Mẫu bá cáo (theo sắc lệnh “Cum transactis”)

0

MẪU BÁ CÁO 

(Theo sắc lệnh “ Cum transactis” do Thánh bộ Tu sĩ ra ngày 9/12/1984)

Các Dòng phải trả lời (theo sắc lệnh “Cum transactis” ra ngày 9 tháng 7 năm 1947) trong bản tường trình và phải gửi về Tòa Thánh cứ 5 năm 1 lần.

(Trích Nữ Tu đọc Văn Thư Tòa Thánh, Tủ sách Ra Khơi, Sài Gòn 1969, Văn thư XIX, trang 171 -212. Nữ Tu viện Đa Minh Bùi Chu -Tam Hiệp) 

TIÊN CHÚ:

A. Về cách làm và gửi bản tường trình “5 năm”

1- Trước mỗi câu trả lời phải đề số và mẫu tự A, B, C đúng như trong bản hỏi đã đề.
2- Mỗi lần trưng một văn kiện của Tòa Thánh hay địa phận, phải luôn luôn ghi đúng ngày tháng và số của công văn.
3- Phải giải thích các câu trả lời cho rõ tùy theo trường hợp, chứ không được trả lời tắt bằng một tiếng “Có” hay “Không”.
3- Các Dòng Giáo-sĩ, phài biết bá cáo bằng tiếng Latinh.Còn các Dòng khác, viết bằng Latinh hay bằng một sinh ngữ nào thông dụng như Đức, Anh,Y-pha-nho, Pháp, Ý cũng được.
5- Bản bá cáo nên đánh, máy cho rõ ràng. Nếu viết bằng tay, thì phải viết sao cho có thể đọc dễ dàng được.
6- Giấy bá cáo không được mỏng quá hay dầy quá, nhưng phải bền để dữ được lâu.
7- Những câu hỏi đánh dấu hoa thị (*) thì chỉ có dòng nam phải thưa. Còn những câu đánh chữ thập (+) thì chỉ có Dòng nữ phải thưa thôi.

B. Về cách làm bản tường trình “5 năm” cho Đấng Bản Quyền và cách chuyển bản ấy sang Thánh Bộ Tu sĩ:

1- Theo Giáo-luật, các dòng thuộc quyền Địa phận, cũng phải giữ Giáo-luật, như các dòng thuộc quyền Tòa Thánh ( trừ các trường hợp được miễn rõ rệt). Vì thế những câu hỏi nêu ra cho dòng Tòa Thánh cũng là những câu hỏi nêu ra cho dòng Địa phận nữa.
2- Nhưng trong Giáo luật có những điều chỉ buộc dòng địa phận, nên ở đây cũng có ít câu hỏi riêng cho các dòng Địa phận.
3- Giáo-luật không chú ý đến việc dòng địa phận phân ra các Tỉnh hạt. Điều đó khó có thể được chấp thuận. Ý của Tòa-Thánh là: nếu có lẽ phân dòng nào ra Tỉnh hạt, thì dòng ấy phải là dòng thuộc quyền Tòa-Thánh trước đã – Vì thế trong bản hỏi, không hỏi gì đến Tỉnh hạt hay Bề Trên Tỉnh hạt, trừ một câu hỏi số 9 thôi.
4- Các Bề Trên cả Dòng địa phận đừng gửi thẳng bản tường trình “ 5 năm” sang Tòa Thánh ; phải gửi tới Đấng Bản Quyền nơi có nhà Mẹ ( Sắc lệnh Cum transactis, IV, 3).
5- Bản tường trình phải có chữ ký của Bề Trên Cả và Ban Tổng Cố Vấn.
6- Đấng Bản Quyền nơi có nhà Mẹ phải để ý các điều sau đây:

  • Ngài phải gửi tới các Đấng Bản Quyền khác, nơi có nhà Dòng ở, một bàn tường trình đã làm.Các Đấng Bản Quyền này sẽ gửi lại cho Đấng Bản Quyền nhà Mẹ, hay gửi thẳng tới Thánh-Bộ Tu sĩ , những chú thích cần và lời phê phán riêng của các Ngài về Dòng ấy.
  • Ngài phải gửi bản tường trình có chữ ký của Ngài tới Thánh Bộ Tu sĩ ngay trong năm ( nghĩa là năm phải làm bản tường trình). Chính Ngài phải phê phán, thêm vào các điều đấng Bản Quyền khác đã phê phán về Dòng mà Ngài đã nhận được. Trong khi phê phán, Đấng Bản Quyền nhà Mẹ đừng quên nói về việc các Đấng Bản Quyền khác đã thi hành quyền quản trị Dòng ở địa phận các Ngài thế nào. Ngài phải trình bày cho Thánh Bộ biết rõ ràng về cách đã thi hành quyền: Hoặc do tất cả các Đấng bản Quyền một trật, hay chỉ do một đấng bản quyền nhà Mẹ, vì các Đấng khác đã ủy cho Ngài.
  • Các điều Thánh Bộ đã phê phán khi trả lời cho bản tường trình qua Đấng Bản Quyền nhà Mẹ, phải được chuyển ngay cho Bề Trên Cả và các Đấng Bản Quyền khác biết để thi hành (Sắc lệnh Cum transactis IV, 30).

7– Cùng với các Bản tường trình đầu tiên ( kể từ khi công bố bản này) Đấng Bản Quyền nhà Mẹ còn phải chuyển tới Thánh Bộ tu sĩ nhữ văn kiện sau đây:

  a) Hai bản Hiến-Pháp in và đóng chắc chắn.
b) Một bản lý lịch hợp pháp của Dòng, trong đó nói rõ – Đấng sáng lập – năm thành lập – có lập theo Giáo-luật không? Còn phải nói rõ Đấng Bản quyền nào đã lập và công nhận Dòng. Phải tóm tắt cẩn thận những nét chính về lịch sử Dòng, Bản lý kịch này phải viết rõ ràng và đóng chắc chắn.
c) Theo Giáo Luật ( C. 569), nếu Dòng hay hội Dòng có y-phục riêng cho người Khấn và Tập-sinh, thì phải gửi hai tấm hình chụp thật đúng, thêm hai hình chụp cùng một cỡ về mầu y phục nữa.

8– Nếu Bề Trên Cả, tự mình hay với ban Tổng Cố Vấn hoặc ai trong ban Tổng Cố Vấn nghĩ cần phải trực tiếp tâu Tòa Thánh điều gì về Dòng thì hãy viết thư riêng (Sắc lệnh Cum Transactis VIII). Trên trang đầu của bản tường trình phải đề:

  • Tên Dòng: (Tên chính thức bằng tiếng Latinh và tên thường gọi hàng ngày).
  • Dấu hiệu hay chữ tắt quen dùng.
  • Trụ sở của nhà Mẹ:
  • Với địa chỉ đầy đủ: (Địa chỉ bưu điện, điện thoại và điện báo).
  • Bá cáo về những năm nào?

SAU ĐÂY LÀ CHÍNH BẢN HỎI PHẢI THƯA ĐỂ LÀM BÁO CÁO.

VỀ BẢN TƯỜNG TRÌNH LẦN TRƯỚC 

1- a) Bản tường trình lần trước đã gởi đến Đấng Bản Quyền địa phận ngày nào?

   b) Lần bá cáo ấy có giữ đúng các điều Thánh-Bộ đã đòi phải chú ý ở trên không? Có chuyển qua Đức Giám Mục địa phận không ?

 2- Những điều trong bản tường trình đó có được kể là đúng là đầy đủ theo lương tâm không? Có bớt bỏ gì không?

CHƯƠNG  I: VỀ HỘI DÒNG VÀ VIỆC CAI TRỊ DÒNG 

MỤC I: Nói chung về Dòng và riêng về các nhà

Triệt 1:  Nói chung về Dòng.

3– Tính chất (theo Hiến-Pháp) của Dòng là gì? (c.488, 4­­0). Là Dòng Giáo sĩ hay Giáo dân? Đã thành lập trong một địa phận hay trong nhiều địa phận (c.495 §I§2) ?

4-  Các điều kiện đòi phải có, có giữ đúng không? Đã xin hay có ý định xin Tòa Thánh để được là Dòng Giáo Hoàng chưa? Có thấy trước những gì là phiền phức, khó khăn trong việc xin như vậy không? Hay đã gặp khó khăn rồi? Những khó khăn ấy là những gì?

VỀ MỤC ĐÍCH RIÊNG CỦA DÒNG 

5– Mục đích riêng của Dòng là gì?

6– Mục đích riêng của Dòng có bị thay đổi trong năm năm vừa qua không? Ai đã thay đổi?

7 – Trong thực tế, mục đích riêng của Dòng còn giữ được cả hay đã bớt bỏ phần nào rồi? Hay đã mải vào việc gì khác với mục đích Dòng rồi?

8 – Những việc chính phải làm theo mục đích riêng của Dòng là những việc gì?

Triệt II: Về việc tổ chức nội bộ và các chi nhánh của Dòng.

VỀ CÁC TỈNH HẠT 

9– Dòng có chia ra các Tỉnh hạt không? Chia từ khi nào? Đã lập bao nhiêu Tỉnh hạt? Ai cho lập?

VỀ CÁC NHÀ

10– Trong năm năm vừa qua, đã sửa đổi những nhà nào? bên ngoài hay bên trong thế nào? (c. 497§I§4)

11– Khi thiết lập hay bãi bỏ các nhà ấy, có giữ Giáo-luật (cc.497, 498) không? Có theo thứ tự khôn ngoan cẩn thận không? Có văn tự rõ ràng đầy đủ theo Giáo-luật và Hiến-Pháp không? Có giữ đúng luật đời không?

12– Khi bắt đầu lập một nhà trong địa phận khác, có lĩnh ý Đấng Bản Quyền địa phận Nhà Mẹ ưng cho không?

13– Các nhà có đủ điều kiện cần thiết để sống chung cả không ? Nhất là :

a) Có phòng ngủ riêng cá nhân không? Nếu là phòng ngủ chung, thì các giường ngủ có cách xa nhau vừa phải không?

b) Có nơi riêng thích hợp để săn sóc chữa bệnh cho người đau ốm không?

14– Phòng dành cho khách trọ có cách biệt hẳn khu nhà Dòng không?

MỤC  II: Về sự cai trị theo Giáo-luật và Hiến-Pháp nói chung.

15– a) Hiện nay Hội đồng Tổng Cố Vấn có đầy đủ các nhân viên không?

        b) Tất cả các vị Cố Vấn có ở tại trụ sở không?

        c) Nếu có vị nào ở ngoài trụ sở thì vì lẽ gì? Ở đâu? Ở địa phận nào?

16– Ban Tổng Cố Vấn có kiêm nhiệm vụ nào khác nữa (như quản lý, thư ký,giám học,v.v…) không?

VỀ ĐẠI HỘI ĐỒNG, GIẤY TRIỆU TẬP VÀ NHÓM HỌP 

17– Trong thời hạn năm năm vừa qua, có Đại Hội Đồng không?

18-  Có giữ các quy tắc của Giáo-Luật, Hiến-Pháp nói về Đại Hội Đồng không?

CÁC ĐIỀU PHẢI GIỮ

a) Có giữ hạn kỳ nhóm họp, có chỉ định nơi, có thư hiệu triệu không?

b) Có bầu Đại biểu đến Đại Hội Đồng không? Có bầu người kiểm soát phiếu, có bầu Thư Ký của Đại Hội Đồng không?

c) Có bầu Bề Trên Cả, bầu Tổng Cố Vấn và những nhân viên mà Đại Hội Đồng phải bầu như Thư ký, Tổng quản lý không?

