Sự chết đời đời

0

Dẫn nhập

Trước khi vào đề, chúng ta nên ghi nhận vài điểm liên quan đến từ ngữ và phương pháp.

Trong các sách thần học cổ truyền và các sách giáo lý, đề tài này được đặt tên là địa ngục hay hoả ngục. Nhưng chúng tôi muốn gọi là sự chết đời đời nhằm đối lại với chương trước đây sự sống vĩnh cửu. Mặt khác, khi nghĩ đến “địa ngục”, tâm trí chúng ta dễ liên tưởng đến cái ngục giam giữ với bao hình cụ tra trấn, theo quan niệm của nhiều tôn giáo Đông Phương, điển hình như Phật giáo[1].

Dầu vậy, khi phải dùng hình ảnh “hoả ngục” để nói về hình phạt vĩnh viễn dành cho những kẻ bất lương, chúng ta nên cẩn thận hai điều: 1/ Cần phải phân biệt đâu là thực chất và đâu chỉ là hình ảnh dựa theo những não trạng của một thời; 2/ Thiên Chúa muốn cho con người được hạnh phúc (sự sống trường sinh), vì đó là cứu cánh của công trình tạo dựng và cứu chuộc. Ngài chẳng ưa thích gì đày đoạ con người xuống hoả ngục. Vì thế ta đừng nên hình dung sự công bình theo kiểu báo oán! Tuy nhiên, cũng đừng quan niệm Chúa quá dễ dãi xuề xoà, chẳng đếm xỉa gì đến công tội của loài người! Sự quân bình trong vấn đề này thật không đơn giản!

Chúng ta sẽ học hỏi đề tài này dưới ba khía cạnh: Thánh Kinh, niềm tin của Giáo hội, suy tư.

I. Thánh kinh

A. Mặt trái của tin mừng cứu độ

Giáo huấn của Thánh Kinh về sự luận phạt cần được lồng trong bối cảnh của mặc khải về Thiên Chúa cứu độ.

Ngay từ ban đầu, Cựu ước đã khẳng định rằng Thiên Chúa là Đấng nhân hậu tốt lành. Những gì do Ngài dựng nên đều tốt đẹp (Sáng thế chương 1). Ngài không dựng nên sự chết và không ghét bỏ những gì Ngài đã làm ra (x. Kn 1,13; 11,24). Ngài không muốn cho tội nhân phải chết, nhưng muốn cho nó hối cải để được sống (x. Ed 18,23; 33,11). Cựu ước nhiều lần nói đến Thiên Chúa như là “Đấng từ bi nhân hậu, đầy lòng thương xót, chậm giận, lại giàu khoan nhân và lòng thành tín” (St 34,6; Tv 86,15; 103,8; 111,4; 145,8; 2Sb 30,9; Nkm 9,17; Ge 2,13; Gn 4,2).

Tân ước còn nói rõ hơn nữa về ý định Thiên Chúa muốn cứu hết mọi người (1Tm 2,4): Thiên Chúa là tình yêu (x.1Ga 4,8); Ngài kiên nhẫn, ban cho tội nhân thời giờ để hối cải (x. 2Pr 3,9). Khi đối chiếu với các ngôn sứ Cựu ước, ta thấy nổi bật tính độc đáo của Đức Giêsu ở chỗ Người rao giảng sự thống hối nhưng không đe doạ hình phạt. Điều này khá rõ rệt khi so sánh lời giảng của Người với ông Gioan Tẩy Giả như chúng ta trình bày trong đoạn Cánh chung luận theo Tân ước. Người đã kể biết bao dụ ngôn để cho thấy Thiên Chúa muốn cho người tội lỗi hoán cải, chứ không muốn cho nó bị hủy diệt (thí dụ: người con hoang đàng, con chiên lạc). Tin mừng của thánh Gioan Tông đồ có thể cô đọng vào lời tuyên bố “Thiên Chúa đã quá yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời. Quả vậy Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3,16-17). Đến lượt Đức Giêsu cũng nói: “Tôi đến không phải để kết án thế gian nhưng để cứu thế gian” (Ga 12,47).

Vì thế, cái chết muôn đời không nằm trong nội dung của “Tin mừng”, bởi vì Tin mừng loan báo ơn cứu độ chứ không phải là sự luận phạt. Tuy vậy, Thánh Kinh cũng nói đến tình trạng hư mất của con người. Vào ngày phán xét, những người lành được tách ra khỏi những người dữ, với số phận hoàn toàn trái nghịch: Người lành được đưa vào Nước Chúa, người dữ bị đuổi xa khỏi mặt Chúa (Mt 13,49; 25,31-32). Vì thế, dù đề cao lòng lân tuất của Thiên Chúa, ta không được phép bỏ qua những đoạn văn nói đến sự trừng phạt.

B. Âm ty và hỏa ngục trong Thánh kinh

Khi bàn về cánh chung cá nhân Cựu ước, chúng ta đã nói rằng thời xưa, người ta tin rằng sau khi chết tất cả mọi người dù tốt dù xấu đều phải bị giam trong sheol (dịch là: âm ty hay âm phủ). Dần dần, có sự tiến triển tư tưởng về âm ty; đồng thời, ta cũng thấy xuất hiện những từ ngữ mới nói đến hình phạt thiêu đốt: từ đó âm ty biến thành hoả ngục (Gehenna). Chúng ta thử theo dõi sự tiến triển này.

 1. Sheol
a) Thời Cựu ước

Các học giả đã tranh luận rất nhiều về nguyên ngữ của danh từ này. Có người cho rằng gốc tích của nó là động từ sahal (thẩm vấn, điều tra); như vậy, sheol là nơi bắt đầu sự phán xét. Theo ý kiến khác, gốc tích của nó là saah (sa mạc) và như vậy sheol là đất không có sự sống. Ý kiến nữa cho rằng sheol do bởi solah (sâu thẳm) cho nên nó có nghĩa là cái vực thẳm nằm sâu dưới lòng đất.

Ngoài vấn đề tầm nguyên, các học giả còn thấy lúng túng hơn nữa khi nghiên cứu các hình dạng sheol trong các bản văn Thánh Kinh. Dựa theo vũ trụ quan cổ điển chia không gian thành ba tầng (trời cao là nơi của Chúa, mặt đất là chỗ của người sống, và lòng đất dành cho kẻ chết (x. Xh 20,4; Pl 2,10), sheol ở dưới lòng đất.

Sheol là chỗ tối tăm (Tv 88, 7.13; 143,3), bụi tro (Đn 12,2), thinh lặng (Tv 94,17), bị người đời lãng quên (Tv 31,13; 41,6) và thậm chí không được Chúa nhớ tới (Tv 88, 6.11; G 14,13). Nó là cái ngục có nhiều cửa (Is 38,10; Mt 16,18), xiềng xích (Kh 1,18) không ai có thể thoát ra khỏi đó (G 7,9; 10,21, vv).

Đôi khi, sheol ám chỉ các ngôi mộ, huyệt chôn (bor: x. Tv 88), cho dù cũng mang một nghĩa khang khác. Thí dụ, theo sách Sáng Thế (37,35), sau khi nghe tin cậu Giuse yêu quý đã bị giết chết, ông Giacóp muốn đi xuống sheol để gặp lại con mình, dù ông không biết xác con mình được chôn ở chỗ nào. Như vậy, sheol là nơi đoàn tụ tất cả những người quá cố trong gia đình (x. St 49,33; G 30,23).

