Thánh Phan Sinh Capila và các anh em tử đạo

0

Ngày 06 tháng 11

THÁNH PHAN SINH CA-PI-LA (FRANCISCO DE CAPILLAS)

CHÂN PHƯỚC AN PHONG NA-VA-RẾT (ALFONSO NAVARRETE)

Giám mục và các anh em tử đạo – Lễ nhớ (1648)

Tiểu sử

Đức Giám mục Phan Sinh Ca-pi-la là vị tử đạo tiên khởi ở Trung Quốc.

Chân phước Phan Sinh Ca-pi-la là người Tây Ban Nha sinh năm 1608 ở Ban-kê-rin, Cam-pô, thuộc giáo phận Pa-len-xi-a. Người lãnh tu phục và học ở tu viện thánh Phao-lô nổi tiếng ở Van-la-đô-lic. Ở đây, người nghe nói nhiều về những sứ vụ truyền giáo mới ở vùng Viễn Đông. Sau khi lãnh nhận chức phó tế, người xin được sang Phi-lip-pin để hoàn tất chương trình đào tạo và lãnh tác vụ Linh mục tại Ma-ni-la. Người đã rao giảng lời Chúa suốt 10 năm tại giáo phận Ca-da-gan. Điểm nổi bật trong cuộc đời của người là việc ăn chay trường kết hợp với tinh thần sám hối. Vì lòng thương yêu những bệnh nhân nên người xin phục vụ trong bệnh viện do các tu sĩ đảm trách.

Vào năm 1642, cùng với cha Phan Sinh Đi-át, người được cử đi truyền giáo tại Trung Quốc. Sau khi cấp tốc học tiếng Hoa, người đi ra giảng Phúc âm ở tỉnh Phúc Kiến và đã thu hút được nhiều tâm hồn hoán cải. Trước sự việc đó, quan lại ở vùng Phô-gan bị kích động và bắt đầu hãm hại các Ki-tô hữu. Vụ việc được giàn xếp theo chiều hướng có lợi cho các Ki-tô hữu, điều này đã kích động cơn giận dữ của giới cầm quyền địa phương. Thế là một cuộc thảm sát tàn bạo xảy ra sau đó. Bị bắt giữ và giải đi từ tòa án này đến tòa án khác, song chân phước Phan Sinh Ca-pi-la với lòng trung kiên đã chịu những khổ hình tàn bạo, khổ hình kẹp chân mà trong đó hai mắt cá chân bị xiết giữa hai tấm ván cho đến khi xương bị trật ra, khổ hình tra tấn bằng roi. Sau đó, dù bị giam trong tù, người vẫn tiếp tục sứ vụ tông đồ của mình bên các bạn tù, người đã hoán cải những giáo dân bị án tử và những người ngoại giáo phạm pháp, đưa họ trở về với Chúa Ki-tô Giê-su. Khi người ta đến tìm bắt người để đưa đi hành hình, họ thấy người đang cầu nguyện và suy gẫm những mầu nhiệm Thương khó qua việc lần chuỗi kinh Mân côi. Người bị xử trảm vào ngày 15 tháng giêng năm 1648.

Các Ki-tô hữu chôn táng người với lòng ngậm ngùi thương nhớ, nhưng trong một cuộc bách hại về sau, những kẻ ngoại giáo đã khai quật và quăng hài cốt của người tứ tán. Các anh em tu sĩ chỉ có thể bảo toàn cái sọ của người. Đầu tiên họ mang chiếc sọ ấy đến Ma-ni-la, sau đó đến tu viện thánh Phao-lô ở Va-la-đô-lic để bảo quản. Đức Pi-ô X đã tuyên phong người vào hàng ngũ các thánh tử đạo năm 1909.