19- Có ai thăm dò nghe ngóng để vận động trực tiếp hay gián tiếp cách nào cho người ta bỏ phiếu cho mình hay cho người khác không? (c.507§2)

20- Ai có chủ tọa Đại Hội Đồng:

a) Để bầu Bề Trên cả?

b) Để bẩu các vị khác và duyệt lại các công việc Dòng?

21– Có bản tường trình về các việc Dòng nộp kịp thời cho Đại Hội Đồng để ai nấy trong Đại Hội Đồng, hoặc Ủy Ban của Đại Hội Đồng chọn (nếu có luật buộc) được khảo sát hẳn hoi không?

a) Có bản tường trình về nhân sự, về kỷ luật, về các việc làm từ Đại Hội Đồng trước đến nay do Bề Trên Cả hay đại diện Bề Trên Cả làm, và được Hội Đồng Tổng Cố Vấn chấp thuận không?

b) Có bản tường trình rõ rệt và đầy đủ về tài chính do người Tổng Quản Lý làm và được Bề Trên Cả và Hội Đồng Tổng Cố Vấn chấp thuận không?

22– Trước khi bầu Bề Trên Cả và Ban Tổng Cố Vấn mới, có đọc bản tường trình ấy và có thận trọng thảo luận để phê phán không?

CÔNG BỐ VÀ THI HÀNH SAU ĐẠI HỘI ĐỒNG

23– Bề Trên Cả có công bố các pháp lệnh và các quyết định phải công bố của Đại Hội Đồng không? Công bố khi nào và công bố bằng cách nào?

24– Nếu khi công bố đã bớt bỏ điều nào, hay đã không công bố đúng như Đại Hội Đồng quyết định thì vì lẽ gì? Dựa vào quyền nào mà bớt bỏ như thế?

25– Bề Trên Cả và Ban Tổng Cố Vấn của Ngài, các Bề Trên và các ban Cố Vấn sở tại đã làm gì để thi hành trung tín các quyết định của Đại Hội Đồng chưa?

VỀ SỰ BỔ NHIỆM 

26– Có giữ các điều kiện và đức tính mà Giáo-luật và Hiến-Pháp đòi:

a) Đề cử I người làm Bề Trên hay nhiệm vụ gì không? (cc. 504, 515).
b) Cách bổ nhiệm theo Giáo-Luật cc.506, 507 có giữ không?
c) Có giữ thời hạn theo Giáo-Luật c.505 không?

27– Chiếu theo Giáo-Luật và Hiến-Pháp, Dòng đã được Tòa Thánh hay Bề Trên ban cho bao nhiêu chước chuẩn rồi? Và những nố ấy như thế nào?

a) Trong việc bổ nhiệm hay giao công tác, có ơn chuẩn nào không?
b) Trong việc tái cử, có ơn chuẩn nào hơn?
c)  Những điều kiện buộc đi theo với ơn chuẩn ấy có giữ đúng không?

28-  Các Bề Trên Dòng Giáo sĩ có thi hành đúng Giáo-Luật c. 1406, §I, 9 §2 là bắt buộc đương sự tuyên thệ Đức tin trước mặt Đại Hội Đồng, hay Bề Trên bổ nhiệm, hay vị Đại Diện của các Đấng ấy không?

TRÁCH NHIỆM CỦA BỀ TRÊN 

  • Về việc ở tại trụ sở.
  • Về việc công bố và thi hành các sắc lệnh của Tòa Thánh.
  • Về việc kinh lý theo Giáo Luật.
  • Về thư từ.

29– Bề Trên Cả, các Bà Tổng Cố Vấn và các Bề Trên khác có giữ luật ở tại trụ sở theo đúng theo đúng Giáo-Luật (cc, 508, 517) và Hiến-Pháp không?

30– Cá Bề Trên đã làm cách nào để tu sĩ biết và giữ những Sắc Lệnh Tòa Thánh có liên quan tới các tu sĩ theo Giáo-Luật c 509 §I không?

31– Các thư từ tu sĩ viết cho những Đấng mà Giáo-Luật (c. 611) và Hiến-Pháp đã cấm kiểm duyệt có được hoàn toàn tự do không? Có bị Bề Trên kiểm duyệt cách nào không?

32– Có những nố viết thư kín, viết thư trộm ở giữa các tu sĩ với nhau hoặc giữa các tu sĩ với người ngoài không ? Nếu có, đã làm gì để triệt dứt lạm dụng ấy chưa?

33– a) Bề Trên Cả có đích thân đi kinh lý theo luật không? Có đi đúng hẹn luật chỉ không?

        b) Ngài có cử Đại Diện đi kinh lý thay không?

34– Những lần kinh lý theo Giáo-Luật (cc. 513. 2413) và Hiến-Pháp có làm đầy đủ các việc phải làm không?

a) Có tìm hiểu cho biết tất cả mọi người về kỷ-luật và đời sống Trọn lành của Dòng (đời sống Giáo chức), về cách rèn luyện nên người Tu-sĩ (và Giáo sĩ), về những công việc đạo đức thế nào không?

b) Có biết những đồ dùng của cải được gìn giữ và quản trị thề nào không?

35– Có lần nào Bề Trên ủy vị Đại Diện đặc biệt đi kinh lý không? Tại sao ủy như thế? Nhằm lợi ích gì?

36– Đã làm thế nào để thi hành những lệnh khi đi Kinh lý đã ra không?

VỀ CÁC HỘI ĐỒNG

37-  Các Hội-đồng có họp theo đúng kỳ hẹn và trong những trường hợp buộc họp không?

a) Bề Trên Cả có thi hành không?

b) Các Bề Trên nhà có thi hành không?

38– a) Khi họp có luôn luôn lấy biểu quyết của hết cả các vị Cố Vấn không?

        b) Những vị Cố Vấn vắng mặt có cho biểu quyết không? Bằng cách nào?

        c) Khi họp có bỏ Bà Cố Vấn nào không mời không? – Vì lẽ gì?

39– Kể từ 5 năm nay, Bề trên Cả đã họp Hội đồng mỗi năm mấy lần?

40– Về những vấn đề mà Giáo luật và Hiến Pháp cho các vị Cố Vấn được bỏ phiếu quyết định hay thương nghị, Hội đồng có giữ đúng không?

41– Trong các lần Hội-đồng, tất cả và từng vị Cố Vấn một có được quyền tự do phải được không? Và trong các quyết định cắt cử chức vị và tất cả các việc cần phải bỏ phiếu có giữ đúng Giáo luật (cc.101,105 IO , 20 , 30) và Hiến-pháp luôn không?

42– Những việc trong Hội đồng có được ghi thành biên bản rõ ràng và ký cả không?

43– Có lập tủ công hàm chung cho Dòng và riêng cho mỗi nhà không? Công hàm có được giữ gìn cẩn thận và xếp đặt thứ tự không?

44– Hiện giờ có đủ các nhân viên trong ban Tổng quản trị và ở các nhà sở tại không? Có chân nào khuyết không?

VỀ VIỆC SỬA PHẠT VÀ LẠM QUYỀN

45– Các Bề Trên có thi hành bổn phận coi sóc, sửa bảo chung và riêng không? Bằng cách nào?

46- Có những lạm quyền nào đã phát xuất, hay có khi đã ăn rễ sâu mà không sửa chữa hay không dùng những phương thế hiệu-nghiệm để ngăn ngừa trừ khử không?

47– Đã mấy lần, mà vì lẽ gì đã phải cảnh cáo và trừng phạt theo luật?

48– Trong khi trừng phạt có giữ Giáo-luật và Hiến-pháp không?

49– Bề-trên có lạm quyền không? Bề dưới có phải khiếu nại hay phải ca thán về sự lạm quyền ấy không?

50– Các Bê-trên có lỗi nặng những điều về Giáo-luật và Hiến pháp nói chung về bổn phận Tu-Sĩ hay nói riêng về trách nhiêm các Ngài không?

51– Trong các trường hợp Bề-trên lỗi như thế, có thi hành những hình phạt hoặc chung hoặc riêng do Giáo-luật (cc. 2389,2411, 2413 v.v.) hoặc do Hiến-pháp ấn định không?

VỀ VIỆC THI HÀNH QUYỀN BÍNH

52– Đã dùng những phương thế nào để Bề-trên Cả và ban Tổng Cố vấn của Bà được biết một cách đều đặn, đầy đủ và khách quan về đời sống Tu-sĩ chưa?

53– Có các bá cáo định kỳ phải gửi về Bề-trên Cả không? Và cứ bao lâu phải gửi về một lần?

54– Có trung tín thi hành những điều đã ấn định buộc về việc bá cáo đó không?

55– Có lập ra những phương thế nào như dây liên ái để hợp nhất các phần tử Dòng với nhau như thông tin, liên lạc,về các công việc không? Hay có Nội san Tạp chí của các nhà, của toàn thể Hội dòng không?

56– Có đặt ra những phương tiện nào khác nữa để giúp cho sự hợp nhất giữa các nhà của Dòng không? Những phương tiên ấy là gì?

57– Mỗi nhà có ghi chép cẩn thận vào Nhật ký những biến cố chính không?

SỰ LIÊN LẠC VỚI CÁC ĐẤNG BẢN QUYỀN

58– a) Những điều Giáo-luật truyền các Tu-sĩ phải phục quyền các Đấng Bản Quyền địa phương có được giữ cách trung thành không?

     *b) Có liên lạc mật thiết với Đấng Bản-Quyền không?

      c) Có gì lộn xộn xích mích với Đấng-bản-quyền địa phương không? Có điều gì đáng phàn nàn hay khó khăn không? Những điều đò là gì?

59– Đã dùng những phương pháp nào, hay có thể dùng những phương pháp nào để ổn thỏa lại được không?

MỤC III: Về các Cha Giải tội

* 60– Theo Giáo-luật c. 518 §I, trong mỗi nhà có nhiều Cha Giải tội không?

* 61 – Để bảo đảm những điều Hiến Pháp đã truyền hay khuyên về việc xưng tội theo kỳ hạn với các Cha Giải tội đã được chỉ định, các Tu-sĩ có thể vừa giữ được kỷ-luật Dòng vừa được thong dong theo Giáo-luật c.519 mà đến với Cha Giải-tội khác đã được Đấng Bản-Quyền chấp thuận, dù không phải là một trong số các Cha đã được chỉ định không ?

+ 62 – Có trung tín giữ Giáo-luật và Hiến-pháp về vấn đề chọn hay gia hạn các Cha Giải-tội thường lệ hay khác thường, cũng như các Cha Giải-tội đặc biệt hay phụ bổ cho những trường hợp riêng theo Giáo-luật (cc 520§I §2, 521, 524, 526, 527) không ?

+ 63 – Các Bề trên có trung tín giữ các điều nói về các Cha Giải-tội phụ bổ (G.L.c.521§3), Cha Giải tội lâm thời (G.L.c. 522) và trong khi bệnh nặng (G.L,c. 523) không?

64– Các Bề trên có lo lắng săn sóc cho các Tu-sĩ giữ những điều Giáo-luật (c. 595§I  3 0) và Hiến-pháp (theo Giáo luật c.519) để họ xưng tội mỗi tuần ít là một lần không?

65-  Các Bề-trên có lạm quyền mà hạn chế sự thong dong lương tâm của Tu-sĩ không ? (G.L.cc.518 §3, 519, 520, 521, 522, 2414) – và những lạm quyền ấy như thế nào ?

66– Bề-trên Cả và các Đấng kinh lý đã sửa lại các tệ tục lạm quyền ấy chưa?

67– Có vì lẽ được thong dong lương tâm, mà luật phép Dòng bị tổn thương phiền rầy cách nào bởi những người dưới không ? Hay có những lạm dụng nào khác đã phát sinh không? Các Bề trên và các Đấng kinh-lý tuy phải tôn trọng sự thong dong lương tâm, nhưng đã sửa chữa những lạm dụng đó chưa?

