phúc âm vào lòng các con cái Chúa đã ban cho. Nhờ đó, họ cho chúng một gương sáng về tình yêu bền bỉ và quảng đại. Họ góp phần thiết lập tình huynh đệ, họ làm chứng và cộng tác vào sự phong phú cuả Giáo hội là Mẹ chúng ta ; họ vừa làm biểu chứng vừa tham dự vào tình yêu Chúa Kytô yêu bạn mầu nhiệm Người, mà vì thế, Người đã hiến mình cho Giáo-hội.

11. BẬC THỦ TIẾT: Một gương sáng giống như thế,tuy ở dưới hình thức khác, đó là những người quả phụ và những người độc than, họ có thể góp vào việc thánh hóa và sinh hoạt của Giáo hội một cách rất giá trị.

12. NGƯỜI LAO ĐỘNG: Đối với những người phải lao lực, tuy việc làm nặng nhọc của họ phải làm giầu cho họ, nhưng họ vẫn có thể giúp đỡ người đồng hương và góp phần để nâng cao mức sống của toàn thể xã hội và cả thế giới. Sau cùng, họ phải lấy Đức ái tích cực mà bắt chước Chúa Kytô – Đấng đã muốn làm việc bằng chân tay, và cùng với Chúa Cha, luôn luôn làm việc để cứu rỗi mọi người. Vì thế, họ phải vui vẻ hy vọng mà chung vui san sẻ gánh nặng cho nhau để chính nhờ ở công việc hằng ngày mà luôn luôn tiến tới đỉnh Thánh thiện, sự Thánh thiện ấy cũng là việc Tông đồ nữa.

13. NGƯỜI ĐAU KHỔ: Cả đến những người bị nghèo nàn, tàng tật bệnh nạn, hay bị các đau khổ thử thách khác, cũng phải biết kết hợp cách đặc biệt với Chúa Kytô, Đấng chịu đau khổ để cứu thế gian, hay những người đau khổ bởi bị bách hại vì sự Công chính mà trong Phúc âm Chúa đã tuyên bố: họ là những người được “chúc phúc”; hay như Thánh Phêrô đã nói: “Thiên Chúa, Đấng ban mọi Hồng ân, gọi chúng ta trong Chuá Kytô để được hưởng vinh hiển đời đời sau một cuộc thử thách chóng vánh, chính Ngài sẽ cho họ được phục hồi, được vững vàng, không nao núng” (1 Petr 5,10).

14. Vậy, tất cả những ai tin Chúa Ki tô, đều sẽ được thánh hóa luôn luôn trong địa vị, trách nhiệm và hoàn cảnh sống riêng của mình, và nhờ đấy, với Đức Tin, họ đón nhận tất cả bởi tay Cha Cả trên trời, và góp phần làm trọn thánh ý Chúa Cha, để làm chứng mối tình Chúa yêu nhân loại. Trước mặt mọi người, trong việc phục vụ thường ngày của họ.

XLII. ĐƯỜNG LỐI VÀ PHƯƠNG THẾ NÊN THÁNH

15. “Thiên Chúa là Tình yêu, và ai ở trong Tình yêu là ở trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong họ” (1 Joan 4,16). Nhờ Chúa Thánh Thần đã ban cho ta, Thiên Chúa tỏa Tình yêu ấy trong lòng ta (Roma 5,5). Tình yêu làm ta yêu mến Chúa trên hết mọi sự và yêu tha nhân vì Chúa, đó là ơn trước nhất, cần thiết nhất. Nhưng để tình yêu đó như một hạt giống tốt được nảy nở trong tâm hồn và sinh hoa trái, thì mỗi Tín hữu phải vui vẻ mở lòng đón nhận lời Chúa và nhờ ơn Chúa giúp thực hiện thánh ý Người, năng chịu các BíNtích, nhất là Bí tích Thánh Thể, vÀ tham dự các việc Phụng vụ, chăm chỉ kiên tâm cầu nguyện,  từ bỏ chính mình, tích cực phục vụ anh em và thực hành mọi Nhân đức. Đức ái quả là nút dây hoàn thiện và là tất cả lề luật (Col 3,4 ; Roma 13,10) định hướng cho tất cả các phương tiện nên thánh cho linh hồn Tín hữu và đưa họ tới cùng đích. Chính đức mến Chúa yêu người mới tỏ rõ ai là môn đệ thật củaChúaKytô.

16. Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa đã chứng tỏ tình yêu Người khi chịu chết vì chúng ta. Nên không ai yêu mến hơn được người chịu chết vì Chúa và vì anh em mình (1 Joan 3, 16 – 15, 13).

17. Trong số những tín hữu đầu tiên, có những người đã được gọi để làm chứng tuyệt đối về Tình yêu trước mặt mọi người, nhất là trước mặt các người bách hại họ, rồi liên tục tiếp đến các người khác cùng được gọi như thế nữa. Vì thế mà phúc Tử đạo làm cho môn đệ nên giống Thầy là tự tình nhận lấy cái chết để cứu thế gian, họ nên giống Chúa ở chỗ đổ máu, nên Giáo-hội nhìn nhận cái chết của họ như một đặc ân siêu việt, và là một bằng chứng tuyệt đối của Tình yêu. Tuy chỉ một số ít người được ơn ấy, nhưng tất cả ai nấy đều phải sẵn sàng tôn xưng Chúa Kytô trước mặt nhân loại và theo Chúa trên đường khổ giá, qua các cuộc bách hại hằng diễn ra luôn trong Giáo hội.

18. BẬC DÒNG: Sự thánh thiện của Giáo hội được duy trì cách đặc biệt dưới nhiều hình thức nhờ những lời khuyên Chúa dạy các môn đệ trong Phúc âm.

a) ĐỨC SẠCH SẼ: Trong lời khuyên ấy, trước hết phải kể ơn quí giá Chúa Cha ban cho một ít người (Matt 19, 11; 1 Cor 7,7) đề họ tân hiến cho duy một mình Thiên Chúa cách dễ dàng và toàn vẹn hơn, vì sống trong bậc Trinh khiết hoặc độc thân (1 Cor 7, 32 – 34). Sự tiết dục hoàn toàn này vì nước Thiên Chúa, luôn luôn được Giáo hội tôn vinh cách riêng, coi đó là biểu tượng kích động tình yêu mến và là nguồn phong phú thiêng liêng đặc biệt ở thế trần.

19.  b) ĐỨC VÂNG LỜI VÀ ĐỨC KHÓ KHĂN:  Giáo hội nhớ lại lời nhắn nhủ của Thánh Tông đồ xưa đã thúc tín hữu về Đức ái và giục họ cảm thấy điều ở nơi Chúa Kytô “Đấng tự hủy mình, mặc lấy thân phận nô lệ… mà vâng lời cho đến chết” (Phil 2, 7-8) và vì chúng ta “đã trở nên nghèo hèn, mặc dù Người là Đấng giầu có” (2 Cor 8, 9).

Sự bắt chước và là chứng về tình yêu và đức khiêm nhượng của Đức Kytô thật sự vốn được các môn đệ thực thi. Vì thế, Giáo hội là Mẹ chúng ta rất vui mừng khi thấy mình còn nhiều con cái nam nữ, vì muốn theo sát Chúa hơn và biểu chứng sự hư vô của Chúa Cứu Thế cách rõ ràng hơn nên đã tự tình như những người con thảo của Chúa, nhận lấy khó nghèo và từ bỏ ý riêng mình, nghĩa là những người nam nữ ấy vì Chúa mà suy phục cách trọn lành một thụ tạo để được nên giống Chúa Kytô là Đấng Vâng lời cách hoàn toàn hơn,

20 . Vậy, tất cả những tín hữu Chúa Kytô chẳng những được mời gọi mà còn bị thúc bách tiến tới sự Thánh thiện và Trọn lành tùy bậc mỗi người. Nên mọi người đều phải lo dè giữ tâm tình mình sao cho sự xử dụng của đời này và sự quyến luyến của cải trái với tinh thần nghèo khó Phúc âm, không làm cho họ lạc đường Trọn lành của Tình yêu; đó chính là điều Thánh Tông đồ đã cảnh cáo khi nói: “Những người dùng của đời này, xin đừng đam mê nó vì cảnh đời chỉ như bóng chóng qua” (1 Cor 7, 31).