Hơn thế nữa, vào lúc đầu người ta quan niệm tất cả mọi người dù xấu hay tốt, sau khi chết đều phải xuống sheol (Tv 30,23; Tv 88,11). Kế đó, ta thấy có sự phân biệt người lành và kẻ dữ ở dưới sheol: phường bất lương bị đẩy xuống tận đáy âm ty (Ed 32,22; Is 14,15); người lành giả thiết là được ở trên cao (x. Tv 49,15). Sau cùng, do niềm tin vào sự sống lại, sheol chỉ còn là nơi giam giữ kẻ ác, còn người lành được giải thoát ra khỏi sheol: sự sống lại giả thiết là ra khỏi sheol, chỗ dành cho kẻ chết:

Phường tự mãn tự kiêu/ số phận là thế đó/ bọn ỷ tài khéo nói/, hậu vận chính là đây/ Như đoàn vật nhốt trong âm phủ/ chính tử thần canh giữ chăn nuôi/ chúng nhào thẳng xuống nơi huyệt mả/ sẽ tiêu tan cả đến hình hài/ chốn âm phủ thành nơi cư ngụ/ Nhưng Chúa Trời sẽ chuộc mạng tôi/ gỡ tôi ra khỏi quyền lực âm phủ” (Tv 49,14-16).

b) Thời Tân ước

Vào thời Đức Giêsu, sheol được hiểu như là nơi tạm giam giữ các vong nhân trong khi chờ đợi sự phục sinh và cuộc phán xét chung. Sau đó, sheol sẽ bị phá hủy; những người xấu sẽ được chuyển qua gehinnon. Ta nên hiểu dụ ngôn về ông Ladarô và người phú hộ theo mạch văn đó: sau khi chết, ông phú hộ bị đưa xuống âm phủ (Lc 16,23).

Tiếng sheol được dịch sang Hy Lạp là hades, (theo nguyên ngữ có nghĩa là “không thấy), và sang tiếng La Tinh là inferi (ở dưới). Trong Tín biểu các thánh Tông đồ, ta đọc thấy lời tuyên xưng: “passus sub Pontio Pilato, crucifixus, mortuus et descendit ad inferos” (“chịu nạn đời quan Phonxiô Philatô, chịu đóng đinh trên cây thánh giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông”). Bản văn tự nó chỉ nói rằng Đức Giêsu xuống dưới “tầng hầm”. Và điều này có thể giải thích theo hai nghĩa:

– Thứ nhất, Đức Giêsu đã chết thực, đã đi xuống thế giới của người chết (x. Mt 12,40; Ep 4,9; Rm 10,7)[2] nhưng sau đó Người đã đánh tan quyền lực tử thần, theo như sách Khải Huyền đã viết: “Ta là Đấng Hằng sống, Ta đã chết, và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời, và Ta giữ chìa khoá của Tử thần và Âm phủ” (Kh 1,18).

– Một lối giải thích thứ hai (dựa theo 1Pr 3,18-20; 4,6), cho rằng sau khi chết, Đức Giêsu đến loan báo ơn cứu rỗi cho những người công chính còn bị giam giữ trong cõi âm ty từ thời Ađam (ngục tổ tông là như thế: limbus patrum). Sách GLHTCG đã theo lối giải thích này ở số 631-637.

Nên lưu ý là tiếng inferi trong tiếng La Tinh chỉ có nghĩa là “chỗ thấp, ở bên dưới”; nhưng khi chuyển sang tiếng Pháp là enfer (tiếng Ý inferno) thì được hiểu là “hoả ngục”, nơi dành cho kẻ ác ! Một cách tương tự như vậy, sheol được chuyển sang tiếng Anh là hell, nhưng ngày nay danh từ này được hiểu là “hoả ngục”.

 2. Gehenna

Sheol chỉ có nghĩa là “âm phủ”, chỗ ở dưới đất. Dần dần, ý tưởng “địa ngục” được ghép thêm hình ảnh “lửa” thiêu đốt, với danh từ Gehenna. Danh từ này gốc tiếng A-ram ge-hinnum rút gọn bởi geben-hinnum (thung lũng Hinnom). Như vậy, lúc đầu nó là một địa danh, có lẽ ám chỉ một nơi gần Giêrusalem, nơi người ta lập đàn tế thần Ôlốc (hay Molech) bằng cách thiêu sống các thiếu nhi (x. Lv 18,21; 2V 23,10; 2Sb 28,3; 33,6; Gr 7,30-34; 19,5-8). Có lẽ do đó mà Hinnom có nghĩa là “rên siết”. Sang thế kỷ I trước CN, từ này mang ý nghĩa là “hồ lửa, vực lửa” (x. Đn 7,10; Gđt 16,17). Trong Tân ước, “hồ lửa” mang tính cách vĩnh viễn, và sheol sẽ bị quăng vào đó (Kh 20,14).

C. hình phạt đời đời

Qua hai hình ảnh SheolGehenna, chúng ta thấy tư tưởng Thánh Kinh cũng đề cập đến một nơi chốn, một địa điểm dành cho những kẻ bất lương. Tuy nhiên, chúng ta cần phân biệt đâu là thực chất và đâu chỉ là hình ảnh dựa theo những não trạng của một thời (ngục ở dưới đất, trại giam, âm ty, vực lửa, vv…) để nói đến hình phạt đời đời.

1. Cựu ước

Chúng ta đã theo dõi sự tiến triển trong quan điểm về sheol, từ một chỗ dành cho tất cả mọi người chết, đến chỗ dành riêng cho kẻ dữ. Sách Isaia kết thúc với câu mô tả số phận của thi thể những người tội lỗi bị quẳng ra ngoài tường thành, bị dòi bọ rúc rỉa và lửa thiêu đốt (x. Is 66,24). Sách Đanien nói đến những người bị “tủi hổ nhục nhã muôn đời” trong ngày sống lại (Đn 12,2). Sách Khôn Ngoan dành một đoạn khá dài để bàn về thân phận của những phường vô đạo (Kn 5,14-23).

2. Tân ước

Trong Tân ước, chúng ta thấy có hai loại từ ngữ diễn đạt hình phạt đời đời dành cho những người mất ơn nghĩa với Chúa: một đàng, họ bị loại trừ không được gần gũi Chúa; đàng khác, họ lãnh vài cực hình. Đó là hai bộ mặt của một thực tại: vừa bị mất mát, vừa chịu khổ nhục.

a) Sự mất mát

Tân ước dùng nhiều kiểu nói để diễn tả tình trạng bị loại trừ khỏi hạnh phúc với Chúa.

– Thiệt mất cả hồn và xác trong lửa không tàn (x. Mc 8,35; Mt 10,28).

– Không được Chúa biết đến: “Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác” (Mt 7,23). Trong dụ ngôn về mười trinh nữ, những cô khờ dại không được tiếp đón vào bàn tiệc, với lý do là: “Tôi không biết các cô” (Mt 25,12).

– Bị trục xuất, bị tống ra bên ngoài bàn tiệc: “Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính!” (Lc 13,25-27).

– Không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp: Thánh Phaolô đã liệt kê một số tội khiến cho người tín hữu bị loại trừ khỏi Nước Thiên Chúa: dâm đãng, thờ ngẫu tượng, ngoại tình, trụy lạc, kê gian (x. 1Cr 6,9-10)[3].

– Mất sự sống, không được hưởng dùng Cây Sự sống: Theo thánh Gioan, ai tin thì được sự sống đời đời còn kẻ nào không tin thì “không được sống” (Ga 3,36; 12,25). Trong khi những người lành được qua Cửa thành và được quyền hưởng dùng cây Sự sống, thì những phường chó má phải “đứng ở bên ngoài” (Kh 22,15).

Những diễn ngữ trên đây phát biểu một tình trạng trái nghịch với sự sống vĩnh cửu. Thay vì được “ở gần bên Chúa Kitô”, họ bị Người khước từ (tránh xa, không biết). Thay vì được thông dự vào bàn tiệc hoặc đi vào Nước Chúa, họ bị trục xuất, đuổi ra ngoài. Thay vì đến gần Thiên Chúa là sự sáng, họ bị xua đuổi vào nơi tối tăm. Thay vì tụ họp vui vẻ bên bàn tiệc với những kẻ công chính, họ bị ném vào chỗ khóc lóc nghiến răng. Vì thế, nếu hạnh phúc được diễn tả như là lãnh nhận sự sống vĩnh cửu, thì nỗi bất hạnh chính là phải “chết” (Lc 13,3; Ga 5,24; 6,50; 8,51; 1Ga 3,14; 5,16-17; Kh 20,14;  Rm 5,12; 6,21; 7,5.11.13.24; 1Cr 15,21-22; Ep 2,1-5; 1Tm 5,6; vv). Đàng khác, nếu sự thông hiệp với Thiên Chúa mang lại sự sống bất tận, thì số phận của những ai phải xa cách Thiên Chúa cũng mang tính cách bất tận. Sách Khải huyền 14,11 nói đến hình khổ kéo dài cho đến thiên thu vạn đại.

b) Những khổ hình

Trong Tân ước, cách riêng là trong Tin mừng Nhất Lãm, chúng ta gặp thấy nhiều từ ngữ diễn tả cực hình dành cho kẻ tội lỗi: lửa hoả hào (gehinnon: Mt 18,9); lò lửa bốc cháy (x. Mt 13,50); lửa không hề tắt (x. Mc 9,43.48); dòi bọ không hề chết (x. Is 66,24; Mc 9,48); khóc lóc và nghiến răng (x. Mt 13,42); hồ lửa với diêm sinh ngùn ngụt (Kh 19,20); sự chết lần thứ hai ở trong hồ diêm sinh bốc cháy (Kh 20,10.15; 21,8).