VỀ VIỆC LINH HƯỚNG

*68– Để việc đào tạo huấn luyện được chắc chắn, các Bề trên lo cho có Cha linh hướng như thế nào?

*69– Có lo cho trong nhà Tập (G.L.c. 566 §2) cũng như trong học viện, có các Cha giải tội và các Cha linh hướng cần phải có, và được lựa chọn đích đáng không? Nếu là Dòng Giáo-sĩ, các Đấng ấy có ở ngay trong dòng theo Giáo-luật c. 566 §2,20 không?

70– Các Bề Trên có theo đúng Giáo-luật (c. 530 §I§2) cho hoàn toàn thong dong cởi mở lương-tâm với chính mình không?

71– Các Bề Trên đã cố gắng bằng cách nào, để khuyến khích thúc giục việc linh hướng?

VỀ VIỆC RƯỚC LỄ

72– Các Bề Trên có chăm lo thi-hành theo Giáo-luật c.595 §2 §3, để cổ động bề dưới năng Rước Lễ và Rước lễ hằng ngày không? Có giữ đúng Giáo-luật (c. 595§4) và các huấn thị để hoàn toàn tự do theo lương-tâm không?

73– Các Bề Trên có săn sóc đón mời các Cha Giải-tội, để Tu-Sĩ có thể gặp được dễ dàng trước khi Rước Lễ không? Có cho các Tu-Sĩ thời giờ vừa đủ để dọn mình Rước Lễ và cám ơn không?

VỀ VIỆC HUẤN ĐỨC VÀ GIÁO LÝ

74– Các Bề Trên có lo theo Hiến-Pháp và Giáo-luật cho có giờ Huấn-đức và Giáo-lý cho toàn thể Tu-viện (G.L.c. 509 §2,20), cho Tập-sinh (G.L.c. 565§2), cho Thử sinh (G.L.c 588§I), cho Trợ-sĩ, cho người giúp việc, người ở theo (G.L.c. 509 §2, 20) không?

MỤC IV

Triệt I: Về việc thủ đắc và bán nhượng tài-sản.

VỀ VIỆC THỦ ĐẮC VÀ TRƯỚC BẠ TÀI SẢN          

75– a) Dòng và các nhà có tậu được gì bất động sản và động sản quí giá không? Là những của gì? Đáng giá bao nhiêu?

      b) Những của ấy được bởi người ta cho hay bằng cách nào không phải trả tiền hay phải trả tiền? Nếu phải trả tiền thì là tiền riêng của Dòng hay là tiền đi vay?

76– Dòng và từng nhà nhánh có sổ kê khai các động sản, nhất là của quí giá (hoặc về mỹ nghệ, lịch sử, hay nguyên liệu) (theo G.L.c.1522, 20) không? Có bảng kê khai các bất động sản không?

77– Khi nào bảng kê khai đó phải làm lại? và thực sự có làm lại theo đúng lỳ hẹn đã chỉ định không?

78– Khi Dòng được ủy làm các công việc không phải là việc riêng của Dòng như trường học, nhà thương, nhà thờ v.v… thì của riêng nhà Dòng có phân biệt rõ ràng với các của ngoài không?

79-  Của cải Dòng trước bạ theo luật đời bằng cách nào? Ai đứng tên? Có thể coi sự trước bạ đó là chắc chắn theo pháp luật không?

80– Đã dùng những hình thức trước bạ nào theo luật được coi là chắc chắn nhất ở mỗi địa phương?

81– Nếu để đạt tới mục đích (là đảm bảo tài-sản) có các hội, thì các hội ấy có hợp pháp và giữ điều lệ cẩn-thận không?

82– VỀ CÁC HỘI:

a) Những người giữ trách-nhiệm quản-trị tài-sản có được chỉ định với tất cả sự dè dặt cẩn-thận đòi phải có sau khi đã hiểu biết tất cả các điều cần-thiết ích-lợi về họ không?

b) Trong việc quản-trị tài-sản (khi Dòng có thể làm được cách khôn ngoan không thiệt hại gì) thì những thành phần là người Dòng, có được trọng dụng hơn người ngoài không?

c) Đã dùng những phương thế nào để ngăn ngừa những lạm dụng nguy hiểm do người quản-trị có thể gây ra không?

d) Có theo lương-tâm theo quyền-lợi, mà tỉnh táo duyệt lại luôn luôn các sổ sách và tùy tiện, thường lệ hay bất thường, có những cuộc kiểm soát ngân quỹ (tiền ở trong két) và tài-sản không?

VỀ CHI TIÊU

83– Đã chi phí vào những việc bất thường bằng của riêng thường có, hay bằng của có cách bất thường – hay là phải đi vay mượn?

VỀ SỰ ĐÓNG GÓP

84– Mỗi nhà có đóng góp vào các việc tiêu dùng cần-thiết chung cho Dòng không?

85– Do quyền nào? (do Đại hội đồng,do ban Cố-vấn hay do Bề trên Cả?) lấy tiêu chuẩn nào? Theo tỷ lệ nào để định mức đóng góp?

86– Của đóng góp ấy có được đóng cách vui lòng không ? hay hơn kém đã bị miễn cưỡng mà đóng?

87– Có để cho các nhà được đủ của cần thiết, hoặc để sống dễ dàng, hoặc để mở rộng thêm nhà, mà vẫn giữ được lợi ích vừa cho tinh-thần tu-sĩ, vừa cho Dòng không?

VỀ SỰ BÁN ĐỔI và GIẢM SÚT TÀI SẢN

88– Có bán đổi những của bất động sản hay của gì chắc chắn hay của gì quý giá không? Ai đã cho phép?

89– Trong việc bán đổi tài-sản có giữ Giáo-luật ( cc. 534,1531) nhất là có theo người biết giá thị trường đánh giá cho không? Có giữ đúng Hiến-Pháp không?

90– Dòng hay các nhà có tiêu hụt đến các tài-sản chắc chắn như bất động sản hay quỹ vốn không? Vì sao phải tiêu hụt đến? Ai cho phép?

91– Bề Trên, người Tổng Quản-lý và người Quản-lý Sở tại có cẩn-thận do tái lập tài-sản căn bản ấy lại không?

92– Những của nào của Dòng và của các nhà đã bị thiệt hại? Vì lý do gì?

VỀ NỢ NẦN VÀ TRÁI KHOÁN

93– a) Đã mắc những món nợ nào? Ai vay?

        b) Hiện nay còn mắc những món nợ nào nữa?

94– Khi đi vay nợ có trung thành:

a) Giữ những điều Giáo-luật c. 534 buộc không?  Có giữ mức khôn ngoan của Giáo-luật c. 536 §5 dạy không?

b) Có giữ những khoản Hiến-Pháp nói về phép đi vay và sự đồng ý của Hội đồng Tổng Cố Vấn v.v… không?

95 – Có trung tín trả lãi cho các món nợ va trái khoán không? Có chú ý để trả các món nợ đó dần dần cho nhẹ vốn nợ đi không? (G.L.c 536 §5 )

Triệt II: Về sự duy trì và Quản trị tài sản.

96– Việc quản-trị tài-sản có bị độc quyền không? Có theo đúng Giáo-luật và Hiến-pháp không? Có ở dưới sự điều khiển và kiểm soát của các Bề Trên và các ban Cố Vấn không ? (G.L.c. 516, §2 – 532 §1)

97– Có đặt ra các người Quản-lý theo (G.L. c.516 §2 §3 §4) và Hiến-pháp:

a) Cho tòan thể Dòng không?
b) Cho mỗi sở và mỗi việc không?

98– Có trường hợp nào, Bề Trên cũng giữ việc quản-lý không? ( G.L.c. 516 §3)

99– Cho dù chính Bề Trên là Quản-lý, Ban Cố Vấn có tham gia vào việc quản trị kiểm soát tài-sản không? Đã tham gia và kiểm soát bằng cách nào? (G.L.c. 517 §1)

VỀ SỰ THANH TOÁN SỔ SÁCH

100-  Mỗi năm mấy lần các người Quản-lý và những người Quản-trị tài-sản phải thanh toán sổ sách về việc quản-trị? Thanh toán với Bề Trên nào? Với ban Cố-Vấn nào?

101– Trong 5 năm nay, tất cả và mỗi một người quản-lý hay người quản-trị có thanh toán sổ sách một cách rõ ràng tỉ mỉ và đầy đủ không?

102– Các giấy tờ minh chứng các khoản chi, thu (Bông, Hóa đơn v.v.) có đưa trình nộp cả với sổ sách không?

103– Có xem xét kiểm điểm đều đặn ngân quỹ (tiền ở két) không?

104– Có cho người quản-lý và quản-trị biết những nhận xét cần thiết không? Bằng cách nào? Đã sửa phạt như thế nào khi cần phải sửa phạt?

105– Dù có ý sinh lợi cho Dòng hay cho Sở, các Bề Trên, các người quản-lý, hay các người quản-trị, hoặc các Tu-sĩ khác, có tự ý xử dụng tiền bạc của cải cách tự do đến nỗi không có tính toán đều đặn sổ sách chi cả không?

VỀ SỰ GỬI TIỀN SINH LỢI và VỀ SỰ THAY ĐỔI NƠI GỞI TIỀN

106– Các Bề Trên, các Hội đồng và những người quản-trị, khi gởi tiền bạc sinh lợi theo quyền lợi và ý muốn của các ân nhân, có gửi cách hợp pháp chắc chắn và có lời theo Giáo-luật (c. 533) và Hiến-pháp không?

107– Các Bề Trên, những người quản-lý và những người quản-trị có gửi tiền mặt không cần tiêu hàng ngày để sinh lợi chính đáng với thời hạn ngắn không?

108– Tiền bạc, văn tự, khế ước, những báu vật có được gìn giữ cẩn-thận đúng Giáo-luật và Hiến pháp không?

109– Có trường hợp nào? Và với điều kiện nào mà:

a) Nhà Dòng đã nhận giữ hộ tiền bạc, báu vật của người ngoài gửi không?
b) Ngược lại, các Bề Trên, các người quản-lý, những người quản-trị hay các Tu-sĩ có lấy tiền của nhà Dòng đưa gửi người ngoài không?

110– Các Bề Trên, các người quản-lý, các người quản-trị có theo lương-tâm coi sóc gìn giữ tất cả những của cải của Dòng và của từng nhà (Sở) cách cẩn thận và khôn ngoan không? (G.L.c.532§I)

VỀ CỦA LẬP BẢN VÀ VỀ CỦA TỪ – THIỆN

111– Đã nhận những của di tặng và những của làm phúc nào?

112– Khi nhận những của làm phúc và những của di tặng ấy, có giữ Giáo-luật (c. 1544) và Hiến-pháp không?

113– Tiền lập bản và tiền từ thiện, có gửi sinh lợi theo Giáo-luật với sự chấp thuận của Đấng Bản Quyền không? (G.L.cc. 533§I; 1547). Có quản-trị tiền đó riêng ra, và quản-trị trung-thành không? (G.L.c.1514 ; 1549§2).

114– Có chu toàn trung-tín theo lương-tâm, những trách-nhiệm về của lập bản không? (G.L.cc. 1514; 1549§2)

115– Các Đấng kinh lý có đòi chứng cớ về việc đã chu toàn những trách-nhiệm ấy không? Có đòi trình bày sổ sách về việc quản trị những của lập bản ấy không?

VỀ SỰ KINH DOANH VÀ BUÔN BÁN

116– Có các Tu-sĩ hoặc Bề Trên, hoặc Bề dưới, hoặc tự mình, hoặc nhờ người khác buôn bán bất hợp pháp hay không có phép, trái với Giáo-luật cc.142 và 592 không?

