Độc thân ngày nay (tt)

0

PHẦN 3: ĐỘC THÂN NGÀY NAY (tt)

23. Những con người tự do

Thời đại chúng ta tuy đã thực hiện được biết bao điều trong lãnh vực kỹ thuật, nhưng cũng đã phá hủy con người do sự phân tích quá mức. Để dấn thân sâu xa trong lãnh vực kỹ thuật như thế, con người đã phải trả giá bằng chính cái cao quý nhất của hữu thể. Mất mát lớn nhất đó là con người không còn biết mình là gì và mình có thể làm gì nữa. Con người đã bị lạc trong một thế giới mà ở đó rốt cuộc con người không còn là chủ nữa. Càng sản xuất ra những dụng cụ kì diệu bao nhiêu, càng bị nô lệ chúng bấy nhiêu. Con người cảm nhận được sự mất tự do này trong lãnh vực: báo chí và truyền hình đầu độc mình, những tấm quảng cáo lôi cuốn và dụ dỗ mình. Xã hội ngày càng trở nên như con bạch tuộc cuốn chặt lấy con người, càng ngày càng khó kiếm được những con người tự do.

Thế nhưng, nếu được triển nở trọn vẹn trong đời độc thân, những người hiến dâng trinh tiết của mình cho Thiên Chúa có thể đạt tới mức tự do cao đến nỗi họ có thể phục vụ cho hết những ai đang đi tìm linh hồn mình và ý nghĩa cho cuộc đời mình.

Tôi biết rằng vào giờ phút này vẫn có nhiều người từ chối sống độc thân để được gần gũi con người hơn và để hiểu biết vấn đề của con người nhiều hơn. Nhưng rất thiếu đôi khi họ từ chối độc thân chỉ vì họ đã không đạt được sự tự do trong con tim như đời độc thân đòi hỏi. Họ đã nghi ngờ sứ mạng của mình. Và thay vì đứng bên bờ sông, như Gioan bên bờ sông Giô đan, để chỉ cho mọi người thấy Chúa đang ẩn nấp giữa đám đông, họ đã để mình bị đám đông lôi kéo đi, cuộc sống của họ vì thế không còn hướng người ta tới một mầu nhiệm nào được nữa. Họ không còn là những con người tự do nữa. Họ đã thoát khỏi một số áp chế, nhưng đã không đạt được sự tự do trong con tim và trí óc, là cái duy nhất có thể làm cho người khác thấy được mầu nhiệm Thiên Chúa và mầu nhiệm con người.

Họ đã bỏ độc thân chỉ vì độc thân là một cái gì đó phải ‘thủ’ phải ‘giữ’. Thế nhưng trinh khiết không phải là cứ trinh khiết như xưa nay, mà phải trở nên trinh khiết mỗi ngày một hơn. ‘Cứ vẫn là’ người trinh khiết, tức là mới chỉ dừng lại ở giai đoạn thanh thiếu niên, trong giai đoạn này người ta mới chỉ từ khước hôn nhân, từ khước tình yêu vợ chồng, từ khước làm cha làm mẹ. Nhưng không bao giờ nhân cách được xây dựng trên những sự cắt giảm tiêu cực đó.

Người ta chỉ trinh khiết thật sự bằng cách đương đầu với đủ mọi giai đoạn của cuộc sống. Quả thế, không thể thực hiện lý tưởng độc thân một cách trọn vẹn lúc 20 tuổi, nghĩa là lúc có quyết định tận hiến cho Thiên Chúa. Rồi đến lúc 40 tuổi lại nói rằng khi cam kết giữ độc thân, mình không biết phải từ bỏ gì. Làm như thế là tự chứng minh rằng mình đã không chấp nhận thân phận con người: thân phận con người là khi đứng tuổi hãy thực hiện những gì đã hứa lúc 20 tuổi. Giữ độc thân là ‘thực hiện’ sự độc thân, bằng cách cứ mỗi giây phút lại sáng tạo ra sự độc thân. Cũng vậy, khi nói phải ‘giữ’ các giới răn, Đức Giêsu muốn ta phải ‘thực hiện’ các giới răn phải hoàn thành các giới răn.