Những hình ảnh này xem ra muốn nói rằng hình phạt muôn kiếp là một điều cực kỳ đau đớn, do việc đánh mất mục tiêu của cuộc đời. Cứu cánh cuộc đời nhằm đạt tới hạnh phúc, và hạnh phúc ở chỗ được thông hiệp vào sự sống của Thiên Chúa. Vì thế, khi mất Thiên Chúa thì cũng mất hạnh phúc và mất cứu cánh. Đây là một sự “thất bại” to lớn vượt hết mức tưởng tượng.

Thường thường, người ta chỉ chú ý đến những “cực hình” mà tội nhân phải chịu trong hoả ngục, tựa như bị thiêu đốt, bị nóng bức… chứ không quan tâm cho lắm đến sự “mất Chúa”. Nhưng nếu suy xét kỹ thì phải đảo lại thứ tự.

Các nhà thần học đã tranh luận rất nhiều về ý nghĩa của lửa được sử dụng rất nhiều lần trong Tân ước (23 lần; ngoài Tin mừng Nhất Lãm, ta còn gặp thấy ở Dt 10,27; Gđ 7; Kh 14,10-11). Phải hiểu lửa theo nghĩa đen hay nghĩa bóng (nghĩa biểu tượng)? Thiết tưởng nên hiểu theo nghĩa bóng thì đúng hơn, cũng như khi giải thích “bàn tiệc thiên quốc”, không ai lại hiểu theo nghĩa đen (ăn uống tiệc tùng suốt ngày, suốt năm). Nếu hiểu theo nghĩa bóng, thì lửa ám chỉ cái gì?

Thường lửa gợi lên cảm giác nóng bức, oi ả, khó chịu. Tuy nhiên, lửa cũng là biểu tượng của nhiều điều khác nữa, đôi khi tương phản nhau.

1/ Lửa biểu lộ sự tức giận (lửa thịnh nộ) của Thiên Chúa, đưa tới sự trừng phạt (Ds 11,1), chẳng hạn như lửa thiêu hủy thành Sôđôma (St 19,23), hoặc trừng phạt Nađab và Abihu (Lv 10,2).

2/ Lửa biểu lộ sự uy nghi của Thiên Chúa, chẳng hạn khi Ngài hiện ra với ông Môsê trong bụi gai rực lửa (Xh 3,2). Thánh Kinh nhiều lần mô tả lửa khói bùng lên khi Chúa xuất hiện (Xh 24,17). Trong Kinh Sáng của ngày Thứ Tư tuần II, chúng ta vẫn thường đọc như sau:

“Ngọn lửa hồng mở lối tiên phong/ đốt tiêu tan địch thù tứ phía/ Ánh chớp của Người soi sáng thế gian/ địa cầu trông thấy mà run sợ/ núi tan chảy như sáp/ khi diện kiến thánh nhan/ vị Chúa tể hoàn cầu” (Tv 97,3-5).

Sự linh thiêng của lửa cũng được diễn tả trong biến cố Ngũ tuần, khi Chúa Thánh Thần hiện xuống dưới hình lưỡi lửa.

3/ Đôi khi, lửa không phải là một hình phạt mà là dấu chỉ của sự chấp nhận, chẳng hạn khi lửa từ trời xuống đốt hy lễ toàn thiêu (1V 18,38). Lửa cũng được dùng để thanh luyện như trường hợp kêu gọi ngôn sứ Isaia (Is 6,7). Chúng ta sẽ trở lại với ý nghĩa này trong chương Thanh luyện (lửa luyện tội).

4/ Ta có thể giải thích hình ảnh lửa nói lên hình phạt như cơn hoả hào thiêu rụi. Thật vậy, ở Palestina, lửa được coi là chỗ dành cho các thứ rác rưởi vô dụng. Thánh Gioan Tẩy Giả đe doạ rằng cây nào không sinh trái thì sẽ bị “quẳng vào lửa” (Mt 3,10); số phận tương tự cũng được dành cho thóc lép sau khi đã rê sạch lúa (Mt 3,12). Đức Giêsu cũng dùng ngôn ngữ như vậy trong các bài giảng: “Cây nào không sinh trái tốt … sẽ bị quẳng vào lửa” (Mt 7,19); “đến mùa gặt, cỏ lùng sẽ bị vứt vào trong lò lửa” (Mt 13,42). Như thế, lửa không chỉ nói lên sự đau đớn, nhưng còn là sự trống rỗng, vô nghĩa của cuộc đời: Cuộc sống trở nên vô vị, vô dụng. Đó cũng là nghĩa của từ “hư mất” như là hậu quả của sự tách lìa khỏi nguồn mạch sự sống.

II. Niềm tin của Hội thánh

Trong mục này, chúng ta chỉ rảo qua tư tưởng của các giáo phụ và đạo lý chính thức của Giáo hội. Lịch sử tư tưởng của các nhà thần học sẽ được dành cho mục sau.

A. Các giáo phụ

Đạo lý về hình phạt muôn kiếp đã được nhắc đến trong các văn phẩm cổ xưa của các giáo phụ.

1. Trong giai đoạn đầu, các giáo phụ chỉ lặp lại giáo huấn của Thánh Kinh dạy rằng có hoả ngục, nhằm cảnh giác các người tội lỗi về nguy cơ sẽ sa vào lửa không hề tắt (thánh Inhaxiô, Ad Ephesios 16,1-2; x. 1Cr 6,9; Mc 9,43). Những kẻ không tin Lời Chúa sẽ bị tống vào dòi bọ không bao giờ chết và ngọn lửa không bao giờ tắt (Ps. Clement, Ep. II ad Corinthios 17,5).

2. Dần dần, các giáo phụ hộ giáo cố gắng giải thích lý do biện minh cho các hình phạt trong hoả ngục. Đây là một điều do công lý đòi hỏi, ngõ hầu quân bất lương phải bị trừng phạt. Như thế đạo lý về hoả ngục cũng góp phần vào việc duy trì trật tự trong xã hội (Thánh Giustinô, I Apologies 12; II Apologies 9;  Athenagora, Legatio 31).

Đàng khác, người ngay lành cũng sẽ được thúc đẩy để giữ luật Chúa như thánh Basiliô khuyên các tín hữu :

“Nếu bạn thấy bị cám dỗ muốn phạm tội, thì tôi van xin bạn: hãy nghĩ tới toà án kinh khủng và khắc nghiệt của Chúa Kitô; hãy nghĩ tới các hình phạt dữ dằn nhất trên đời này; hãy nghĩ tới sự mất mát thiệt thòi và hổ ngươi kéo dài tới muôn đời. Khi đã khiếp sợ như vậy rồi, thì bạn hãy giữ mình đừng chiều theo các ước muốn xấu xa nữa”[4].