117– Trong những trường hợp vì lẽ chính đáng đã được Tòa Thánh cho phép buôn bán (phải chỉ rõ ngày, tháng ,năm, và số văn thư của Tòa Thánh phúc đáp), có cẩn thận tránh tất cả những gì có vẻ là lưu manh gian dối hay hà tiện không?

118– Có quan phòng cách nào cho những Tu-sĩ phải lo về việc buôn bán, khỏi tồn hại chút nào về đàng tinh thần không?

119– Các Bề Trên và các ban Cố Vấn, trong việc đổi nơi gởi tiền sinh lời, có lo phòng cẩn thận để tránh hết mọi hình thức buôn bán theo đúng Giáo-luật c, 1539, §2 không?

VỀ NHỮNG VIỆC CÓ TRÁCH NHIỆM TÀI CHÁNH

120– Các Bề Trên có trông nom cẩn thận thế nào kẻo theo Pháp-luật, các việc người dưới làm có thể gây nên trách nhiệm tài chánh thiệt hại cho Hội Dòng, cho nhà (Sở) (G.L.c. 536 §2) hay cho chính Tu-sĩ không? (G.L.c. 536 §3).

121– Các việc Tu-sĩ làm mà bất chấp Giáo-luật hay Hiến pháp, các Bề Trên có tùy theo hoàn cảnh thuận tiện mà tách biệt việc đó ra khỏi việc Dòng hay việc của sở, cách rõ ràng và hữu hiệu không?

122– Các Bề Trên Cả có để ý đề phòng tới tất cả những vụ về kinh tế, và những vụ gì thường hay có thể đi tới kiện cáo ở tòa Đạo hay tòa đời không? Có cẩn thận giữ các luật lệ để soạn thảo trước, giấy hợp đồng hay khế ước, cho đầy đủ chắc chắn không? (G.L.c. 1529).

123 – Đã gặp những vụ tố kiện nào hay những thiệt hại rủi ro nào bởi đã coi thường các thủ tục giấy tờ do Dân luật đòi như trong số 122 ở trên chưa ?

124– Các Bề Trên và các người quản lý, trong kỳ làm việc, có chú ý trả tiền công theo đức công bằng cho những người ngoài vào làm việc cho Dòng hay cho sở (nhà) không? (G.L.c.1524). Có để ý giữ đúng những khoản Luật lao-động hay luật naò khác nữa không?

125– Lo về phần thiêng liêng, về phần hồn cho những người làm việc trong nhà, nhất là người ở luôn trong nhà thế nào?

CHƯƠNG II: VỀ CÁC TU SĨ, VỀ ĐỜI SỐNG VÀ KỶ LUẬT CỦA TU SĨ

CÁC BẬC KHÁC NHAU, NHỮNG LỜI KHẤN VÀ LUẬT BUỘC RIÊNG CHO MỖI BẬC 

126– Có các bậc khác nhau trong nhà Dòng không? Là những bậc nào? Các bậc đó có hòa thuận thương yêu nhau không?

127– Không kể những phần tử ràng buộc với Dòng hay với Tu hội bằng lời khấn, hay bằng sự chấp nhận hội chính thức, còn có các người khác, tuy không phải là phần tử thật, nhưng cũng thuộc về Hội bằng lời giao kèo, hay tự hiến, hay bằng hình thức nào khác tương tự như thế không?

128– Những người ấy có được bảo đảm theo lẽ Công bằng và Bác ái về đời sống tinh thần cũng như vật chất không?

129– Về vấn đề này, có những khoản luật đã được chính thức châu phê không?

MỤC I: VỀ SỰ THÂU NHẬN HUẤN LUYỆN – VỀ SỰ KHẤN DÒNG HAY NHẬP HỘI

VỀ NHÀ THỬ THEO NGHĨA RỘNG (CŨNG GỌI LÀ TÔNG ĐỒ VIỆN) 

130– Dòng có trường dạy các Đệ tử hay Thỉnh Tu theo nghĩa rộng như Tông đồ viện v.v. không?

131– Huấn luyện và giáo dục những người này trong bao lâu?

132– Trong các Tông đồ viện hay các nơi giáo dục khác tương tự như thế, cũng như trong các trường học, thường ngày có tách biệt các học sinh bé ra khỏi các học sinh lớn không?

VỀ NHÀ THỬ THEO GIÁO LUẬT (HAY THEO NHĨA HẸP).

133– Nhà Thử có lập đúng theo Giáo-luật (c. 540 §I) ở trong nhà Tập, hay trong nhà nào mà ở đó có giữ luật Dòng hoàn toàn không? (G.L.c. 540).

134– Thời hạn nhà Thử đã do Giáo-luật (c. 539) hay Hiến pháp ấn định, có bị rút ngắn lại hay kéo dài ra không? Đã thêm bớt bao lâu? và ai đã cho phép thêm bớt như thế?

 VỀ SỰ NHẬN CÁC DỰ TU (Đệ tử)

135– Dùng phương thế nào để cổ động và thu hút ơn Thiên Triệu?

136– Có phải nhờ tới quảng cáo trong các sách báo và nhật trình không? Nếu có thì là những sách báo nào, và những nhật trình nào

137– Những nguyên cớ nào được coi là có ảnh hưởng (tuỳ theo miền) đến việc tăng thêm hay giảm bớt ơn Thiên Triệu?

138– Có những trở ngại nào, các Đệ tử thường phải lướt thắng luôn để theo ơn Thiên Triệu?

 VỀ NHỮNG VĂN KIỆN, CHỨNG THƯ VÀ ĐIỀU TRA

139– Có đòi mỗi Đệ Tử, trước khi gia nhập phải nộp tất cả các giấy tờ do Giáo luật (c. 544) và Hiến pháp buộc không?

140– Ít là trước khi nhận vào nhà Tập, có đòi và có nhận đủ các chứng thư đã không?

*a) Có các chứng thư như thường lệ, phải được cấp bởi Đấng Bản Quyền địa phương buộc ai cũng phải có theo (G.L.c.544§2) không ?

  b) Có các chưng thư riêng đòi người đã ở Chủng viện hay ở Học viện nào tương tư như thế phải có, hay đòi người đã ở nhà Thử, nhà Tập của Dòng nào phải có và các chứng thư ấy có được chính Bề Trên Chủng viện hay Bề Trên Dòng cho với lời thề không? (§3)

   c) Có các chứng thư đòi Thầy Tư giáo hay người đã khấn Dòng phải có không? (§4 §5).

141– Ngoài những văn kiện và chứng thư nói chung do Giáo luật và Hiến pháp đòi, có cẩn thận điều tra thêm những gì cần thiết hay có lợi giúp cho để xét đoán chắc chắn hơn về ơn ThiênTriệu và về khuynh hướng  của các Đệ-Tử không? (G.L.c. 544§6 ).

VỀ NHỮNG NGĂN TRỞ VÀ SỰ THÂU NHẬN

142– Đã phải xin những ơn chuẩn nào để thâu nhận chưa? Vì những ngăn trở nào, hay vì thiếu những điều kiện nào theo Giáo-luật hay Hiến pháp? Đã được ơn chuẩn mấy lần rồi? Ai cho?

143– Những lần thâu nhận có do Bề trên có thẩm quyền không? Có giữ Giáo luật (c.543) không?

VỀ NHÀ TẬP

144– Trước mỗi khi thành lập hay di chuyển nhà Tập, có được phép của hai Đấng Bản Quyền: Đấng nơi định đến và Đấng nơi có nhà Mẹ không?

145– Trong nhà Tập có giữ luật Dòng nhiệm nhặt không?

146– Trong nhà Tập, các Bề Trên có cắt đặt, hay làm thinh cho cắt đặt các Tu sĩ thiếu gương mẫu kỷ luật không? (G.L.c 554 §3).

BẮT ĐẦU VÀO NHÀ TẬP

147– Các thử sinh có cấm phòng trước khi vào nhà Tập đúng số ngày đã ấn địng trong Giáo luật (c. 541) không?

148– Khi nhận vào nhà Tập có giữ cẩn thận những lễ nghi và luật lệ không? (G.L.c. 553).

VỀ TIỀN ĂN Ở VÀ PHÍ TỐN Ở NHÀ THỬ VÀ NHÀ TẬP

149– Hiến pháp có cho nhà Dòng được thu tiền lệ phí không? Hay có thói quen làm giấy giao kèo rõ ràng cho biết nhà Dòng có quyền đòi Thử sinh và Tập sinh phải nộp lệ phí về quần áo và ăn uống trong kỳ Thử Tập không? G.L.c. 570).

150– Ai đã ấn định số tiền lệ phí này?

151– Có quá lạm dụng mà lui hoãn ngày khấn lại, chỉ vì chưa trả tiền lệ phí kỳ Thử và kỳ Tập không?

152– Mỗi Tập sinh, ngay từ khi bắt đầu vào nhà Tập, có sách nói đầy đủ về Hiến-pháp không?

VỀ KỶ LUẬT NHÀ TẬP

153– Theo Giáo-luật và Hiến-pháp, Có tách biệt tập sinh xa cách người Khấn không? Có dung túng sự tiếp xúc liên lạc vô kỷ luật giữ Tập sinh và người Khấn không? (G.L.c.564§1§2).

154– Tất cả các Tập sinh trước khi Khấn, có kỳ Tập một năm trọn và liên tục (không kể ngày đầu) trong nhà Tập hợp pháp, dưới sự săn sóc và hướng dẫn của người Giáo tập không (cc. 555 §1 ; 556, 557).

155– Kỳ Tập có bị kéo dài ra hay rút ngắn lại không đúng với Giáo-luật và Hiến-pháp không? Đã thêm bớt bao nhiêu lâu? và ai đã cho phép? (c. 571§2).

VỀ SỰ COI SÓC NHÀ TẬP

156– Trong mỗi nhà Tập, luôn luôn có một người Giáo Tập được chính thức chỉ định hay chọn bầu không? (c.560).

157– Người Giáo tập và Hiệp trợ có đủ tư cách và điều kiện theo Giáo luật (c. 559 §1§2) và Hiến-pháp đòi không? hay đã phải xin và được ơn chuẩn gì rồi?

158– Người Giáo tập và người hiệp trợ có được rảnh rỗi mọi việc, hoặc trong nhà hoặc ở ngoài, ngăn trở đến việc coi sóc các tập sinh không? (G.L.c. 559 §3).

159– Theo đúng Giáo-luật (c. 561) và Hiến-pháp, dưới sự kiểm soát và hướng dẫn của Bề Trên Cả và các Vị Kinh-Lý.Người Giáo-tập, có được quyền và thi hành quyền đầy đủ để hướng dẫn và huấn-luyện Tập-sinh không?

160– Tất cả những người Giáo tập có chu toàn trách nhiệm một cách đầy đủ (theo G.L.c. 562) không? Có luôn luôn ở trong nhà Tập không?

 *161– Người Giáo Tập và người Hiệp trợ có theo Giáo luật (c. 891) kiêng giải tội cho Tập sinh không? (trừ khi họ tự ý xin).

VỀ SỰ ĐÀO TẠO TINH THẦN TẬP SINH

162– Trong suốt năm tập đầu cũng gọi là “ năm tập Giáo luật”, các Tập sinh, theo Giáo luật (c. 556 §1-2) dưới sự hướng dẫn của người Giáo tập, có chuyên chăm duy về việc đạo đức và các việc khác thích hợp cho Tập sinh không? Hay trái lại đã đi giải tội, đi giảng giải và làm các việc khác ở ngoài? Hay đã vùi đầu vào văn chương, khoa học, nghệ thuật (G.L.c.565 c quá mức Thánh Bộ cho Phép chăng?