Năm 1867, Đức Pi-ô IX suy tôn lên bậc chân phước cho 205 vị chứng nhân được lãnh phúc tử đạo trong cuộc bách hại khủng khiếp ở Nhật Bản suốt một phần tư đầu thế kỷ XVII và hầu như hoàn toàn giải trừ đạo Công giáo trong suốt hai thế kỷ. Một số tu sĩ thuộc dòng Tên, dòng Phan Sinh, dòng Âu Tinh và dòng Đa Minh cũng đã lãnh phúc tử đạo tại đây. Trong số này, hơn một nửa là tu sĩ Đa Minh cùng các Linh mục và các giáo dân thuộc dòng Ba Đa Minh.

Năm 1617, người đầu tiên chịu phúc tử đạo là tu sĩ An Phong Na-va-rết người thành Cát-ti-nê thuộc Tây Ban Nha. Khi ấy người đang giữ chức bề trên phu tỉnh, vì giàu lòng bác ái nên người được tặng một biệt danh là “Vinh-sơn Phao-lô” của Nhật Bản. Thật vậy, cùng với một tu sĩ dòng Âu Tinh, người thành lập ở Na-ga-xa-ki những hội từ thiện để săn sóc các bệnh nhân và những trẻ em bị bỏ rơi. Người bị bắt và bị xử trảm ở Ô-mua-ra, nơi đây các ngài đã rao giảng và củng cố lòng can đảm cho các Ki-tô hữu đang chịu bách hại.

Tháng 12 năm 1618, chính phủ thành phố Na-ga-xa-ki chặn bắt nhiều nhà truyền giáo, trong số đó có cha An-giê Ô-xu-xi người Ý, và cha An-giê Đa Minh, người Tây Ban Nha, cả hai đều thuộc tỉnh dòng Phi-lip-pin. Các ngài vừa mới đến Nhật Bản vào tháng tám thì đã bị bắt; đồng thời chính phủ còn bắt cả những người chủ nhà và những người phụ giúp các ngài. Cha An-giê đã chết rũ tù vào tháng 3 năm sau.

Tháng 5 năm 1619, đến lượt cha Phan Sinh Mô-ra-lê, bề trên giám tỉnh và cha An Phong Mê-na, người sáng lập nên những hội truyền giáo năng nổ ở Nhật, hai vị là người thành Cát-ti-lê thuộc Tây Ban Nha đã làm việc ở Nhật từ năm 1602 đều bị bắt giữ. Cùng với một số Ki-tô hữu đã cho các ngài ẩn náu, họ bị giải đến nhà tù Ô-mua-ra. Kiểu nhà tù này là một chiếc lồng bằng tre đặt ở trên đỉnh một ngọn đồi và phơi ra giữa trời, chiếc lồng quá chật đến nỗi nhiều tù nhân không thể tìm được chỗ ngả lưng vào ban đêm.

Tháng 8 năm 1620, những tên cướp biển người Anh chiếm một chiếc tàu. Trên tàu này có một tu sĩ dòng Âu Tinh và một tu sĩ dòng Đa Minh là cha Lu-y Phơ-lo-rết, người vùng Phơ-la-man, đã lãnh tu phục ở Mê-hi-cô, thuộc tỉnh dòng Phi-lip-pin. Những tên cướp giao nộp các ngài cho người Hà Lan. Các ngài bị tra tấn và bị giao cho giới cầm quyền thành phố Na-ga-xa-ki. Ý định vượt ngục của cha Phơ-lo-rết đã không thành. Một năm sau, hai cha và thuyền trưởng Fi-ri-gia-man đã bị thiêu sống; cùng thông chia phúc tử đạo với các ngài có 10 thủy thủ của tàu vốn đều là thành viên hội Mân Côi cũng đã bị xử trảm. Trong đám đông dân chúng chứng kiến cuộc hành quyết, ba tu sĩ dòng Đa Minh và vô số Ki-tô hữu đã cất lên bài thánh thi Ngợi khen (Magnificat) và thánh thi Lạy Thiên Chúa (Te Deum).