3. Chỉ có ông Origene mới chủ trương khác với đa số các giáo phụ, cụ thể ở hai điểm, đó là tính cách vĩnh viễn của hình phạt và bản chất của lửa.

a) Theo ông, những đoạn văn Thánh Kinh nói đến sự chết muôn đời chỉ mang tính cách sư phạm, nghĩa là doạ nạt chỉ nhằm sửa trị con người, vì thế chỉ kéo dài một thời gian nào thôi[5]. Để hiểu thêm điều này, nên biết là dựa theo từ ngữ apokatastasis gặp thấy trong Thánh Kinh[6], ông nghĩ rằng mọi sự đều tuân theo một chu kỳ; và vì thế các tội nhân và ma quỷ sau một thời kỳ chịu luận phạt sẽ được phục hồi. Tuy nhiên, có lúc ông bênh vực thuyết apokatastasis[7]; nhưng có lúc ông lại chấp nhận có hình phạt bất tận[8]. Dù sao, ông khiêm tốn thú nhận rằng: “Trong vấn đề này, tôi nói cách dè dặt, và sẵn sàng sửa đổi ý kiến, chứ không coi như khẳng định chắc chắn”[9]. Sau này một công nghị họp tại Constantinopolis năm 543 đã kết án thuyết của ông (300 năm sau khi ông từ trần), nhưng vài giáo phụ, như thánh Grêgôriô Nazianzênô[10] vẫn còn chấp nhận ý kiến về việc ma quỷ sẽ trở lại[11].

b) Điểm thứ hai mà Origene không theo ý kiến chung của các giáo phụ là việc giải thích bản chất của lửa. Theo ông, lửa có tính biểu trưng, hiểu về sự dằn vặt trong nội tâm gây ra do sự xáo trộn trật tự, hoặc sự ân hận hổ thẹn vì đã làm những điều xấu xa[12].

4. Chúng ta phải chờ đến thánh Gioan Kim Khẩu mới thấy có sự chuyển hướng đáng kể, nghĩa là không chỉ loay hoay với các khổ hình, nhưng đi thẳng vào trung tâm của sự chết đời đời. Thánh nhân nhấn mạnh rằng hình phạt dữ dằn nhất là bị loại khỏi Nước Chúa: Đây là sự thiệt thòi mất mát mà không có gì trên đời này có thể so sánh được[13].

Tương tự như vậy, thánh Augustinô vạch cho thấy rằng cốt yếu của sự chết đời đời là mất Chúa[14]. Trong cùng một tác phẩm De Civitate Dei, ngài bác bỏ ý kiến về sự “hoàn nguyên”[15].

B. Huấn quyền

Trong các văn bản Huấn quyền, đạo lý về hoả ngục xuất hiện muộn hơn so với đạo lý về sự sống vĩnh cửu. Điều này cho thấy rằng “hoả ngục” không nằm trong toàn bộ “Tin mừng cứu độ” mà Giáo hội công bố.

1. Vào thời các giáo phụ, tín biểu đầu tiên nói đến hoả ngục là Quicumque (gán cho thánh Athanasiô, nhưng kỳ thực ra đời vào giữa thế kỷ V hoặc đầu thế kỷ VI): “Những người làm lành sẽ đi vào đời sống vĩnh cửu, còn những ai làm dữ sẽ đi vào lửa muôn đời” (DS 76).

Hơn kém vào thời đó, Kinh Tin Kính thánh Đamasô (được gán cho Đức giáo hoàng Đamasô, nhưng có lẽ ra đời vào thế kỷ V) viết như sau:

“Chúng tôi tin rằng những người đã được rửa sạch trong sự chết và Máu của Người sẽ được Người cho sống lại vào ngày sau hết ở trong thân xác mà ta đang có hiện giờ. Chúng ta hy vọng sẽ được Người ban sự sống vĩnh cửu như là phần thưởng về các công phúc; nếu không thì sẽ là hình phạt đời đời vì tội lỗi” (DS 72).

2. Vào thời Trung cổ, công đồng Lateranô IV (năm 1215) đã soạn thảo bản tuyên xưng đức tin chống lại nhóm Albigeois, trong đó có đoạn viết: “Những kẻ tội lỗi sẽ lãnh nhận hình phạt đời đời cùng với ma quỷ” (DS 801). Theo nhóm Albigeois, linh hồn các người tội lỗi sẽ tiếp tục đầu thai (re-incarnation) sang kiếp khác nhiều lần tùy theo sự thanh luyện đòi hỏi. Sau cùng, vật chất và thân xác sẽ bị tiêu hủy vào cuộc hoàn nguyên (apocatastasis).

3. Tông hiến Benedictus Deus (năm 1336) bàn đến hoả ngục liền sau khi nói đến ơn phúc kiến:

“Chúng tôi định tín rằng do sự xếp đặt phổ quát của Thiên Chúa, những linh hồn chết trong tội trọng thì sẽ xuống hoả ngục liền lập tức (mox) sau khi qua đời và ở đó họ sẽ chịu hình khổ hoả ngục. Tuy nhiên, vào ngày phán xét, tất cả mọi người sẽ trình diện cùng với thân xác của mình trước toà xét xử của Chúa Kitô, để trả lời cho những việc làm cá nhân, từ đó mỗi người sẽ lãnh lấy điều tốt hay xấu tùy theo điều mình đã làm ở trong thân xác” (DS 1002).

4. Công đồng Vaticanô II cũng bàn trong Hiến chế Lumen Gentium số 48d với những từ ngữ trích từ Thánh Kinh:

“Chúng ta hãy nghe theo lời dặn của Chúa và luôn luôn tỉnh thức, ngõ hầu chúng ta không giống như tôi tớ bất trung và biếng nhác (x. Mt 25,26) bị ra lệnh phải ra đi vào lửa đời đời (x. Mt 25,41), bị đuổi ra ngoài vào nơi tối tăm, khóc lóc nghiến răng (x. Mt 22,13; 25,30)… Vào ngày tận thế, họ sẽ tiến ra … những kẻ làm điều dữ sẽ sống lại để bị luận phạt (x. Ga 5,29; Mt 25,46)”.

Nên biết rằng lược đồ thứ nhất (“textus prior”) của Hiến chế không nói gì đến sự chết đời đời. Nhưng có vài nghị phụ đã yêu cầu thêm vào điều này để thôi thúc chúng ta tỉnh thức.

6. Sách GLHTCG bàn về hoả ngục ở các số 1033-1037, và trích dẫn các hình ảnh trong Thánh Kinh về “lửa không hề tắt”, “lò lửa” hay “lửa đời đời” (số 1034), nhưng về hình phạt hoả ngục thì nói rõ: “Cực hình chính của hoả ngục là đời đời tách khỏi Thiên Chúa” (số 1035).

7. Nhìn chung các văn kiện của Huấn quyền không chỉ khẳng định về sự hiện hữu của hoả ngục, mà còn thêm vài đặc trưng của nó:

– Đời đời: không bao giờ chấm dứt.

– Không ngang nhau: Mỗi người sẽ lãnh nhận hình phạt đáng với tội của mình (Công đồng Lateranô IV năm 1215; Công đồng Lyon II năm 1274).

– Không thay đổi: Không có thuyên giảm hình khổ. (Điều này chưa được định tín).

III. Suy tư thần học

Mỗi lần nói tới hoả ngục, thường câu hỏi đầu tiên được gợi lên là: Lửa hoả ngục như thế nào? Ngoài hình phạt lửa thiêu, còn hình phạt nào nữa không? Liệu có bao giờ nguôi không?

Thế nhưng, dưới khía cạnh triết học và thần học, có nhiều vấn nạn hóc búa hơn liên quan đến chính bản tính Thiên Chúa. Một cách cụ thể, người ta cho rằng hình phạt hoả ngục trái nghịch với sự công bằng, lòng thương xót và quyền năng của Chúa.

– Trái nghịch sự công bằng. Làm thế nào tội phạm chỉ trong chốc lát (tối đa đời người chỉ kéo dài 100 năm) mà hình phạt lại kéo dài đến muôn đời? Không có sự cân xứng giữa tội và hình phạt: Quá khắc nghiệt!

– Trái nghịch lòng thương xót. Nếu Chúa là Cha lân tuất, tại sao Ngài nỡ lòng nào để cho con cái mình phải chịu cực hình lâu dài như vậy? Nếu phạt cho nó chừa cải thì phải nương tay chứ?

– Trái ngược với lòng nhân lành. Nếu Chúa muốn dựng nên con người để nó được hạnh phúc, thì tại sao lại dựng nên kẻ tội lỗi? Thà đừng dựng nên nó còn hơn!

– Trái ngược với quyền năng vô biên của Chúa. Chúa có thể làm hết mọi sự: sao Chúa không uốn mềm ý chí người tội lỗi để họ từ bỏ tính ngoan cố và trở về với Chúa?