Có lẽ đây là một trong những nhược điểm trầm trọng nhất của thế hệ hiện nay. Thế hệ hiện nay nghĩ rằng tự cho là không cam kết, là sẵn sàng ngay tức khắc, là khi có biến cố thì đáp trả ngay. Ngay cả những người trẻ tự cho là đã trưởng thành cũng tìm cách theo đuổi sự trưởng thành chỉ vì không muốn dấn thân, cam kết. Tôi biết rằng bộ mặt thế giới này đang thay đổi nhanh đến nỗi những gì ta dự tính trên bình diện nhân loại hôm nay đều tỏ ra sai lệch trước thực tế luôn chuyển động của cuộc sống. Chính vì thế, khi nhìn cuộc sống con người một cách quá hiện sinh, nhiều thanh niên đã chấp nhận một sự tự do sai lầm đến nỗi rốt cuộc không còn tự do nữa.

Nhờ các khoa học hiện đại và nhờ các bộ máy của khoa học đó, ngày nay người ta có thể đưa ra những dự án cho một thời hạn rất lâu, và thế là con người không thể quyết định chi được nữa cho cuộc sống của riêng mình.

Thế nên độc thân có lẽ là cơ hội tốt nhất cho phép con người đưa ra những quyết định vượt lên trên sự vô thường của cuộc sông, không phải bằng cách chạy trốn cuộc sống nhưng là hướng nó tới thực tại cuối cùng của cuộc sống. Dự phóng này chỉ có thể thực hiện được khi được đặt trên căn bản là niềm tin vào Chúa Kitô. Nếu thực hiện được dự phóng đó, ta sẽ có được một nhân cách không những phong phú bằng mà còn hơn cả nhân cách có thể thực hiện được trong đời sống hôn nhân.

Theo tôi, thời đại này rất cần những người ‘trinh khiết’ biết làm chứng một cách rất đặc biệt rằng Nước Thiên Chúa đã có mặt trong thế giới này, là người trinh khiết có nghĩa là trở nên trinh khiết bằng cách làm nổi bật những khía cạnh của nhân vị mà hôn nhân không thể phô diễn hết được, là người trinh khiết vì Đức Kitô và Nước Trời, đó là một cách để làm đàn ông hay đàn ba phong phú không kém chi làm đàn ông hay đàn bà trong đời sống hôn nhân.

24. Con tim được giải thoát để thời giờ hiến dâng

Khi biện hộ cho sự độc thân của các linh mục, người ta thường đưa ra lý do là các linh mục cần phải có điều kiện để có thể cống hiến trọn vẹn thời giờ của mình cho người khác, mà không phải làm vợ con mình đau khổ. Lập luận rất có giá trị khi áp dụng vào trường hợp của những linh mục phải coi sóc quá nhiều con chiên. Nhưng lập luận ấy không có giá trị mấy nếu linh mục ấy biết phân chia thì giờ của mình như bất cứ ông thương gia nào, ngày phục vụ, giờ ngồi văn phòng, giờ xem xinê hay ti vi. Những người biết phải trái còn có thể tự hào rằng mỗi ngày mình vẫn có thể thu xếp công việc được để dành cho gia đình vài giờ nếu mình có gia đình. Chính vì thế càng coi chức linh mục không hơn không kém một chức vụ, càng coi sự độc thân như một cách tốt nhất để giải thoát ta khỏi những bổn phận của gia đình, ta càng thấy các linh mục ít cần phải sống độc thân.

Nhưng nếu muốn giản lược chức linh mục thành một chức vụ, ta cũng phải đề cao khía cạnh kia của chức linh mục, là toàn hiến cho Chúa, để thi hành chức vụ thừa tác. Nếu trở lại vấn đề này tôi cũng chỉ xin nhắc lại rằng linh mục không được phép đo chức vụ của mình bằng số giờ phục vụ, nhưng là bằng thái độ sẵn sàng trong nội tâm. Các linh mục cần có sự tự do trong tâm hồn và tâm trí thì mới có thể thực sự là người ‘cho người khác’. Đang khi đó, các linh mục đã kết hôn sẽ bị bó buộc phải dành cho vợ con một sự chú ý đặc biệt và vì thế tự do bớt đi để thi hành việc tông đồ.