Tháng 4 năm 1621, trong một túp lều neo đơn, cảnh sát bắt được cha Gia Thịnh Óoc-pha-nen người thành Va-len-xi-a thuộc Tây Ban Nha, một thầy giảng và một thầy giúp lễ của người. Họ bị bỏ tù ở Na-ga-xa-ki rồi ở Ô-mua-ra. Ngày 17-8, đến lượt cha Giu-se thuộc tu viện thánh Gia Thịnh, người thành Tê-lê-đan, bị bắt cùng với một thầy giảng và những Ki-tô hữu đã che giấu người.

Nhiều người khác đã nối gót họ, trong số đó có tu sĩ Phê-rô Va-két, tu sĩ Lu-i Bê-tran – vị này là cháu của thánh Lu-i Bê-tran – và tu sĩ Đa Minh Cát-ten-lét, họ được mệnh danh là “những người giàu đức hạnh, siêng năng nguyện gẫm và nhiệt tâm với công việc nhà Đức Chúa Trời.” Một trăm người Nhật đã bị bắt ở những thời điềm khác nhau và thuộc các dòng khác nhau. Chín vị đã lãnh tu phục ở bậc tư giáo và ở bậc trợ sĩ theo giúp các linh mục trong việc dạy giáo lý; những vị khác và con cái của họ đều thuộc dòng Ba Đa Minh hoặc thành viên của hội Mân côi.

Ngày 10-9-1622 là ngày diễn ra cuộc đại hành quyết ở thành phố Na-ga-xa-ki, những vị tử đạo bị bắt năm 1597 đã chịu đóng đinh trên một ngọn đồi. Các tu sĩ, thầy dạy giáo lý và một số vị khác bị qui kết là những tội phạm nguy hiểm nên họ bị thiêu sống hoặc xử trảm.

Hai ngày sau, tức là ngày 12 tháng 9, chính phủ Na-ga-xa-ki chuyển giao tất cả những người còn bị giam giữ cho giới cầm quyền ở Ô-mua-ra để thiêu sống họ. Trong đó có cha Tô-ma Giu-ma-ra-ga, một tu sĩ người Tây Ban Nha, đã làm việc ở Nhật từ năm 1602, người đã tổ chức những buổi rước long trọng ở Na-ga-xa-ki vào năm 1614 để gia tăng lòng tin cho những tín hữu bị bách hại. Người bị bắt vào năm 1617 cùng với hai thầy dạy giáo lý người Nhật, hai vị này đã lãnh tu phục dòng Đa Minh và cùng chịu khổ hình với cha Tô-ma Giu-ma-ra-ga.

Đến thế kỷ XIX, khi những nhà truyền giáo tái lập công cuộc rao giảng Tin mừng ở Nhật bản, các ngài nhận thấy các cộng đoàn Ki-tô hữu vẫn nhiệt thành sống niềm tin của họ cách vẹn toàn, mặc dù không có sự trợ giúp của một linh mục nào cả. Trong hoàn cảnh như vậy, chính nhờ việc cầu nguyện bằng chuỗi kinh Mân côi mà họ đã duy trì được đời sống thiêng liêng và củng cố niềm tin thêm lớn mạnh.

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng giàu lòng thương xót, cũng như Chúa đã dùng lời giảng của các chân phước Phan Sinh, An Phong và các bạn tử đạo mà ban cho các dân tộc Viễn Đông nhận biết Con Một Chúa, chúng con tha thiết nài xin Chúa, nhờ lời các ngài cầu thay nguyện giúp, ban cho các dân tộc ấy được can trường giữ vững đức tin. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô con Chúa là Thiên Chúa và là Chúa chúng con, Người hằng sống và hiển trị cùng Chúa Cha hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen. 

(Trích từ tác phẩm “Đám mây nhân chứng” của các anh em Đa Minh)

Comments are closed.