Chúng ta sẽ cố gắng tìm cách trả lời cho những vấn nạn ấy. Nhưng một lần nữa, chúng ta cần khiêm tốn thú nhận suy tư của chúng ta có giới hạn khi bàn đến sự công bằng và lòng lân tuất của Thiên Chúa: Chúng ta thấy khó dung hoà cả hai, và vì thế chúng ta có khuynh hướng chỉ đề cao, hoặc là công bằng hoặc là lân tuất của Chúa. Dù sao, chúng ta nên nhớ rằng Thánh Kinh khẳng định là “Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1Tm 2,4), chứ không nói ngược lại “Chúa muốn cho hết mọi người phải luận phạt”! Nói cách khác, sự luận phạt nằm ngoài chương trình của Chúa. Một cách tương tự như vậy, Giáo hội tuyên bố long trọng rằng một số linh hồn đang được hưởng nhan Chúa (như trong trường hợp phong thánh), nhưng Giáo hội chưa bao giờ dám tuyên bố cách bất khả ngộ rằng người nào đó đã bị sa hoả ngục (thậm chí không ai dám xác quyết chắc chắn về số phận ông Giuđa Iscariốt).

Trong phần suy tư dưới đây, chúng ta sẽ xếp đặt các câu hỏi chung quanh hai mục chính: 1/ Sự hiện hữu của hoả ngục; 2/ Các hình phạt trong hoả ngục.

A. Sự hiện hữu của hoả ngục

Thiên Chúa là nguồn của sự sống và tình yêu. Ngài tạo dựng mọi sự đều tốt đẹp và trang bị cho con người những phẩm giá cao quý, nhất là sự tự do, để cho nó được quyền chọn lựa và quyết định đón nhận hay chối từ sự sống và tình yêu của Chúa. Được ở bên Chúa, sống trong tình yêu vô biên của Chúa là có tất cả, và đó là thiên đường! Ngài không muốn có hoả ngục, Ngài không đặt ra trước mặt chúng ta thiên đàng và hoả ngục như hai quê hương tương đương với nhau để cho chúng ta tự do lựa chọn một trong hai, như câu đồng dao thường hát rằng: “Thiên đàng hoả ngục đôi quê. Ai khôn thì về ai dại thì sa”.

Hoả ngục không nằm trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa nhưng vẫn hiện hữu. Hoả ngục hiện hữu vì là mặt trái của thiên đàng, giống như mặt trái của một bức tranh thêu. Ở trong Chúa là thiên đàng, mất Chúa là hoả ngục. Niềm tin có Hoả ngục được hình thành sau niềm tin có sự phục sinh.

Nếu Chúa không dựng nên hoả ngục thì tại sao có hoả ngục? Câu trả lời đó là: Bởi con người mà có hoả ngục. Hoả ngục do con người tạo ra!

1. Hoả ngục do con người tạo ra

Khi nói “hoả ngục do con người tạo ra” ta có thể hiểu theo hai nghĩa.

1/ Không thiếu lần con người tạo ra hết mọi thứ hình cụ tra tấn để trả thù những quân thù đã làm khổ mình: “ác giả ác báo” (ăn miếng trả miếng). Xưa chúng đã làm hại ta thế nào thì nay chúng sẽ bị trừng trị đích đáng. Người ta sẵn sàng tình nguyện làm lý hình để trừng trị lũ ác ôn đó! Phải chăng các lời nguyền rủa, chúc dữ không hàm ngụ ý tưởng như vậy sao? Ở đây, chúng ta không hiểu theo nghĩa này.

2/ Hoả ngục do chính con người tự ý lựa chọn cho mình. Nói như thế không có nghĩa là chúng ta theo quan niệm của Nhà Phật, coi Địa ngục hay Thiên đàng cũng chỉ tại Tâm (hễ cái tâm sáng suốt, thiện từ, đạo đức là Thiên đàng; còn tâm mê muội, vạy tà, hung bạo là Địa ngục). Suy tư về Hoả ngục hay Thiên đàng của Kitô giáo cần phải được soi sáng trong đức tin: mất Chúa hay được Chúa.

Để hiểu điều này, ngoài việc gột rửa khỏi não trạng về hoả ngục như một nhà tù được cất lên để giam giữ bọn gian ác, chúng ta cần phải hiểu bản chất của hoả ngục là tình trạng “mất Chúa, xa vắng Chúa”: Đó là hậu quả của tội lỗi. Vì thế ta phải nói rằng Thiên Chúa không “dựng nên” hoả ngục, bởi vì Ngài không “dựng nên” tội lỗi, cũng không thể “dựng nên” sự mất Chúa!

Nguyên nhân của nó hẳn là phát xuất từ phía con người. Thực vậy, theo Tin mừng thánh Gioan (Ga 3,17tt và 12,14tt), sự chết đời đời do chính con người gây ra: Thiên Chúa muốn cứu độ con người, nhưng con người khước từ ơn cứu độ. Con người muốn tự lập, tách ly khỏi Thiên Chúa. Và bởi vì Thiên Chúa là sự sống, cho nên khước từ sự sống tất nhiên dẫn đến cái chết. Đó là lý do vì sao Thánh Kinh nói đến tội dẫn đến cái chết (1Ga 5,16-17: peccatum mortale có lẽ phải dịch là “tội tử vong”, “tội chết người” chứ không phải là “tội trọng”).

Thế nhưng, phải chăng mỗi lần phạm tội là mỗi lần khước từ Thiên Chúa? Con người có thấy Chúa đâu mà khước từ? Còn những kẻ không biết Chúa, người không tin Chúa (vô thần) thì sao?

Chúng ta đừng quên rằng Tân ước nói tới một hình thức khước từ Thiên Chúa khi khước từ con người, hình ảnh của Người. Theo Mt 25,31tt, những kẻ bị luận phạt đã ngạc nhiên vì họ chưa hề gặp gỡ Đức Kitô bao giờ. Và người trả lời rằng mỗi khi họ từ chối không giúp đỡ một người nhỏ nhất của Người là họ đã bỏ rơi chính Người. Vì thế, sự kết án không chỉ dựa trên tiêu chuẩn chấp nhận hay khước từ Thiên Chúa, mà còn dựa trên thái độ xử sự đối với con người là hình ảnh Thiên Chúa nữa.

Do đó, sự chết đời đời là một thực trạng do con người gây ra khi phạm tội. Thực vậy, điều không thể chối cãi là có những sự xấu, những bất công, bất chính tồn tại trên đời này. Ai gây ra những điều đó? Ai là chủ thể chịu trách nhiệm? Chúng ta không thể nào quy tội cho Chúa được. Chủ thể của chúng là những con người đã muốn cư xử và hành động mà không đếm xỉa đến Chúa. Lịch sử cho thấy rằng những người ấy quyết tâm chà đạp quyền lợi những người khác: Họ dùng vũ lực để thủ tiêu những kẻ mà lẽ ra họ phải đối xử như là anh chị em của mình.

Tóm lại, sở dĩ có hoả ngục là vì con người lạm dụng tự do của mình, khi sử dụng khả năng mà Chúa ban để khước từ Thiên Chúa. Thiên Chúa tôn trọng con người, Ngài muốn cứu vớt họ. Tuy nhiên, Thiên Chúa không muốn áp đặt ơn cứu rỗi[16]: Ân nghĩa mà áp đặt thì còn chi là ơn với nghĩa? Yêu mà bị cưỡng ép thì còn gì là tình là thương? Đây là sự “rủi ro” mà Thiên Chúa chấp nhận khi ban cho con người sự tự do, thậm chí tự do khước từ chính Chúa!

2. Tính cách vĩnh viễn của hoả ngục

Có lẽ lý trí chúng ta dễ chấp nhận cho quân gian ác xuống hoả ngục. Tuy nhiên, khi nghĩ đến tính cách vĩnh cửu của hình phạt, chúng ta lại thấy tính cách bất công của nó.