163– Trong suốt năm tập thứ hai, hay thời gian được ấn định sau năm tập đầu, có giữ các qui luật nói trong “ Huấn thị của Thánh Bộ Tu sĩ ra ngày 3 -11 – 1921” không?

a) Về cách làm những công việc ngoài của Dòng (nn I,II) thế nào?

b) Về lý do để được sai người Tập sinh đi làm việc ở nhà khác ngoài nhà Tập (n.III) thế nào?

c) Về việc trở lại nhà Tập dọn mình 2 tháng trước khi khấn (n.IV) thế nào?

 CHÚ Ý: Cần biết đại ý về Huấn thị của Thánh Bộ Tu sĩ ra ngày 3 – 11 – 1921 để biết thi hành về năm Tập II và làm bá cáo.

I – “ Thánh Bộ truyền: dù là năm tập thứ hai, thì trong năm ấy, việc huấn luyện tinh thần cũng phải có chân trong hết mọi việc, bất cứ là việc gì.”

Chú thích: Năm tập thứ hai hẳn là có ý để tìm biết xem Tập sinh có khuynh hướng vào những việc gì của Dòng , nhưng nhất là để họ được huấn luyện tinh thần cho chắc trước khi ra làm việc thực sự ở ngoài – Dạy học, coi kẻ liệt v.v… họ sẽ chia trí khó kết hợp với Chúa, nhưng sẽ làm cho họ chắc chắn hơn về đời sống nội tâm, và làm cho họ biết tháo vát, có sáng kiến biến chế mọi việc thành phương thế thánh hóa họ – Trong năm tập hai, phải theo đuổi cặn kẽ hết sức, tinh thần cầu nguyện – từ bỏ ý riêng và thắng dẹp tính xấu – phải khôn ngoan tiến tới phối hợp sự cầu nguyện và thánh hóa bản thân với công việc bên ngoài.

II – Thánh Bộ bằng lòng cho Tập sinh (năm hai) được làm việc của Dòng, nếu Hiến-pháp đòi. Nhưng mục đích theo đuổi phải là: Huấn luyện cho Tập sinh.

Tập cho Tập sinh làm việc Dòng trong năm Tập hai như thế quả là có lợi – Tập sinh sẽ có kinh nghiệm về những khó khăn thực tế trong đời sống – Họ sẽ biết được ưu khuyết điểm của họ trong lúc sẵn có phương tiện để thánh hóa họ. Có chủ ý như thế, thì các việc ngoài mới nói lên được tại sao Thánh bộ vừa cho phép vừa buộc ngặt như vậy.

a)  Cho nên không được giao cho Tập sinh đóng vai chính trong một trách nhiệm nào.

Chú thích: Tập sinh không được làm giáo viên chính một lớp học hay làm giám-thị một phân khu – không được đặt Tập sinh làm y tá thường xuyên trong một bênh viện hay làm Giám thị trông coi một phòng bệnh nhân v.v… Cũng không được ( dù là tạm thời) giao trách nhiệm cho Tập sinh thay chân một Giáo viên, để đến nỗi phải gián đoạn chương trình năm tập – ( những tỷ dụ trên đây chính là những tỷ dụ nói trong bản văn của “ Huấn-thị”.)

b) Để được tập việc cho Tập sinh trong một nhà nào ngoài nhà Tập, phải có một lý do đặc biệt quan hệ do chính chương trình huấn luyện tập sinh đòi buộc. “Không bao giờ được vịn kế gì khác, lấy lẽ vì ở đấy có nhà Dòng, hay vì lợi ích cho nhà Dòng v.v… như thí dụ: vì thiếu Tu sĩ nên phải lấy Tập sinh đi làm việc cho Dòng, đó không phải là lẽ đích đáng.

Chú thích: Các Đấng Bản Quyền chỉ có quyền chuẩn chước luật chung Giáo Hội trong những trường hợp mà Tòa thánh quên chuẩn chước (G.L.c. 82) nên cần phải biết các điều trên đây để đừng xin Đấng Bản Quyền chuẩn chước kẻo vô ích. Lại khi có nhà làm việc của nhà Dòng liền ngay với nhà Tập hay ở gần nhà Tập cũng không được vịn lẽ đó mà đưa Tập sinh vào làm việc ở nhà phụ đó.

III– Hai tháng trước khi khấn, các Tập sinh phải bỏ hết việc ngoài, để chuẩn bị cho việc trọng đại, ở trong chính nhà Tập.

Chú thích: Điều buộc này xét kỹ ra cũng đủ để biết đừng giao cho Tập sinh trách nhiệm gì quan hệ – Nếu không cứ, mỗi năm sẽ thêm, và liều mình làm đảo lộn cả chương trình học tập và huấn luyện tinh thần.

IV– Phải giữ ngặt các điều trong “huấn thị” khi đưa Tập sinh đi làm việc ở  một nhà khác ngoài nhà Tập. Các việc làm ở nhà liền với nhà Tập có thể hiểu rộng hơn.

Cần phải chú ý: Ích lợi của Dòng hiểu cho đúng phải là biết hy sinh (ít là tạm thời) để việc hoạt động bên ngoài đừng mạnh hơn việc huấn luyện tu sĩ bên trong. Việc siêu nhiên thực hiện  được do một ít người đầy tinh thần Ơn Thiên Triệu, bao giờ cũng hơn các kết quả bên ngoài (có khi sán lạn) đạt được bởi một số đông Tu-sĩ kém nhân đức, thiếu huấn luyện, bận bịu vào thành công bên ngoài hơn kết quả bên trong của việc Tông đồ.

  • Huấn thị này buộc hết các Hội dòng (congregatio) (dù là Dòng địa phận) mà Hiến pháp buộc hai năm Tập.
  • Không buộc Dòng (Ordo).
  • Nếu Hiến pháp không buộc rõ phải có năm Tập hai cho được khấn thành, thì Đấng Bản Quyền có thể chuẩn chước năm Tập hai – Nhưng nếu thật biết chú trọng về việc huấn luyện, thì đừng xin Đấng Bản Quyền ban ơn chuẩn làm gì, trừ khi có trường hợp nào đặc biệt lắm mới nên.
  • Nếu Hiến pháp Dòng nào buộc 18 tháng ở nhà Tập, thì sáu tháng sau kể như là năm Tập thứ hai đủ 12 tháng ( đã nói trong số 3 ở trên).

(J. Creusen S.J.,Religieuses, trang 162 – 165).

VỀ VĂN KIỆN PHẢI LÀM TRƯỚC KHI KHẤN

164– Chiếu theo giáo luật c. 569 §1, tất cả các Tập sinh, trước khi khấn đơn lần thứ nhất, có được thong dong tự do làm giấy nhượng quyền quản trị tài sản không? Có nhượng quyền hay ủy quyền xử dụng và hưởng hoa lợi về những của ấy không?

165– Trong trường hợp việc nhượng quyền và ủy quyền ấy không làm trước khi khấn, hay đã làm, nhưng về sau lại có những của thêm nữa, thì sau khi khấn có làm, hay có làm thêm nữa không? (G.L.c 569 §2)

166– Những khi thay đổi việc nhượng quyền hay ủy quyền sau khi khấn, có luôn luôn làm theo đúng Giáo luật c. 580 §3 không?

167– a) Những Tập sinh trước khi khấn tạm lần thứ nhất, có được thong dong tự do, theo hình thức đích đáng chắc chắn có hiệu lực ở tòa đời, mà làm tờ di chúc về của cải, của hiện đang có hay sẽ có sau này theo (G.L.c. 569 §3) không?

          b) Tờ di chúc đó, sau có đưa ra tòa đời chứng thực cho có hiệu lực không ? (G.L.c. 569 §3).

168– Sau khi đã khấn, những lần thay đổi bản di chúc đó, có làm theo đúng Giáo luật (c. 583, 20 ) không?

169– Các văn kiện theo số ( 167 a và2 b) trên đây, có được giữ cẩn thận trong công hàm không?

VỀ VIỆC NHẬN VÀ TUYÊN KHẤN

170– Bề Trên Cả và Hội Đồng Tổng Cố vấn có đề phòng nghiêm nhặt, cẩn thận luôn luôn về việc nhận cho khấn không? Có đặt mực thước luật lệ riêng về vấn đề này không?

171– Lần khấn đầu tiên có tuyên khấn thành sự và hợp pháp theo Giáo Luật và Hiến Pháp ở trong nhà Tập (c. 574, §1) và có cấm phòng trước đủ tám ngày trọn không? (G.L.cc. 572, 573, 575 )

172– Có giữ lễ nghi đã được ấn định về việc tuyên khấn và có làm thành văn kiện lưu công hàm không? G.L.c 576)

VỀ SỰ KHẢO KHẤN

+173–  Bề Trên Cả hay Bề Trên khác đại diện Ngài, khi nhận người vào nhà Tập, khấn tạm lần đầu, và khấn vĩnh viễn, có báo trước cho Đấng Bản Quyền địa phương hai tháng trước theo (G.L.c, 552 §1) để chính Ngài hay Đấng Ngài ủy đến theo Giáo luật, tra hỏi thong dong và lương tâm của Thử sinh hay Tập sinh hay Khấn sinh không? (G.L.c. 552, §2).

+174 – Việc khảo khấn bắt buộc này có được thi hành đều đặn luôn luôn không?

VỀ CỦA VU QUY – BẮT BUỘC VÀ CHƯỚC CHUẨN CUA VU QUY

+175- Hiến pháp Dòng có bắt buộc phài có của vu quy không ? Hay trái lại được hòan toàn, hoặc được phần nào tự do? G.L.c. 547 §3).

+176– Việc nộp của vu quy có làm theo đúng Giáo Luật (c. 547, §2) và Hiến pháp không?

VỀ NƠI ĐỂ, GIỮ GÌN, QUẢN TRỊ VÀ HOÀN LẠI CỦA VU QUY

+177– Bề Trên cả có lấy của vu quy sinh lợi ngay sau khi tu sĩ đã khấn lần đầu, với sự đồng ý của Ban tổng Cố Vấn và phép của Đấng Bản Quyền địa phương, nơi giữ của vu quy không? (G.L.c.549).

+178– Có lấy của vu quy mà tiêu dùng hay cầm cố cách nào trước khi chị dòng chết không? Ai đã cho phép làm như thế? Của vu quy đã tiêu dùng hay đưa cầm cố, dù có phép đích đáng có được hoàn lại không ? Hiện nay những của ấy ở trong tình trạng nào? (G.L.c.549)

+179– Của vu quy được quản trị ở đâu? và bằng cách nào? Trong việc quản trị có giữ đúng Giáo luật (cc. 535 §2 ; 550) không?

+180- Tất cả những của đã đưa đến dưới danh hiệu là vu quy, dù quá số Hiến-pháp ấn định, hay dù Dòng không buộc nộp của vu quy ấy, nhưng có nhận, có đặt sinh lợi và quản trị v.v…theo đúng luật như của vu quy không?

+181– Trong trường hợp một nữ tu, bất cứ vì lý do nào bỏ Dòng hay sang Dòng khác, có theo Giáo luật, hoàn lại cho họ của vu quy ( không kể lãi đã được), với tất cả những đồ đạc xưa đã đem vào Dòng mà lúc bỏ Dòng cũng còn, không? ( G.L.cc. 551 ; 570 §2).

+182– Cũng thế, có hoàn lại của xưa họ đã tự ý đem vào Dòng, có ý kiến thêm vào của vu quy, dù của ấy quá số Hiến-pháp đã ấn định không?