Mọi sự đều đan kết với nhau trong tổ chức rộng lớn của Giáo hội. Nếu Giáo hội đòi buộc các linh mục sống độc thân, đó chính là vì Giáo hội muốn các thừa tác viên Lời Chúa được giải thoát khỏi sự vướng bận đối với chính bản thân họ và tự do hơn để làm việc tông đồ. Có người nói đi nói lại rằng nếu không lập gia đình linh mục sẽ không thể hiểu hết mọi vấn đề của cuộc sống. Nhưng trong thực tế chính các linh mục cởi mở với hết mọi vấn đề và được giải gỡ khỏi mọi vướng bận gia đình lại là những linh mục được nhiều giáo dân vui lòng đến trình bày vấn đề riêng của họ hơn cả.

Lý do khiến Giáo hội áp đặt đời sống độc thân đối với các linh mục là vì tác vụ của họ thu hút hết cả con người họ. Giáo hội muốn rằng các linh mục được giải gỡ khỏi mọi vướng bận tình cảm đôi khi quá mạnh đến nỗi không cho phép họ sống hết mình với sứ mạng được. Giáo hội muốn rằng họ xuất hiện trong thế giới như một sự mạc khải mới mẻ về Đức Kitô và về tình yêu của Chúa Cha. Chính vì nhìn ơn gọi linh mục một cách toàn diện trong viễn tượng là để noi gương Đức Kitô và phục vụ Giáo hội, nên Giáo hội mới thấy cần phải bắt các linh mục sống độc thân như vậy.

Có thể nói rằng Giáo hội muốn có các linh mục được giải gỡ khỏi những lo lắng thế gian: được tách riêng ra để phục vụ Chúa và cộng đoàn Kitô hữu. Sự giải thoát chính yếu mà Giáo hội muốn các linh mục của mình có được là sự giải thoát khỏi những quan hệ dục tính. Xưa nay người ta thường cho rằng cái gọi là công việc của xác thịt chẳng qua chỉ là một sự nhượng bộ với sự khốn nạn của con người và với đòi hỏi truyền sinh thôi.

Nhưng từ khi giá trị tôn giáo cửa hôn nhân và của những quan hệ giữa vợ chồng được ý thức lại, sự ‘giải thoát mà Giáo hội muốn thấy nơi các linh mục phải được nhìn trong những viễn tượng mới. Tuy nhiên dù tình yêu được Kitô giáo nhìn lại trong viễn tượng nào đi nữa, sự độc thân vẫn còn đầy đủ ý nghĩa với điều kiện, như người ta nói, sự độc thân đó phải được nhận một cách trọn vẹn’. Nhưng đó chỉ có thể ‘được đảm nhận’ trọn vẹn như thế khi người ta chấp nhận nó trong toàn bộ thực tại của nó.
Đến đây chúng ta đã đụng tới một trong những khía cạnh của vấn đề độc thân. Hôn nhân là sự trao hiến giữa hai người với nhau để kết hợp trong từng thớ thịt với một con tim và một tinh thần duy nhất. Không ai có thể cùng một lúc thực hiện hai sự kết hợp loại này, bởi vì sự hòa hợp ảnh hưởng tới các tập quán, lối ‘sống chung’ và liên hệ tới cả thân xác chứ không chỉ đụng tới tinh thần thôi. Một sự kết hợp bao hàm sự thân mật tính dục như thế đòi giữa hai người phải có duy nhất, một sự kết hợp ở mức độ này phải có tính cách độc quyền. Người ta chỉ có thể thực hiện một sự kết hợp duy nhất thôi vì sự kết hợp này gói trọn con tim, trí óc và thân xác vào trong quan hệ dục tính. Ngược lại, trong sự kết hợp thiêng liêng không có sự độc quyền như thế.

Như thế, dấn thân mà không phải trao gởi thân xác, con tim và trí óc sẽ cho ta tự do tạo ra nhiều mối quan hệ hơn. Những người đã kết hôn cũng có thể tạo ra được những tình bạn sâu xa ngoài khuôn khổ vợ chồng, nhưng nếu sống độc thân một cách tự nguyện hoàn toàn và quân bình họ còn được tự do nhiều hơn để làm công việc đó, Người trinh khiết có qủa  tim tự do để có thể yêu thương bạn bè, nam nữ, bằng một tình yêu không dựa vào xác thịt hay giác quan, nhưng dựa vào sự thật của mỗi người, dựa vào sự thật không thể tả được của mỗi người.

Muội Muội sưu tầm

(Còn nữa)

Comments are closed.