Thánh Gia Thịnh Cát-ta-nê-da-gia

0

Ngày 7 tháng 11

THÁNH GIA THỊNH CÁT-TA-NÊ-DA GIA

Linh mục, tử đạo (1743 – 1773)

Tiểu sử                                                                                                                     

 Cậu Gia Thịnh Cát-ta-nê-đa sinh ngày 13-1-1743 tại Gia-ti-va, thuộc giáo phận Va-len-xi-a, Tây Ban Nha. Cậu đã sớm có một tâm hồn cao quí là hiến dâng cuộc đời phục vụ Chúa và truyền giảng Tin mừng cho thế giới. Để thực hiện lý tưởng cao cả đó, cậu đã gia nhập dòng Đa Minh tại tu viện thánh Phi-líp-phê ở Va-len-xi-a.

Lòng nhiệt thành truyền giáo đã đưa thầy Gia đến Phi-lip-pin năm 1762. Sau khi thụ phong linh mục, cha tình nguyện đi loan báo Tin mừng ở Trung Quốc. Dù Trung Quốc đang trong tình trạng cấm cách, cha đã đến Trung Quốc tháng 4-1766. Sau 3 năm nhiệt thành phục vụ, ngày 18-7-1769, cha bị bắt giam ở Phúc Kiến (Trung Quốc) và bị trục xuất về Ma-cao.

Không nản chí và cũng không chùn bước, tại Ma-cao, khi gặp hai cha Dòng khác từ Ma-ni-la tới để đi Việt Nam, cha Gia liền xin bề trên cho phép đồng hành sang Việt Nam. Ngày 23-2-1770, cha Gia ở lại Trung Linh học tiếng và phong tục Việt trong sáu tháng, sau đó được gởi đi truyền giáo ở khi Lai Ôn, Kẻ Diền, phủ Thái Ninh.

Ba năm truyền giáo đã trôi qua, ngày 12-7-1773, sau khi ban bí tích cho một bệnh nhân ở Lai Ôn, cha Gia về kẻ Diền thì lọt vào vòng vây của quan phủ Thần Khê, cha bị giải nộp lên quan trấn thủ Sơn Nam ở Hưng Yên và cha bị tống giam vào ngục.

Giữa tháng 10-1773, cha hân hoan gặp một tù nhân mới, linh mục Vinh Sơn Liêm bị bắt vào ngày 2-10 tại Lương Đống. Thật là một niềm vui lớn, hai anh em cùng dòng từ nay sẽ đồng hành với nhau trong ngục tù cũng như trong vinh quang tử đạo. Ngày 20-10, quan trấn truyền đóng gông hai cha có ghi hai chữ “Hoa Lang Đạo Sư”, rồi trao lại cho quan phủ Thần Khê áp giải lên Thăng Long.

Tại kinh thành Thăng Long, hai linh mục có cơ hội trao đổi về giáo lý với các quan. Cuộc tranh luận đáng ghi nhớ nhất là “Hội Đồng Tứ Giáo”, giữa đại diện bốn tôn giáo: Khổng giáo, Lão giáo, Phật giáo và Thiên Chúa giáo. Cha Gia với những kinh nghiệm giảng đạo ở Phúc Kiến, đã thành thạo trưng dẫn những điển tích châm ngôn của Trung Quốc, khiến viên quan tổ chức phải hết sức khâm phục.

Nhưng số phận của hai cha đã được định đoạt sẵn trong chiếu chỉ của phủ chúa. Ngày 4-11-1773, sau một buổi nghị án, Chúa Trịnh Sâm tuyên án trảm quyết cả hai vị.

Ngày 7-11-1773, quan quân điệu hai vị tông đồ đến pháp trường Đồng Mơ ngoài thành Thăng Long thi hành bản án. Trên đường, hai vị cùng thầm thĩ nguyện xin Chúa thứ tha mọi lỗi lầm, đọc Kinh Tin Kính và hát kinh Lạy Nữ Vương (Salve Regina). Thi hài hai vị tử đạo được an táng trọng thể ở nhà thờ Trung Linh.

Ngày 20-5-1906, Đức Giáo hoàng Pi-ô X đã suy tôn hai chứng nhân anh hùng lên bậc chân phước. Ngày 19-6-1988, Đức Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II đã nâng các ngài lên hàng hiển thánh. 

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, Chúa đã ban cho thánh Gia Thịnh Cát-ta-nê-đa Gia lòng can đảm để trung thành với thập giá của Con Chúa cho dù phải đổ máu đào. Nhờ lời cầu thay nguyện giúp của người, xin cho chúng con biết loan truyền tình yêu Chúa cho anh chị em chúng con, và tin chắc rằng họ cũng được mời gọi trở nên con cái của Người. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô con Chúa là Thiên Chúa và là Chúa chúng con, Người hằng sống và hiển trị cùng Chúa Cha hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen. 

(Trích từ tác phẩm “Đám mây nhân chứng” của các anh em Đa Minh) 

Comments are closed.