+183– Trường hợp nữ tu bỏ Dòng mà không có của vu quy, hay của vu quy ít quá, và không có của gì riêng khác để sinh sống, nhà Dòng có vì đức Bác-ái theo Gíao-luật (C.643 §2) mà cấp dưỡng cho họ những gì cần thiết để họ được trở về với gia đình cách chắc chắn, xứng đáng, và sống hẳn hoi trong ít lâu không?

VỀ SỰ KHẤN DÒNG VÀ KHẤN LẠI

184– Đã bao giờ phải xin những ơn chuẩn để khấn chưa? Là những ơn chuẩn nào?

185– Đã bao nhiêu lần phải xin ơn “hữu hiệu hóa” sau khi đã khấn (vì lời khấn không thành)? là những ơn nào?

186– Lời khấn đơn do giáo luật (c. 574 §1) và Hiến-pháp ấn định, có được lập lại sau khi hết hạn khấn (G.L.c. 577 §1) như Giáo luật (c. 577 §2) buộc, để không một người nào có một lúc nào là không ở trong lời khấn không?

187– Có bao nhiêu lần lời khấn đơn đã kéo dài quá 6 năm như Giáo luật định? Ai đã cho kéo dài như thế? (G.L.c. 574 §2)

188– Trái lại đã mấy lần rút ngắn thời gian khấn tạm do Giáo-luật (c. 174 §1) hay Hiến pháp đã ấn định?

VỀ ĐỜI SỐNG VÀ KỶ LUẬT TU TRÌ

VỀ LỜI KHẤN – VỀ SỰ KHÓ KHĂN VÀ ĐỜI SỐNG CHUNG

189- Ở mọi nơi nhất là ở nhà Tập và Học viện (cc. 554§3 , 587§2), có hoàn toàn sống đời sống chung theo Giáo luật c. 594, Quy luật và Hiến pháp không?

190– Đã làm gì tích cực, và hiện đang làm gì để bảo đảm và cổ động Đức Khó Khăn và tinh thần khó khăn?

191– Các Bề Trên và các ủy viên có phận sự, có vì Đức Bác Ái trong Dòng, và để tránh những dịp lỗi Đức Khó Khăn, mà cấp phát những điều cần thiết xứng hợp trong phạm vi Đức Khó khăn như của ăn, áo mặc cho các Tu sĩ không?

192– Có làm ngơ dung thứ cho các tu sĩ đi xin và nhận của người ngoài không?

193– Có ai phàn nàn ca thán về điểm này không ? Nếu có, có xem xét lại cẩn thận để ngăn chặn những lạm dụng của Bề Trên, cũng như của Bề dưới cách nghiêm khắc không?

194– Có lo săn sóc đặc biệt những tu sĩ ốm đau hay già cả không? Có theo tình phụ mẫu cấp phát những cần thiết phần xác cũng như phần hồn cho xứng hợp trong phạm vi Đức Khó Khăn, để họ khỏi thiếu những gì cần thiết về sức khỏe phần xác, hay an ủi phần hồn không?

195– Tất cả những người, ốm già, có được chăm sóc ngay tại nhà Dòng không? Nếu có trường hợp cần thiết đặc biệt phải đi điều trị ở ngoài nhà, thì họ có được thăm nom chăm sóc không?

196– Có lập nhà xứng hợp dành riêng cho các tu sĩ bệnh tật già yếu không?

VỀ ĐỨC SẠCH SẼ VÀ SỰ CANH PHÒNG

197– Hết thảy các Bề Trên có thận trọng theo lương tâm phòng ngừa tất cả những gì ở trong nhà Dòng cũng như ở ngoài, có thể gây nên cheo leo nguy hiểm cho Đức trong sạch của người Dòng không?

a) Có những sự thân mật xuồng xã ở nhà khách, hoặc với những người khác giới, hoặc ở nơi khác với thanh thiếu niên và với trẻ em không?
b) Về thư từ thế nào?
c) Về việc đọc sách vở báo chí không thích hợp với tu sĩ thế nào?
d) Có sự lạm dụng điện thoại (dây nói) không? Có để nghe vô tuyến điện thoại (Radio) v.v. tự do không kiểm soát không?

198– Các hội đồng và các Bề Trên Cả có công bố những qui tắc luật lệ gì về cách dùng (Radio) chung, riêng không? (Hãy nộp trình các văn thư ấy).

199– Nếu có tu sĩ nào “Xin Chúa cho đừng có” đã phạm tội gì về điều răn thứ sáu  với những học sinh vị thành niên ở dưới quyền coi sóc của họ, các Bề Trên có lập tức cắt đứt dịp đó, sửa phạt phạm nhân, và chăm chú theo dõi tính nết của họ về sau không? – Gặp những nố thật quan hệ, các bề Trên có trình với Đấng Bản Quyền địa phương không?

200– Có trung thành giữ những điều Giáo luật và Hiến Pháp nói về luật nội vi không ? (GL 589 -559, 604) Có những lạm dụng về vấn đề nội vi không?

201– Các Bề Trên có dung túng trái với Quy luật Hiến Pháp, cho gặp khách mà không cắt người đi theo không? Có hay cho gặp gỡ truyện trò dài dòng lâu giờ với người ngoài không? nhất là khi biết rõ là vô ích, hay có thể trở thành nguy hiểm, làm tháo thứ sự yên tĩnh trong nhà cả đến giờ “lặng ngặt” làm ngăn trở việc đạo đức va những giờ chung khác nói chung là làm thiệt hại cho tinh thần tu sĩ?

202– a) Nhà khách có xếp đặt cách nào khéo để người ở ngoài có thể nom vào trong nhà khách được không?

          b) Việc gặp khách có được quy định theo Hiến Pháp và sự khôn ngoan cho đúng bậc dòng không?

203– Chính các Bề Trên có giữ cặn kẽ, va dạy bề dưới phải giữ tất cả những điều Hiến Pháp buộc về việc tu sĩ đi ra ngoài nhà, và việc tu sĩ tiếp gặp người ngòai không ?

+204– Ngòai trường hợp khẩn thiết đã được khôn ngoan đề phòng, các Bề Trên có chỉ một người đi theo nữ tu khi đi ra ngoài, nhất là đi thăm không ? (G.L.c. 607).

+205– Nhà dành riêng cho Cha Tuyên-Úy, Cha giải tội, Cha giảng, có lối vào riêng biệt hẳn, không chung chạ gì với bên trong nhà Dòng không?

VỀ ĐỨC VÂNG LỜI

206– Có giữ kỷ luật Dòng hoàn toàn không? Trách nhiệm các Bề Trên có thực hiện được dễ dàng vì các bề dưới ngoan ngoãn thuần thục không?

207– Thường thường có phải dùng đến (lệnh nghi thức) nhân danh Đức Vâng Lời không?

208– Những lệnh nghi thức ấy có được ban bố đích đáng theo Hiến Pháp, và trong nhữ việc quan hệ  mà thôi không?

VỀ QUY LUẬT VÀ HIẾN PHÁP

209– Có trung thành giữ Quy luật và Hiến Pháp không? (G.L.c 593)

210– Có đọc Quy-luật và Hiến Pháp ở nơi chung trong thời gian đã chỉ định không? (G.L.c. 509 §2; I0).

211– Có khuyến khích đọc riêng Quy Luật và Hiến pháp không?

212 – a) Có những tục lệ trái với Quy luật và Hiến-pháp không?

        b) Các Bề Trên có dung túng những tệ tục ấy không? Trái lại, có hết sức ngăn ngừa và trừ căn những tệ tục ấy không?

213– Kể từ bản tường trình lần trước, có những tệ tục nào thêm hơn, hay ăn sâu hơn, và ở những nơi nào?

VỀ Y-PHỤC TU-SĨ

214– Dòng có y-phục riêng không? (c. 596)

215– Có thay đổi y phục mà không có phép hợp pháp không? hay đã bỏ? Ai đã cho phép bỏ?

216– Y phục hiện nay cò đúng với Qui-luật và Hiến Pháp không? Có đồng phục một kiểu như nhau không? (trừ những điểm khác biệt đã được luật nhận cho mỗi bậc mỗi khác).

217– Luật mặc áo Dòng có giữ trung thành theo Giáo luật (c. 596) không?

218– Những Tu sĩ đã được phép ở ngoài nội vi có còn mặc áo Dòng không? (G.L.c. 639).

VỀ CÁC VIỆC ĐẠO ĐỨC

219– Các Bề Trên có cẩn thận lo cho các nhà chu toàn trung thành và xứng đáng các việc đạo đức như Hiến Pháp đã ấn định cho mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng và mỗi năm hay cho mỗi kỳ rõ rệt không?

220– Các Bề trên có săn sóc cho tất cả các tu sĩ:

a) Cấm phòng hàng năm không?
b) Dự Thánh lễ Misa hằng ngày, khi không bị cản trở không?
c) Nguyện ngắm hằng ngày không?
d) Hoàn thành cẩn thận các việc đạo đức khác do Quy-luật và Hiến Pháp buộc không? (c. 595§1, I0, 20)

221– Các Bề trên có lo cho tất cả các Tu sĩ có thể tham dự các giờ chung không?

222– Các Tu sĩ đã không tham dự giờ chung, hoặc vì ngăn trở bởi việc bổn phận, hoặc vì lý do gì chính đáng, hay có khi là lạm dụng, Bề trên có cho thì giờ cần thiết để họ có thể bù lại cho xứng đáng không?

223– Bề trên có chú ý xem xét để biết họ có bù lại thực sự tất cả những việc đó ra sao không?

VỀ ĐỨC BÁC ÁI TRONG DÒNG

224– Giữa người Dòng với nhau, và giữa Bề trên với bề dưới v.v…tinh thần bác ái chân chính có rõ rệt không?

225– Có nghiêm khắc sửa trị những lỗi phản nghịch đức Bác-ái không ? Có ngăn trở gì đặc biệt về Đức thương yêu không?

VỀ VIỆC ĐỌC SÁCH

226– Các Bề trên có để ý xem xét đến sách vở, viết hay in, không tuyệt đối chắc chắn không?

227– Các sách thiêng liêng các tu sĩ dùng riêng, có được Giáo-Hội kiểm duyệt theo Giáo luật không? Có thích hợp với đòi hỏi của bậc Dòng và ích lợi thiêng liêng của Mỗi tu-sĩ đã được phép đọc không?

MỤC III: VỀ NHỮNG NGƯỜI XUẤT DÒNG, BỊ LOẠI VÀ NHỮNG NGƯỜI BỎ DÒNG

VỀ NHỮNG NGƯỜI XUẤT DÒNG 

228– a) Dòng đã có bao nhiêu người không khấn lại khi hết hạn, vì tự ý không khấn, hay vì bị loại?

          b) Bao nhiêu người khấn tạm bỏ Dòng đang trong kỳ khấn ? Mấy người khấn trọn đời bỏ?

229– Những người xuất hoặc tự họ xin, hoặc họ đồng ý, có bị cưỡng bách bỏ Dòng trước khi có lệnh thải hồi, hay đã cho phép họ hồi tục khi không có lý do hệ trọng, không dè dặt chi cả không?

230– Có ai sang Dòng khác không? Bao nhiêu người?

VỀ NHỮNG NGƯỜI PHẢN BỘI VÀ NHỮNG NGƯỜI ĐÀO TẨU 

231 – a) Trong vòng năm năm nay, có ai phản bội và đào tẩu không? Mấy người?

          b) Dòng hay Tu hội có giữ những khoản luật Giáo Hội buộc về người phản bội và người đào tẩu để tìm họ lại không? (c. 645, §2) Nếu tìm lại không được, có theo Giáo luật mà xử, để điều kiện pháp lý được minh bạch rõ ràng không? Có giữ các Điều luật Giáo Hội buộc, mà xử với những người trở lại không ? (G.L.cc. 2385 ; 2386) Có săn sóc họ cẩn thận về đàng thiêng liêng không?