Trong lịch sử thần học, đã có ít nhất hai giả thuyết được đưa ra để giải gỡ những vấn nạn: Thuyết hoàn nguyên và thuyết hủy diệt.

a) Thuyết hoàn nguyên

Thuyết hoàn nguyên (apocatastasis) có từ thời ông Origene. Theo đó, sau một thời kỳ đền tội, các tội nhân (và thậm chí cả ma quỷ) sẽ được giải thoát. Thuyết này có lợi điểm là dung hoà được sự công bình của Thiên Chúa với lòng nhân lành của Ngài: Sau hết, tất cả mọi thọ tạo sẽ được cứu rỗi. Tuy nhiên, nguy cơ của thuyết này là khiến cho con người mất hết trách nhiệm. Con người cuối cùng chỉ là một con múa rối (robot): dù có múa máy quay cuồng cách mấy đi nữa, rốt cuộc Chúa vẫn xếp đặt để mọi sự kết thúc êm đẹp! Tất cả đều được Chúa tiền định để được cứu rỗi! Nhưng không thể nói ngược lại là ai xuống hoả ngục là do tiền định. Không, Thiên Chúa không tiền định cho ai xuống hoả ngục (x. GLHTCG 1037).

b) Thuyết hủy diệt

Thuyết huỷ diệt (annihilation) đã xuất hiện từ nhóm ngộ giáo Valentiniani (thế kỷ II), theo đó, sự chết đời đời có nghĩa là các tội nhân sẽ bị hủy diệt hoàn toàn và trở về với hư vô. Có lẽ họ dựa trên vào đoạn văn Tân ước, như: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục” (Mt 10,28) hoặc “Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết” (1Cr 15,26).

Thuyết “hủy diệt” không phù hợp với quan niệm nhân học Kitô giáo: Thiên Chúa không rút lại lời đối thoại với con người khi tạo dựng ra nó. Cho dù sự đối thoại với các tội nhân không còn là lời yêu thương nữa, nhưng là lời phán xét.

Dù vậy, các nhà thần học đều thú nhận là còn nhiều vấn nạn không giải đáp nổi, thí dụ:

– Tại sao các tội nhân không thể thay đổi lập trường được nữa? Tại sao họ không ăn năn hối cải sau khi đã bị trừng phạt như vậy? Dĩ nhiên câu hỏi cũng được đặt ra cho các thiên thần.

– Cho dù hình phạt có tính cách vĩnh viễn, nhưng liệu có thể giảm bớt phần nào hình phạt ấy? Lý do đưa ra câu hỏi này là tất cả các tội nhân không phải chịu hình phạt như nhau (dựa theo vài bản văn Tân ước: “Họ sẽ nhận được án nặng hơn” (Lc 20,47) và “Con Người sẽ trả cho mỗi người tùy theo việc làm của họ” (Mt 16, 27; x. Kn 6,7-9; 2 Cr 5,10; Kh 18,7). Có vài tác giả cho rằng các linh hồn trong hoả ngục có thể được giảm hình phạt nhờ lời chuyển cầu của các thánh. Dù vậy Giáo hội giữ im lặng về điểm này. Theo thánh Tôma, cầu nguyện cho các linh hồn trong hoả ngục là điều vô ích (Summa Theologica Suppl., q. 71, a. 5c.), nhưng trên thực tế, chúng ta không biết chắc ai đã “xuống hoả ngục”, cho nên ta vẫn cứ an tâm cầu nguyện cho hết mọi người đã qua đời để họ được hưởng nhờ lòng thương xót Chúa.

B. Bản chất của hình phạt

Khi phân tích các đoạn văn Tân ước nói về số phận những người tội lỗi, chúng ta đã xếp thành hai loại khổ hình: 1/ Sự mất mát Thiên Chúa (tiêu cực), và 2/ Những đau đớn cực hình (tích cực).

Trong lịch sử thần học, người ta cũng phân biệt ra hai loại hình phạt: poena damni (hình phạt đoạ đày) và poena sensus (hình phạt cảm giác). Hình phạt thứ nhất nằm ở chỗ “mất mát” (privatio) hạnh phúc; hình phạt thứ hai là những cực hình gây ra cho cảm giác, cách riêng là do lửa thiêu đốt. Như đã nói, thường thường trí óc chúng ta bị thu hút bởi loại thứ hai hơn là loại thứ nhất, cho dù theo bản chất, loại thứ nhất là chính yếu.

1. Hình phạt đoạ đày

Cốt yếu của hình phạt hoả ngục là sự xa cách Thiên Chúa (x. GLHTCG 1035). Điều này đối với một thọ tạo có nghĩa là cuộc đời trở nên vô vị vô nghĩa, bởi vì con người tự bản tính hướng về Thiên Chúa như cùng đích và hạnh phúc của mình.

Khi còn sống ở trên đời này, chúng ta chưa thể ý thức được thế nào là cuộc sống không có Thiên Chúa, có lẽ bởi vì chúng ta còn bị quyến rũ bởi các thọ tạo. Nhưng chỉ khi nào bước sang thế giới bên kia, chúng ta phải đối diện trực tiếp với một mình Thiên Chúa, lúc ấy ta mới thấy sự trơ trọi của một kẻ không có Thiên Chúa: chỉ còn hư vô, trống rỗng.

Mặt khác, đây chính là sự giằng co nội tại của hình phạt trong hoả ngục: một đàng con người bị xa cách Chúa, đàng khác, con người luôn hướng về hạnh phúc tuyệt đối. Nói rõ hơn, đó là tình trạng mâu thuẫn trong nội tại: tội nhân vừa ghét vừa mong Chúa[17].

Trên thiên đàng, các phúc nhân không những thông hiệp với Thiên Chúa Ba ngôi, nhưng còn thông hiệp với nhau (communio sanctorum). Ngược lại, các tội nhân mất sự thông hiệp với Thiên Chúa, cho nên cũng mất thông hiệp với tha nhân. Đôi lúc để bông đùa, có người thích xuống hoả ngục vì có bầu có bạn vui nhộn hơn là ở trên thiên đàng nghiêm trang chầu Cha! Nhưng qua những dữ liệu Thánh Kinh và thần học, chúng ta thấy trong hoả ngục không có sự hoà hợp! Đó là nơi “khóc lóc nghiến răng”, nghĩa là không ai hiểu ai, không thể nào thông thương với nhau được. Vì thế ta hiểu được câu nói của triết gia Jean Paul Sartre (Huis-clos): “Hỏa ngục chính là tha nhân”!

Đối tượng của niềm hy vọng là đạt được hạnh phúc tuyệt đối. Nhưng tội nhân trong hoả ngục không bao giờ trông mong đạt được điều đó. Trong tác phẩm Divina Commedia, thi hào Dante (Italia) đã viết rằng trên cửa dẫn vào hoả ngục có tấm bảng hiệu “Hãy bỏ lại mọi niềm hy vọng, hỡi kẻ đang bước vào!” (“Lasciate ogni speranza o voi che entrate”, III,9): Đây là khổ hình nặng nhất của hoả ngục.

 2. Hình phạt cảm quan

Khi bàn về hình phạt cảm quan, người ta thường tán rộng những đau đớn mà lửa hoả ngục gây ra: bực dọc, rên siết, nóng bức, vv. Điều gây thắc mắc cho các nhà thần học không phải chỉ là tìm hiểu ý nghĩa của các hình ảnh dùng trong Thánh Kinh (lửa, khóc lóc, nghiến răng, dòi bọ, vv), nhưng là làm sao giải thích được linh hồn thiêng liêng lại có thể bị “lửa” vật chất thiêu đốt? Phải chăng ta nên hiểu lửa theo nghĩa bóng như ông Origene đã làm?

Thánh Tôma Aquinô đã lưu ý rằng ta đừng nên quan niệm hai thứ hình phạt khác biệt nhau để rồi tranh luận xem cái gì chính cái gì phụ. Theo thánh nhân, đây chỉ là hai khía cạnh của một thực tại, do hậu quả của tội lỗi. Khi phạm tội, chúng ta quay lưng với Thiên Chúa và trở về với thọ tạo (aversio a Deo, conversio ad creaturam)[18]. Hoả ngục là hệ luận của thái độ đó: vì quay lưng với Thiên Chúa cho nên ta mất Chúa; vì trở về với thọ tạo cho nên ta trở nên nô lệ chúng[19]. Các mối tương quan căn bản bị đổ vỡ trầm trọng:

– Các tội nhân trong hoả ngục không thể sống hoà hợp với nhau.

– Với chính mình, họ cũng thấy thiếu hoà hợp trong nội tại bản thân và thân xác của họ không rực rỡ vinh quang như các phúc nhân.