CHƯƠNG  VI: VỀ CÁC TU SĨ

XLIII. BẬC KHẤN GIỮ CÁC LỜI KHUYÊN PHÚC ÂM TRONG GIÁO HỘI

21. Những điều khuyên trong Phúc âm về đức Sạch sẽ (để hiến thân cho Chúa), về đức Khó khăn và về đức Vâng lời, là những điều kiện có căn bản ở lời Chúa dậy và ở việc Chúa làm. Các Thánh Tông Đồ, các Thánh Giáo Phụ, các Đức Giáo Hoàng và các Thánh Tiến sĩ trong Giáo hội cũng vẫn khuyên dậy. Những điều đó đã thành một ơn thiêng liêng cao quý Chúa ban cho Giáo hội, và nhờ Chúa giúp, Giáo-hội vẫn trung tín bảo toàn. Chính Giáo Hội đã dùng quyền theo ơn Chúa Thánh Thần soi dẫn mà săn sóc xác định Giáo lý ấy và điều hành bằng cách lập nên những nếp sống vững chắc trên nền tảng các lời khuyên ấy. Như bởi một hạt giống Chúa gieo nẩy mầm lên cây trổ ngành xanh lá rum ra lạ lùng trong cánh đồng Chúa thế nào thì đây cũng sinh nở và phát triển ra biết bao những nếp sống khác nhau, hoặc cá nhân, hoặc đoàn thể, hoặc các gia đình Dòng tu khác nhau, mà cái cốt yếu tinh thần một trật vừa có lợi cho các phần tử chính những gia đình ấy vừa hữu ích cho toàn thể Mình Mầu Nhiệm Chúa Kytô. Những gia đình này bảo đảm cho các phần tử sống chắc chắn trong nếp sống của mình, lấy Giáo lý đã kinh nghiệm dậy họ đạt tới sự Trọn lành, lấy tình Huynh đệ phấn khởi họ chiến đấu cho Chúa Kytô, lấy đức Vâng lời chế ngự sự tự do, để họ trung tín chu toàn lời khấn Dòng, và hớn hở tiến mạnh trên đường Đức Ái.

22. Xét theo hình thức Chúa lập và phẩm trật Giáo hội thì không có bậc sống ở giữa Giáo sĩ và Giáo dân như thế, nhưng Chúa gọi ở bậc Giáo sĩ hay bậc Giáo dân ra những người thành tín với Chúa Ky tô, để trong Giáo hội có những người được hưởng các đặc ân ấy, để họ tùy khả năng mà giúp Giáo Hội cứu rỗi nhân loại.

XLIV. BẢN TÍNH VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA BẬC DÒNG TRONG GIÁO HỘI

23. Do lời khấn hay lời giao ước thánh thiện giống như lời khấn (tùy mỗi Dòng) mà người thành tín của Chúa Kytô buộc mình thực thi ba lời khuyên Phúc âm nói trên để được hoàn toàn hiến thân cho Chúa, mến Chúa trên hết, để được phụng sự Chúa và tôn vinh Chúa với một tước hiệu mới lạ và đặc biệt. Thực ra phép Thánh Tẩy đã làm cho họ chết cho tội lỗi và hiến thân cho Thiên Chúa rồi, nhưng để được ơn Thánh Tẩy cách dồi dào sung mãn hơn, họ muốn nhờ sự khấn giữ các lời khuyên Phúc âm đã được Giáo hội thành lập, mà thoát ly mọi cái có thể lấn bấn vướng chân họ, khi muốn đi tìm đường để mến Chúa cách nồng nàn hơn, để phụng sự Chúa cách trọn hảo hơn, và để hiến thân lo việc Chúa cách tận tình hơn.Việc cung hiến càng trọn hảo càng như những sợi dây càng chắc, càng bền, càng tượng trưng được Chúa Kytô kết hợp với Giáo hội khăng khít hơn. Những lời khuyên Phúc âm dẫn đến đức Ái, và đức Ái hợp nhất những người thực thi lời khuyên lại với Giáo Hội và Mầu nhiệm của Giáo Hội một cách đặc biệt, nên cả đời sống thiêng liêng của họ cũng phải tận hiến để mưu ích cho toàn thể Giáo Hội. Do đó, mỗi người có phần trách nhiệm công tác riêng của mình, tùy lực và tùy ơn kêu gọi  mà cầu nguyện, hoặc hoạt động đắc lực để nước Chúa được đâm rễ sâu xa vững mạnh trong các linh hồn, và được mở rộng ra trên khắp hoàn cầu. Đó là lẽ tại sao có biết bao Dòng tu khác nhau mà Giáo hội vẫn ủng hộ và duy trì các sắc thái riêng của mỗi Dòng.