VỀ NHỮNG NGƯỜI BỊ LOẠI DO LỆNH HỒI TỤC VÀ NHỮNG NGƯỜI KHÔNG ĐƯỢC NHẬN VÀO KHẤN

232– a) Đã bao nhiêu người khấn tạm và khấn trọn đời bị loại từ ngày làm bản tường trình lần trước đến giờ?

        b) Để loại những Tu sĩ khấn tạm hay khấn trọn đời, có giữ luật Giáo-Hội (cc. 647 §2, 40 ; 649 ; 672) và Hiến Pháp không?

         c) Khi không nhận người đã khấn tạm vào khấn tạm lại, hay vào khấn trọn đời, có giữ Giáo-luật (c. 637) và Hiến Pháp không?

233– Có cưỡng bách người khấn tạm bị loại, phải bỏ Dòng, khi thời hạn họ được khiếu nại trong 10 ngày theo Giáo luật (c. 647 §2) đang còn không? Có bắt ép những người khấn trọn đời bỏ Dòng, trước khi Đấng Bản Quyền địa phương xác nhận lệnh thải hồi không ? (cc. 650 §2, 10, 652 §1).

234– Những người bị loại có được tháo lời khấn không? (c.669 §1). Nếu còn lời khấn, nhà Dòng có lo gì về tình trạng của họ không? (c. 672 §1).

VỀ NHỮNG NGƯỜI BỊ ĐUỔI TỨC KHẮC VÀ NHỮNG NGƯỜI BỊ ĐÀO THẢI 

235– Đã có những nố nào, Tu sĩ khấn tạm cũng như khấn trọn đời bị thải về đời vì gương mù nặng, hay nguy hiểm nặng theo Giáo luật (cc. 653, 668), hoặc bị loại tức khắc theo Giáo luật (c. 646) , hoặc vì lý do nào khác nữa không?

236– Có làm ngay các điều theo Giáo luật (cc. 646 §2; 653; 668) khi có người bị loại tức khắc hay bị đào thải về đời không?

237– Có trường hợp nào còn để treo lửng không?

*238– Có những nố người đã chịu chức bậc Thượng bị hồi tục không? Là những nố nào? Mấy lần vì họ xin, và mấy lần về trừng phạt?

VỀ CÁC TU SĨ ĐƯỢC PHÉP Ở NGOÀI NỘI VI 

239– Có những nố được phép ở ngoài nôi vi không ? Bao nhiêu ? Lý do có được cân nhắc cách cẩn thận trước mặt Chúa và theo lương tâm, trước khi đệ đơn xin, hay thi hành phúc thư không?

240– Nhà Dòng có lo:

a) Xin phép lại đúng lúc, nếu vần phải triển hạn không?
b) Để những người sống ngoài nội vi được ăn ở cho xứng đáng là Tu sĩ, và sớm trở lại sống chung trong Dòng không?

241– Nhà Dòng có chăm lo đến những người hồi tục để thử không? (Nếu hết kỳ hạn 3 năm, mà kỳ thử không được không được triển hạn hay không được Đấng Bản Quyền nhận) nhà Dòng có lo cho họ trở về nhà Dòng không?

VỀ SỰ ĐI VẮNG NHÀ

242– Các Bề Trên có chăm lo cẩn thận để các người Dòng chỉ ở ngoài nhà Dòng vì lẽ đích đáng quan trọng, và phải nhanh chóng hết sức theo Hiến Pháp không? (G.L.c. 606 §2).

243– Những khi ở ngoài nhà Dòng quá sáu tháng. (trừ khi vì đi học hay công tác theo Giáo luật và Hiến Pháp, có luôn luôn xin phép Tòa Thánh không? (G.L.c. 606 §2).

244– Có được lấy lẽ hay vịn nghỉ hè, mà ở nhà cha mẹ hay ở ngoài nhà Dòng không?

VỀ NHỮNG NGƯỜI QUA ĐỜI

245– Những việc giúp đỡ đòi buộc để cầu nguyện cho kẻ qua đời, có làm cách trung thành mau mắn ngay cho tất cả những người đã qua đời không?

MỤC  IV: VỀ NHỮNG BẬC KHÁC NHAU và ĐỊA VỊ CỦA CÁC TU SĨ

§I. VỀ GIÁO SĨ (Xem lại chỗ nói về việc Huấn luyện và Học Hành)

§2. VỀ BẬC TRỢ SĨ HAY BẬC GIÚP VIỆC

Về việc giáo dục và huấn luyện

246– Các Bề Trên có lo cho các Trợ sĩ được học Giáo lý Công Giáo theo Giáo luật (c. 509 §2, 20) không? Có chăm lo cho họ cả trước khi khấn và sau khi khấn không? Nhất là trong những năm đầu, có lo huấn luyện cho họ về Đức dục, Trí dục, cách ăn ở và chuyên môn theo việc sẽ ủy cho họ không?

247– Có để cho các trợ sĩ làm những công việc không thích hợp với bậc Tu trì không?

248– Các Bề Trên có theo tình phụ  mẫu săn sóc tới sức khỏe phần xác cho các trợ sĩ hay người giúp việc không?

§3 VỀ NHỮNG NGƯỜI PHẢI ĐI QUÂN DỊCH

Về việc khấn của những người phải đi quân dịch

Để hiểu, các câu hỏi : 249 ; 250 ; 251 ; 252 ; 253 va 254 sau này, nên biết về việc khấn của người đi quân dịch sau :

Chiếu theo sắc dụ của Thánh Bộ Tu sĩ sau đây:

INTER RELIQUAS ra ngày 1 – 1 – 1911.

ROMANA et ALIARUM ra ngày 1 – 2 – 1912.

Và các lời Thánh Bộ giải thích ngày : (15 – 7 – 1919)

                                                             (30 – 11 – 1919)

                                                             (30 – 3 – 1943)

a) Các Tập sinh hết năm tập chỉ khấn cho đến khi bị gọi đi Quân dịch.

b) Đến lúc nhập ngũ là hết Lời Khấn, nhưng vẫn là người Dòng và phải vâng lời Bề Trên và buộc Bề Trên phải tìm mọi cách để coi sóc người ấy bất cứ ở đâu và bằng phương tiện nào, để sau biết mà nhận người ấy lại, cho khấn hay loại. Và cũng buộc người kia phải tìm cách liên lạc với Bề TRên hay Đấng Ngài chỉ định thay Ngài. Họ được tự ý rút lui. Hồ sơ phải cẩn thận.

c) Hết hạn Quân dịch, người kia phải về thẳng ngay nhà Dòng, cấm phòng để Khấn tạm lại ít là 1 năm nữa hay là một thời gian tương đương với thời gian Quân dịch, nếu thời gian Quân dịch ngắn, sau đó mới được Khấn trọn đời.

Ai khấn trọn đời trước khi đi quân dịch – dù có lòng ngay nghĩ mình sẽ không phải đi Quân dịch cũng không thành.

d) Về cách tính 3 năm khấn tạm trước để khấn trọn đời cho thành.

Theo Giáo luật c. 574, thì lấy thời gian đã khấn trước khi đi Quân dịch, cộng với thời gian khấn lại khi đi quân dịch về ( thời gian đi Quân dịch không được tính vào)

e)  Nếu khi đã đi Quân dịch về, và đã khấn lại tiếp rồi, lại bị gọi đi nữa, mà trong kỳ này cũng đã đủ 3 năm khấn tạm rồi, thì được khấn trọn đời trước hay trong thời kỳ nhập ngũ lần thư hai này.

( ADRIEN  CANCE  P. S. S. Le codo de Droit canonique T. II p. 104. 106)

*249– Lời Khấn tạm của những người bị đi Quân dịch hay đi làm việc gì khác giống như thế, có được thi hành đúng với những sắc dụ của Tòa Thánh không?

*250– Có những người trẻ tuổi có thể bị gọi đi Quân dịch hay đi làm việc gì khác giống như thế, khấn trọn đời trước khi bị gọi lần thứ nhất không?

VỀ NHỮNG TU SĨ ĐANG ĐI QUÂN DỊCH

*251– a) Các Bề Trên có thận trọng để ý đến những người nhà Dòng đi Quân dịch không? Có theo dõi xem xét tính nết họ không? Có năng liên lạc với họ, đòi họ phải cứ kỳ hẹn mà tường trình về cách ăn ở sinh hoạt và việc đạo đức v.v. không?

            b) Đã dùng những phương thế nào riêng để làm cho họ được kiên gan bền chí theo ơn Thiên triệu không?

*252– Trong trường hợp có lý do chính đáng loại họ hay tự ý họ xin bỏ Dòng, Bề Trên Cả có theo đúng quy tắc đã ấn định, mà tiến hành mà giữ đầy đủ nguyên vẹn những hồ sơ ở trong công hàm không?

VỀ NGƯỜI KHẤN TẠM PHẢI KHẤN LẠI SAU KHI ĐI QUÂN DỊCH VỀ, VÀ VIỆC KHẤN TRỌN ĐỜI

*253– Để nhận người khấn tạm đi Quân dịch về vào khấn lại, có giữ các điều đã ấn định về việc đó theo Giáo luật và các Sắc dụ không?

*254– Thời gian buộc phải khấn tạm sau khi đi Quân dịch về, có giữ đầy đủ không? Thời gian khấn tạm ấn định do Giáo luật và Hiến pháp buộc trước khi khấn trọn đời, có giữ giọn không?

CHƯƠNG  III: VỀ VIỆC LÀM VÀ CÔNG TÁC CỦA TU SĨ

MỤC I: VỀ CÁC VIỆC NÓI CHUNG

VỀ MỤC ĐÍCH RIÊNG VÀ VỀ CÔNG VIỆC CỦA DÒNG NÓI CHUNG

255– Các việc riêng của Dòng có bị bỏ rơi hay bị coi thường không?

256– Có làm các việc không có trong mục đích riêng của Dòng không? Ai cho phép?

VỀ SỰ LẠM DỤNG TRONG KHI THI HÀNH NHIỆM VỤ

257– Trong năm năm nay có những sự lạm dụng trong việc thi hành nhiệm vụ không? Là những gì?

258– Có cẩn thận tránh tất cả những hình thức biển lận hà tiện khi thi hành khi thi hành nhiệm vụ không?

259– Trước khi nhà Dòng đi quyên tiền, có xin phép các nơi như Giáo luật (cc. 621, 622) và Hiến Pháp đòi không?

260– Cả khi đi ăn xin, có giữ Giáo luật (c. 623), những huấn dụ của Tòa-Thánh (G.L.c 624) và những quy tắc của Hiến Pháp Dòng không?

261– Có lẽ thật hay mượn lẽ đi làm việc mà tiếp xúc quá nhiều, quá đời với người thế gian, hay ở và ở lâu ngoài nhà Dòng không?

262– Đã dè dặt khôn ngoan như thế nào trong việc tiếp xúc với người đời, để tránh được hết mọi thiệt hại cho tu sĩ và gương mù cho người đời?

NHỮNG KHÓ KHĂN GẶP KHI LÀM VIỆC VỚI HÀNG GIÁO SĨ TRIỀU VÀ VỚI CÁC DÒNG KHÁC v.v.

263– Trong khi đi làm việc, có đụng chạm gì với các Bề Trên trong Giáo Hội? với Cha xứ và hàng Giáo sĩ Triều, với các Dòng khác? với các Cha Tuyên-Úy không? Những chống đối chính là gì? và xảy ra rõ rệt ở những nơi nào?

264– Các nguyên nhân đụng chạm ấy là gì? Có làm cách nào để tránh được không?