– Với thế giới vật chất, các tội nhân không cảm thấy “môi trường thân hữu”. Con người không còn làm chủ thế giới, nhưng trở nên nô lệ cho nó. Thế giới trở nên thù địch, “tù ngục” đối với họ. Hiểu như vậy, Charles Journet đề nghị đổi danh xưng từ “poena sensus” (hình phạt giác cảm) thành “poena cosmica” (hình phạt vũ trụ)[20].

Quan niệm bình dân cho rằng hoả ngục ở dưới lòng đất (địa ngục). Sự hình dung này không có gì khó hiểu: nhiệt độ dưới lòng đất nóng hơn trên mặt địa cầu. Những ai sống gần núi lửa có thể chứng nghiệm điều đó. Tuy vậy, với các tín hữu tò mò muốn biết hoả ngục ở chỗ nào, thánh Gioan Kim Khẩu trả lời: “Anh chị em đừng đi thăm dò xem hoả ngục ở chỗ nào; tốt hơn là nên tránh càng xa càng tốt”[21].

C. Những vấn đề mới

Chúng ta tin có hoả ngục chứ không phải chỉ vì thuận lý. Thoạt tiên, việc chấp nhận hoả ngục xem ra không có gì khó khăn, bởi vì chúng ta cần có hình phạt để trừng trị những quân bất lương độc ác. Thế nhưng, chợt nghĩ đến số phận rủi ro của mình (lỡ mình phải xuống hoả ngục thì sao), chúng ta lại không muốn cho nó tồn tại nữa.

Thánh Catarina Siena cũng muốn đóng cửa hoả ngục, không phải vì tính toán lợi hại như chúng ta, nhưng vì cảm thông với các tội nhân. Người đã có lần than thở:

“Lạy Chúa, làm sao con có thể an lòng khi còn có một người, được dựng nên cũng như con đây, giống hình ảnh Chúa, mà lại bị trầm luân hoặc thoát khỏi tay Chúa? Con không muốn dù chỉ một người trong số anh chị em con, là những thân nhân của con do bản tính và do ân sủng, lại phải thiệt mất… Nếu Chúa chân thật và lân tuất cho phép, con muốn phá hủy hoả ngục, hoặc ít là từ nay trở đi, không còn linh hồn nào xuống dưới đó nữa. Miễn là con được kết hợp với Chúa nhờ tình yêu, con mong được đặt ở cửa miệng hoả ngục để bịt nó lại ngõ hầu không ai có thể vào đó được nữa. Như vậy, con mong rằng hết mọi người sẽ được cứu rỗi”[22].

Vài nhà thần học đưa ra giả thuyết khác. Hoả ngục vẫn có đấy, nhưng có lẽ trống rỗng, vắng người vãng lai. Đó là ý kiến của cha Hans Urs von Balthasar, Dare We Hope ‘That all men be saved”, with a short discourse on hell, apokatastasis, universal reconciliation, San Francisco 1988.

Cha Jean Hervé Nicolas O.P.[23] không dám đi xa như vậy. Tuy nhiên, cha muốn sửa lại quan niệm của nhóm Janseniste dựa theo lời Tin mừng “kẻ gọi thì nhiều, kẻ chọn thì ít” (Mt 22,14; x. Mt 20,16) cho rằng: số người xuống hỏa ngục đông hơn số người lên thiên đàng. Tuy không điều tra về số người xuống hoả ngục, nhưng cha Nicolas thú nhận rằng mình không thể chấp nhận lý luận của thánh Tôma, theo đó, “trong số những người có thể hư mất, cần phải có vài người thực sự hư mất” (Dans une multitude d’êtres capables de défaillir il est nécessaire que certains défaillent)[24]. Tình yêu của Thiên Chúa không bị ràng buộc bởi định luật đó.

Kết luận

1. Chúng ta đã đặt tựa đề cho chương trước là “sự sống vĩnh cửu”. Sự sống được hiểu theo nghĩa sung mãn của nó là đời sống thần linh, chứ không phải chỉ là sự sống thể lý (trường sinh bất tử). Một cách tương tự, tựa đề của chương này là “sự chết đời đời”. Chúng ta không nên hiểu về sự chết thể lý (các tội nhân trong hoả ngục vẫn “hiện hữu” chứ không bị tiêu diệt, không trở về hư vô), nhưng về “sự chết siêu nhiên”: Họ không được thông hiệp với Thiên Chúa hằng sống.

2. Cái chết vĩnh viễn là một hệ luận của tội lỗi. Khi phạm tội, con người tự ý lìa xa Thiên Chúa để khẳng định sự tự do của mình. Con người đã tự ý chọn lựa con đường “xuống hoả ngục”, chứ không phải là “bị Chúa đày” xuống hoả ngục. Chúng ta đã có dịp nói qua điều này khi bàn về sự phán xét.

3. Khi bàn về thiên đàng và hoả ngục, chúng ta nên làm chủ trí tưởng tượng về những lạc thú hoặc hình phạt, bởi vì những hình ảnh này hầu như chỉ do bản năng chúng ta phóng dọi ra, chứ không phù hợp với sự thực. Ở đầu chương này, chúng ta đã trích dẫn một số hình khổ trong địa ngục theo quan điểm Phật giáo bình dân. Tuy nhiên, khách quan mà nói, nhiều trường phái Phật giáo không chấp nhận quan điểm đó. Theo họ, thiên đàng và địa ngục ở ngay trong chính thâm tâm của ta. Một “dụ ngôn” sau đây cho thấy tính cách “Tin mừng” của quan niệm về thiên đàng và hoả ngục. Một người kia được dẫn vào tham quan hoả ngục. Trái với những điều ông ta vẫn nghe trong sách vở, ở đây không có hình cụ tra tấn, mà chỉ thấy một bữa tiệc thịnh soạn, với đủ món cao lương mỹ vị. Duy có điều là các thực khách phải cầm đôi đũa rất dài, và vì thế không tài nào gắp thức ăn vào miệng được. Họ đâm ra tức tối, la ó om sòm, chửi bới lẫn nhau. Kế đó, người khách được dẫn sang chỗ mang tên là thiên đàng: cũng một phòng ăn, với từng ấy món và cũng với những đôi đũa dài thòng. Khác một điều là các thực khách gắp và đút cho người đối diện, vì thế mọi người đều ăn uống thỏa thuê.

4. Khi bàn về hỏa ngục, Sách GLHTCG (số 1036) rút ra hai hệ luận quan trọng cho việc sống đạo: a) Đạo lý về hoả ngục là lời mời gọi hãy sử dụng tự do và trách nhiệm cách nghiêm túc, đối chiếu với số phận đời đời; b) Đó cũng là lời mời gọi hãy hoán cải, chọn cửa hẹp để vào cõi sống.

5. Đoạn văn của thánh Catarina Siena đã trưng dẫn cũng có thể gây ra một ấn tượng khác nữa: Chúng ta phải cố gắng “đóng cửa hoả ngục”, qua việc cầu nguyện cho các tội nhân được ở trở lại cùng Chúa. Kể cả chúng ta nữa, chúng ta cũng xin Chúa thương “giữ gìn chúng con khỏi sa hoả ngục”. Chúng ta có quyền tin tưởng nơi tình thương lân tuất của Chúa, Đấng muốn cho tội nhân trở lại để được cứu rỗi. Chúng ta cũng tin tưởng nơi Đức Kitô, Đấng đã chết để chuộc tội cho chúng ta: những công trạng của Người có giá trị xóa bỏ hết mọi tội lỗi trần gian. Chúng ta cũng tin tưởng nơi lời chuyển cầu của Đức Trinh nữ Maria và các thánh.

6. Trong lịch sử tu đức học, chúng ta thấy có những vị thánh chủ trương sống phó mặc (holy indifference) cách tuyệt đối đến nỗi giả như Chúa bắt xuống hoả ngục thì họ cũng sẵn sàng xuống! Thiết tưởng có lẽ các vị đã quan niệm không chính xác về “hoả ngục”, nghĩa là họ chỉ chú trọng đến hình phạt bị thiêu đốt trong lửa chứ không nghĩ rằng bản tính của hoả ngục cốt ở sự xa cách Thiên Chúa! Đời nào mà Chúa lại muốn xua đuổi các tôi trung của Ngài !