24. Do đó, việc khấn giữ các lời khuyên Phúc âm hiện ra như một lá cờ hiệu, chẳng những có thể có, mà lại phải có một ảnh hưởng hữu hiệu trên các phần tử của Giáo Hội, để họ can đảm chu toàn trách nhiệm của người được gọi là Kytô hữu. Quả thật, dân Thiên Chúa không có quê hương vĩnh cửu ở trần thế này, họ đi tìm quê hương khác ở đời sau. Cho nên bậc tu Dòng càng làm cho người tu sĩ được tự do thong dong hơn, khỏi vương vấn với việc trần thế hơn, thì càng tỏ rõ cho các tín hữu nhận thấy những của trọng trên trời ngay từ ở đời này, lại càng tỏ rõ có cuộc sống mới khác vĩnh cửu do Công nghiệp Cứu chuộc Chúa Kytô đem lại. Sau cùng, bậc Dòng còn báo trước một cuộc sống lại sau này với những vinh quang của Nước Trời. Hơn nữa, bậc Dòng còn gắng gỏi theo sát Chúa Kytô và luôn luôn trình diễn trong Giáo Hội một nếp sống mà chính Con Thiên Chúa đã sống khi đến thế gian để làm trọn Thánh ý Đức Chúa Cha, và Người cũng đã dạy cho các môn đệ theo Người. Sau hết, bậc Dòng đã làm cho ai nấy thấy một cách đặc biệt rằng: nước Chúa siêu vượt hơn tất cả mọi của cải phàm trần và mọi nhu cầu, dù là khẩn thiết nhất.

Bậc Dòng cũng tỏ cho mọi người biết Vương quyền cao cả tuyệt đối của Chúa Kytô Vua, và sức mạnh vô biên của Chúa Thánh Thần đang hành động cách lạ lùng trong Giáo Hội.

25. Bậc Dòng thành bởi khấn giữ các lời khuyên Phúc âm, tuy không hệ đến cơ cấu phẩm trật Giáo Hội nhưng không thể tách rời khỏi đời sống và sự thánh thiện của Giáo Hội được.

XLV. GIÁO QUYỀN ĐỐI VỚI TU SĨ

26. Nhiệm vụ của hàng Giáo Phẩm là chăn dắt Dân Chúa đến đồng cỏ phì nhiêu (Ez 34,14). Nhiệm vụ ấy đòi hàng Giáo Phẩm lập nên những luật lệ để khôn ngoan điều hành việc thực thi các lời khuyên Phúc âm như phương thế đặc biệt để phụng sự Đức Ái hoàn thiện là mến Chúa yêu người. Ngoan ngoãn theo ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, hàng Giáo Phẩm chấp nhận những Quy luật do những bậc Vĩ nhân nam nữ đề nghị ra, và khi đã điều chỉnh hoàn hảo, hàng Giáo Phẩm chính thức công nhận. Rồi với quyền bính hàng Giáo Phẩm ở sát bên để săn sóc bênh đỡ các Hội Dòng đã được thành lập rải rác khắp nơi để giáo huấn mình mầu nhiệm Chúa Kytô, hầu cho các Dòng theo sát với tinh thần của Đấng sáng lập mà được phát triển thịnh vượng.

27. Hơn nữa, để có thể cung cấp đầy đủ hơn cho nhu cầu của toàn thể Đoàn chiên Chúa, Đức Giáo Hoàng có thể lấy quyền tối cao của Người trên toàn thể Giáo Hội, và nhằm vào ích lợi chung, mà rút cả một Hội dòng hay từng phần tử ra khỏi thẩm quyền của Đấng Bản Quyền, và đặt ở dưới quyền một mình Người điều khiển hoặc có thể ủy thác Hội Dòng cho Bề trên Thượng cấp của họ đảm nhiệm của các phần tử Dòng, thì trong việc chu toàn bổn phận đối với Giáo Hội, sẽ tùy theo luật Dòng của mình nhưng vối phải theo Giáo luật mà tôn kính và tuân phục các Đức Giám Mục vì quyền Chúa chiên của các Ngài trên các Giáo Hội địa phương, và vì sự thống nhất và sự hòa hiệp cần thiết trong việc Tông đồ đòi buộc.