MỤC  II: VỀ CÁC VIỆC RIÊNG CỦA DÒNG

VỀ NHIÊM VỤ PHẢI THI HÀNH NƠI NHỮNG NGƯỜI NGOẠI GIÁO VÀ NGƯỜI ĐẠO RỐI

265– Đời sống Tu sĩ có bị tổn hại trong các nơi đi thi hành nhiệm vụ không? Vì lẽ gì?

266– Đã dùng cách thế nào rồi, hay không có thể áp dụng phương pháp nào để bảo đảm sự trung thành giữ luật Dòng và lo việc thánh hóa bản thân trong khi làm việc Tông đồ?

*267- Ở các nơi làm việc, Bế Trên Dòng với Bề Trên Giáo quyền có khác nhau không?

*268– Sự trùng hợp 2 trách nhiệm (Bề Trên Dòng và Giáo quyền sở tại) trong cùng 1 người có lợi không? hay trái lại đã gây nên phiền phức?

VỀ XỨ ( SỞ), NHÀ THỜ VÀ NƠI THÁNH

*269– Để sát nhập hay hợp nhất các giáo Xứ lại có giữ sắc lệnh của Tòa Thánh theo Giáo luật cc.452 §1; 1423 §2, để việc sát nhập hay hợp nhất đó được coi là hợp pháp không?

*270– Các xứ sát nhập với Dòng bằng hình thức nào? toàn quyền, tuyệt đối theo ý Tòa Thánh, hay tạm thời v.v. và từ khi nào? ( gửi bản sao sắc thư nếu có sắc thư riêng).

*271– Trước khi nhận mỗi một giáo xứ, có làm giấy hợp đồng với Đấng Bản Quyền địa phương ? (gởi bản sao các giấy hợp đồng đã làm trong vòng năm năm nay).

*272– Các Bề Trên có trông coi kiểm soát người Dòng đi làm Cha xứ và giúp đỡ cách nào không? (G.L.c. 631§1-2) và khi cần, có sửa bảo không?

*273– Dĩ nhiên phải giữ Giáo luật c. 505, nhưng trách nhiệm của Bề Trên nhà đôi khi có trùng hợp với trách nhiệm Cha Xứ, (Vì 1 cha vừa là Bề Trên dòng vừa là Cha Xứ) thì sự trùng hợp ấy có gây nên khó khăn không? hay trái lại được tiện lợi hơn?

*274– Các Đấng Bản Quyền địa phương có cậy nhờ Dòng coi nhà thờ hay nơi Thánh nào không? Với quyện hạn nào? Trong kỳ hẹn nào? Với điều kiện nào?

*275– Để kỷ luật Dòng khỏi bị tổn thương vì các Tu-sĩ Dòng đi làm việc ở các Xứ hay ở các nhà thờ công đã ủy cho, các Bề Trên có phòng ngừa thế nào không?

VỀ HỌC VIỆN, NHÀ TRƯỜNG, CHỦNG VIỆN

*276– Nhà Dòng có được ủy cho coi các Chủng-viện Giáo- sĩ không? Dưới hình thức nào? (gửi các tài liệu và các giấy hợp đồng đã làm trong thời gian năm năm nay).

*277– Trong các Chủng-viện như thế, có gặp những khó khăn gì với Đấng Bản Quyền (hoặc về đời sống và luạt Dòng, hoặc về cách điều khiển Chủng viện) không?

*278– Đã dùng những phương thế kế hoạch nào để học sinh được hấp thụ một nền học thức lành mạnh chắc chắn và một nền giáo-dục đạo đức sốt sắng?

279– Có những nhà lưu trú cho học sinh trường công, trọ không?

280–Trường hợp học sinh đi học trường công, có xem sóc cẩn thận xem các trường ấy có chắc chắn cả hai đường trí dục và đức dục không? Có đặc biệt chú ý về Giáo lý và Giáo dục theo Giáo lý không? Nếu nhà trường có điều gì thiếu sót, có lo bổ khuyết cho học sinh không?

+281– Có trường hỗn hợp không? có giữ các điếu Đấng Bản Quyền truyền về hạn tuổi phải nhất định không? (Nếu quá hạn tuổi ấy, nam sinh không được nhận hay ở lại trường nữa).

282– Các Bề Trên có lo lắng ráo riết cho hiệu trưởng, giám thị, giáo viên, giáo sư được chuẩn bị xứng đáng vào công việc của họ không?

291– Các Bề Trên có hết sức để giữ gìn sức khỏe cho các tu sĩ phải làm việc ấy, cho họ ăn uống và ngủ nghỉ vừa phải không?

– Có hết sức để tránh nguy hiểm về luân lý không?
– Có hết sức để điều hòa một cách tốt đẹp đời sống tu sĩ với việc bác ái không?
– Có hết sức để sự nhiệt thành hăng hái được tăng thêm, trút bỏ tính ích kỷ vụ lợi và cảm tình xác thịt không?

VỀ VIỆC TÔNG ĐỒ BẰNG SÁCH BÁO

292– Nhà Dòng có làm việc Tông Đồ bằng viết bài đăng báo hay xuất bản, phát hành các sách vở và các ấn phẩm gì không?

293– Các báo chí có theo Giáo-Luật được kiểm duyệt trước do các Bề Trên Dòng và các Đấng Bản quyền địa phương không? (G.L.c. 1385 §2).

294– Có được phép Bề Trên Dòng và các Đấng bản quyền địa phương để xuất bản sách vở nói về những việc đời để hợp tác với các nhật trình, báo chí, Tập san, hay để hướng dẫn đường lối chắc chắn cho những báo chí ấy không? (G.L.c. 1386 §1)

295– Việc phát hành các sách vở có tránh được các hình thức quá vụ lợi, và có đề phòng cẩn mật để tránh tất cả những nguy hiểm không?

VỀ VIỆC CÔNG GIÁO TIẾN HÀNH

296– Các tu sĩ cố gắng hoạt động cho Công giáo tiến hành và nhiệt thành cộng tác không?

297– Có những khó khăn gây nên do các người lãnh đạo hoặc hàng Giáo-sĩ Triều không?

298– Đã dùng cách nào để thắng được những khó khăn ấy ? Sẽ có thể dùng cách nào được nữa?

VỀ NHIỆM VỤ LINH MỤC, VỀ SỰ CỬ HÀNH THÁNH LỄ

VỀ TIỀN LỄ VÀ TRÁCH NHIỆM LÀM LỄ MISSA

*299– Các Bề trên có cẩn thận để ý xem các Linh Mục Dòng có sốt sắng dọn mình làm Lễ không? Sau khi dâng lễ có cám ơn Chúa vì ơn trọng đại ấy không?

300– Trong mỗi nhà có giữ theo Giáo-luật (cc. 843 §1.844), có sổ lễ ghi theo thứ tự số đã nhận với ý chỉ – tiền lễ – người làm lễ và ngày làm lễ không?

301– Sổ lễ của mỗi nhà đã được kiểm soát mấy lần ? bởi ai ? và có chữ ký của Đấng kiểm soát không?

302– Về tiền lễ (mỗi hạng lễ người xin phải nộp bao nhiêu), mỗi nhà có theo lệnh các Đấng Bản Quyền địa phương và giữ thói quen địa phận, như Giáo luật cc. 831, §2-3 ; 832 buộc không?

303– Mỗi nhà có trung thành thanh toán trách nhiệm về các lễ, lễ vĩnh viễn cũng như lễ rời, trong kỳ hạn đã ấn định, theo G. Luật cc. 834, 835, 1517 không?

304– Về vấn đề tiền lễ, có sự nhượng bộ đặc biệt nào, hoặc để giảm tiền lễ hay ý chỉ, hoặc để giãn ngày làm lễ không ? là những nhượng bộ nào?

305– Khi nhận lễ, các nhận lễ, khi nhận lễ hay chuyển lễ, và khi xong trách nhiệm về lễ, Bề Trên có theo lương tâm giữ các điều Giáo luật (cc. 835-840,842) buộc, những quy-tắc trong Hiến pháp, hay các luật lệ về lễ lập bản không?

VỀ VIỆC NỘI TRỢ

+306– Các nữ tu có giúp việc nội trợ trong các chủng viện, các Học viện thuộc Giáo-Hội, các Dòng Giáo sĩ hay Dòng nam,hay trong các trường, các sở dành cho nam giới hay nam sinh, hay trong các nhà xứ không? Giúp bao nhiêu chủng viện, trường học v.v…như vậy? và ai đã cho phép nhận giúp?

+307– Có trung thành khôn ngoan đắn đo cẩn thận để tránh những gì là nguy hiểm và bất xứng không?

+308– Hiện đã phải phàn nàn về điểm gì rồi, và đã liệu thế nào rồi?

KẾT:

PHÊ PHÁN SƠ LƯỢC VÀ TƯƠNG ĐỐI VỀ TÌNH TRẠNG DÒNG VỀ Ý HƯỚNG TIẾN TỚI TRONG ĐÀNG TRỌN LÀNH.

309– Các người Dòng ước ao đàng Trọn lành Phúc-âm và chăm lo tiến tới hàng ngày như thế nào? (G.L.cc. 487 ; 488, I0).

310– So sánh với bản Bá cáo về năm năm trước, Dòng đã tiến bộ hay lùi? Rõ rệt và căn cứ ở những điểm nào? Những nguyên do nào đã làm Dòng tiến? Những nguyên do nào đã làm Dòng lùi?

311– Trong thời gian năm năm nay, các Bề Trên có thôi thúc khuyến khích tiến lên đường Trọn lành, và ngăn ngừa sự sa sút không?

VỀ TÌNH TRẠNG KỶ LUẬT.

312– Trong 5 năm nay và sánh với năm năm về trước, về sự giữ lời khấn và Giáo luật, Quy-luật và Hiến-pháp phải nói thế nào?

313– Những điểm nào trong kỷ-luật tu sĩ dễ phạm, năng lỗi hơn?

314– Những nguyên nhân nào đã giúp tiến bộ hay làm thụt lùi (nếu có) trong sự giữ luật Dòng?

315– Các Tu sĩ ở các miền khác nhau có giữ luật khác nhau không ? Những điểm khác nhau ấy là gì?

316– Các Bề Trên đã làm gì để bảo đảm sự giữ luật cách trung thành, toàn vẹn trong từng miền, từng nhà?

317– Có những khó khăn nào và những cản trở nào chính đã ngăn chặn sự hoạt động của Bề Trên và làm cho việc Người ra vô ích?

VỀ TÌNH TRẠNG KINH TẾ

318–Tình hình tài chính kinh tế của Dòng thế nào trong năm nay ? và so với năm năm về trước?

319– Những nguyên nhân nào đã làm cho nền tài chính kinh tế Dòng tăng thêm hay giảm sút?

VỀ MỤC ĐÍCH RIÊNG VÀ CÁC VIỆC CỦA DÒNG

320– Sự hoạt động của Dòng theo mục đích riêng Dòng, sánh vời bản tường trình năm năm trước, đã tăng hay giảm? Những nguyên nhân nào đã làm cho tăng giảm như thế?

321– Có dùng những phương thế mới hay những công việc mới nào để theo đuổi mục đích riêng của Dòng trong năm năm nay không? Có những kế hoạch nào cụ thể rõ rêt cho tương lai không?

322– Bề trên có trù định phương sách nào để củng cố Dòng và các tu sĩ không?

 Ban hành tại Thánh Bộ Tu-sĩ, ngày 9 – 12 – 1948

Louis Card. Lavilrano, Bộ Trưởng

U Fr.L.H. Pasette, Thư Ký

 Trích “ Religieux et religieuses” của J. Creusens  S.J.  p. 292…

Từ trang 171 đến  trang 212

Comments are closed.