Để minh hoạ, thiết tưởng nên trưng thêm mẫu gương của một tín đồ Hồi giáo, bà Rabia al-Adawiyya (713-801), được mệnh danh là “thi sĩ của tình yêu”. Bà chủ trương phải dành tình yêu trong trắng cho Thiên Chúa: “Ta phải yêu mến Chúa bởi vì Ngài là Sự Thiện tuyệt đối, chứ không phải vì trông mong được Ngài ban thưởng. Nếu ai phục vụ để được hưởng thiên đàng thì chỉ là một kẻ làm thuê mà thôi”. Bà đã cầu nguyện thế này: “Lạy Chúa, nếu con tôn thờ Chúa vì sợ hoả ngục thì xin đốt con trong lửa đó. Nếu con tôn thờ Chúa vì muốn lên thiên đàng thì xin đóng cửa thiên đàng lại. Còn nếu như con tôn thờ Chúa vì Chúa, thì xin đừng ngăn cản con được nhìn thấy Chúa”. Dựa theo lời nguyện đó, người ta kể lại một giai thoại về bà như sau: “Một bữa kia, một đám thanh niên thấy cô Rabia chạy nhanh, một tay cầm đuốc cháy, tay kia xách thùng nước. Họ hỏi: Cô đi đâu vậy? Cô đáp: Tôi chạy lên thiên đàng để đốt nó, và chạy xuống hoả ngục để dập tắt ngọn lửa. Có thế người ta mới phụng thờ Chúa vì lòng mến Chúa chứ không vì mong lên thiên đàng hay vì sợ hoả ngục”. Nên biết là vào thời Trung cổ, các sử gia Kitô giáo đã viết lại tiểu sử của bà và cho bà trở lại đạo Công giáo với cái tên là Dame Caritée.

Trích từ Lm Giuse Phan Tấn Thành – Nt. Maria Đinh Thị Sáng, Cánh chung học, Thành phố Hồ Chí Minh 2014, chương VIII, tr. 249-279.

_________________________

[1]Trong văn chương Phật giáo, Địa ngục là các ngục ở dưới đất, được chia làm 10 vùng (điện), mỗi vùng ở dưới quyền cai quản của một Vương (họp thành Thập Điện Diêm Vương), có toà án riêng, những trại giam và hình phạt đặc thù. Vị thống lãnh tối cao là Phong Đô Đại đế. Vùng thứ mười không có ngục, bởi vì chỉ lo việc chuyển kiếp, phân phối các âm hồn đi đầu thai tùy theo phúc tội. Tùy theo thiện ác, kẻ đi đầu thai làm người sang, kẻ làm người hèn, kẻ làm súc vật … (Xem Toan Ánh, Nếp cũ. Tín ngưỡng Vit Nam, quyển thượng, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 1992, tr. 339-346).

[2] Kinh nguyện Tạơn IV: “Giờ đây cử hành lễ tưởng niệm công trình cứu chuộc, chúng con kính nhớĐức Kitô đã chịu chết và xuống cõi âm ty, chúng con tuyên xưng Người sống lại và lên trời ngự bên hữu Cha …”

[3] Trong các thư của thánh Phaolô, có ba danh mục những tội đưa tới sự loại trừ khỏi Nước Chúa: 1Cr 6,9-10; Gl 5,19-20; Ep 5,4-5.

[4]Basiliô, Bài Ging v Tv 28, 8: PG 29, 300.

[5] Xem Origene, Contra Celsum 5,15; 6,26: PG 11,1202.1331; Peri Archon 2,10, 6: PG 11, 238-239.

[6] Apokatastasis: hoàn nguyên, phục hồi. Cựu ước dùng từ này để nói đến việc dân tộc Israel được Thiên Chúa cho hồi phục lại đất đai đã bị mất khi đi lưu đày. Tân ước (Cv 3,21 apokatastasis panton; x. Cv 1,6) thì nói đến sự phục hồi vạn vật, có lẽ dựa theo Ml 3,23 (theo bản LXX); x. Mc 9,12; Mt 17,11. Ông Origene áp dụng ý tưởng này cho cả các cá nhân nữa: những gì con người đã quyết định vào lúc chết thì có thể sửa đổi vào ngày cánh chung.

[7]Xem Origene, Peri Archon 1,6,1,3; 3,6,6: PG 11,165.169.338

[8] Xem Origene, Peri Archon, Prol. ; In Mattheum tractatus 34, n.72.

[9] Origene, Peri Archon 1,6,1: PG 11,165.

[10]Xem Grêgôriô Nazianzênô, Orat. catech. XXVI: PG 45,69.

[11] Trong số những giáo phụ bên Tây phương chịu ảnh hưởng của Origene ta có thể kể đến thánh Giêrônimô và Ambrosiô. Lúc đầu, thánh Giêrônimô (cho đến năm 394), rất ngưỡng mộ và bênh vực Origene; nhưng sau đó lại thay đổi lập trường. Trong tác phẩm viết năm 396, Giêrônimô viết: “Nếu tất cả mọi người đều phải được đối xử công bình, và do nhân đức hoặc tội lỗi mà họ được tôn lên hay giáng xuống; thế rồi sau một thời gian mấy thế kỷ xảy ra cuộc “hoàn nguyên” thì hết mọi người sẽ được xếp ngang hàng với nhau. Nếu như vậy, thì thử hỏi còn chi khác biệt giữa một trinh nữ với một gái điếm? Giữa Đức Mẹ Chúa Giêsu (nguyên việc khẳng định đã là một tội trọng rồi) và những kỹ nữ? Liệu ma quỷ và thiên sứ Gabriel đều sẽ được thừa hưởng Nước Trời hay sao?” (In Joannis evangelium 3,6: PL 25,11.52). Thế nhưng, sau đó, trong sách “Đối thoại chống nhóm Pêlagiô” 1,28: PL 23,522) viết năm 415, thánh Giêrônimô lại nghĩ rằng mọi Kitô hữu, dù chết trong tội, cũng sẽ được cứu rỗi sau một cuộc đền tội (x. J. O’connell, The eschatology of Saint Jerome, Mundelein 1948). Thánh Ambrôsiô cũng ủng hộ Origene (x. De Jacob. 6, 26 : PL 14,609).

[12]Xem Peri Archon 2,10,4: PG 11,236.

[13] Xem In Matth. 23,7.8: PG 57,317.

[14]Xem De Civ. Dei  21,3,1: PL 41,710.

[15]Xem De Civ. Dei 31,17-27: PL 41,731-732. G. Bardy, I Padri della Chiesa di fronte ai problemi posti dall’inferno, trong: AA.VV, L’inferno, Morcelliana Brescia 1953, tr. 105-168.

[16] Xem ĐGH Gioan Phaolô II, Thông điệp Dominum et vivificantem, (18/5/1986), số 46. Khi giải thích lý do vì sao Tân ước nói rằng bất cứ tội nào cũng có thể tha được, ngoại trừ tội lộng ngôn phạm đến Thánh Linh (Mt 12,31; Mc 3,28; Lc 12,10), ngài viết: Thực ra đây không phải là một tội chống lại Thánh Linh, cho bằng khước từ không đón nhận ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban qua Thánh Linh. Nếu ai đã khước từơn cứu độ thì có cách nào cứu được nữa? Xem thêm GLHTCG số 1864.

[17]Xem thêm Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologica, Suppl. q. 98 a.5;q. 90 a.3, ad 3m; II-II q. 34, a.1.

[18] Xem GLHTCG số 1855. Ngược lại, sự thống hối có nghĩa là “quay lưng với thọ tạo và trở về với Thiên Chúa” (x. GLHTCG số 1431).

[19] Xem Summa Theologica, I-II, q. 87, a. 4.

[20] Xem Charles Journet, Le mal. Essai theologique, Bruges, 19622, tr. 224.

[21]In Rom. Sermon 31,5: PG 60, 674.

[22] Vita di S.Caterina Siena scritta dal B.Raimondo di Capua, tradotta dal P. G. Tinagli, Siena 1982, tr. 27.

[23]Xem J.H. Nicolas, Synthèse Dogmatique, Universitaires, Fribourg 19862, tr. 619.

[24] Summa Theologica I, q. 48,a. 2,3m; III Contra Gentes, 71,94; De Veritate,  q. 5,a. 4, 4m.

Comments are closed.