28. Không phải Giáo Hội chỉ châu phê để bậc khấn Dòng có giá trị theo pháp lý không vậy thôi. Nhưng với nghi lễ, Giáo hội còn làm cho việc khấn Dòng thành một việc tận hiến cho Thiên Chúa. Chính Giáo Hội nhân danh Thiên Chúa, Đấng đã trao quyền cho Giáo Hội nhận lời Khấn, và trong lời cầu nguyện cộng đồng, Giáo Hội xin Chúa ban ơn giúp sức cho họ. Giáo Hội phó thác cho Thiên Chúa và kết hợp đời tận hiến của họ với của lễ Thánh Thể để chúc phúc cho họ.

XLVI. SỰ CAO CẢ TRỌNG ĐẠI CỦA VIỆC KHẤN DÒNG

29. Các Tu sĩ phải hết sức cố gắng, để làm sao, nhờ họ mà Giáo hội làm cho giáo dân cũng như lương dân nhận biết được Chúa Kytô một cách thực tế hơn mãi rằng: dù khi Người cầu nguyện trên núi, dù lúc giảng dậy dân chúng về nước Trời, dù khi chữa người bệnh tật, dù khi cải thiện tội nhân, dù khi chúc phúc cho con trẻ, dù lúc thi ân cho mọi người, luôn luôn là người vâng theo thánh ý Đức Chúa Cha, Đấng đã sai Người.

30. Mọi người cần phải hiểu rằng: lời Khấn giữ các lời khuyên Phúc âm, kể cả sự từ khước của cải, cả những của mười mươi là chính đáng, không làm cho con người lạc hậu chút nào, trái lại rất có lợi. Quả thế những lời khuyên được thong dong tự tình chấp nhận tùy thuộc mỗi người theo ơn Thiên triệu riêng, làm cho lòng người nên thanh tĩnh và tâm thần được thư thái hơn nhiều. Những lời khuyên ấy kích thích liên lỉ cho Đức Ái thêm nồng nàn và nhất là có thể bảo đảm cho các Kytô hữu sống đúng với Đức Trinh khiết và đức Khó nghèo mà chính Chúa Kytô đã ưa thích và Đức Nữ Đồng Trinh Mẹ Ngài đã ôm ấp. Gương bao nhiêu Thánh sáng lập Dòng đã chứng tỏ điều đó. Không được ai tưởng rằng: vì tận hiến, mà cácTu sĩ thành ra những người xa lạ đối với nhân loại hoặc vô ích đối với xã hội. Vì nếu họ không luôn luôn trực tiếp ở sát cánh với các người đồng thời của họ, thì chính là họ ở gần những người ấy cách thâm thiết hơn trong Trái Tim Chúa Kytô để cộng tác trong tinh thần hầu cho việc kiến thiết thành trì dưới đất luôn luôn có nền tảng trong Chúa và quy hướng về Chúa, để những ai xây dựng không sợ uổng phí công lao.

31. Vì thế, Thánh Công Đồng chấp nhận và tán thưởng các người nam, nữ, các anh chị em trong các Tu viện, trong các trường học, nhà thương, trong các xứ Truyền giáo, vì đã đem lại cho Giáo hội là bạn Chúa Kytô một vẻ tươi đẹp do sự bền bỉ và khiêm nhường trung thành với đời tận hiến, và quảng đại phục vụ bằng mọi cách, hết mọi người.

XLVII. KẾT LUẬN

32. Còn những ai đã được Chúa gọi khấn giữ các lời Khuyên có bổn phận phải ở bền vững trong Ơn Thiên triệu Chúa gọi, và phải tiến không ngừng để Giáo hội Chúa được thánh hóa hơn để Chúa ba Ngôi là nguồn mạch sự Thánh thiện được cả sáng trong Chuá Ky tô và nhờ Chúa Ky tô.

HẾT CHƯƠNG  VI

……………………………………………………………………………………………………………………

* Toàn thể Hiến Chế cũng như từng điểm ghi trong Hiến Chế Tín lý này đã được các Nghị phụ ưng thuận. Vậy Ta lấy quyền Tông đồ Chúa Kytô trao cho, đồng ý với Quý Nghị phụ, mà phê chuẩn quyết định và hạ lệnh trong Chúa Thánh Thần mà truyền cho những điều đã được quyết định trong Công Đồng phải được công bố cho sáng danh Thiên Chúa.

 Tại Roma, ở Đền Thờ Thánh Phêrô, ngày 21 tháng 11 năm 1964

Ta, Paulo, Giám Mục Giáo Hội Công Giáo và các Nghị Phụ Công Đồng ký

 (Concile  oecuménique, VaticanII Editions du Centurion   p.78-92)

Comments are closed.